Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
TRƯỜNG ĐH KINH TẾ TP HỒ CHÍ MÍNH
Khoa: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
GV phụ trách: GVC.Sử Đình Thành
Học phần: TÀI CHÍNH CÔNG
Chủ đề bài nghiên cứu:
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
CHỨNG MINH TỪ CÁC QUỐC GIA OECD
Danh sách nhóm số 14 lớp TCDN – CH22:
1) Võ Thị Thúy Diễm (Nhóm trưởng - SĐT: 0909 070 436)
2) Trần Thân Bích Hợp
3) Phan Thị Thanh Kiều
4) Hứa Ngọc Lợi
5) Trần Thị Trang
6) Trương Phú Trí
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
GIỚI THIỆU 1
2. GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 3
3. BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM HIỆN CÓ 6
4. PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ 7
4.1 Dữ liệu và phương pháp: 7
4.2 Kết quả thực nghiệm: 13
4.2.1. Mis-specifying the budget constraint 15
4.3. Thử nghiệm Robustness 18
4.3.1 GDP ban đầu 18
4.3.2 Thay thế những khoảng thời gian 5 năm 18
4.3.3 Ước lượng biến công cụ 20
4.3.4 Phân loại lại các biến tài chính 22
5. KẾT LUẬN 26
định.
Trong mô hình tăng trưởng nội sinh, ngược lại, đầu tư vào vốn vật chất và con
người làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng ổn định, và do đó có phạm vi rộng hơn
trong các mô hình ít nhất là một số yếu tố cơ bản thuế và chi tiêu chính phủ đóng một vai
trò trong quá trình tăng trưởng. Vì những đóng góp tiên phong của Barro (1990), King và
Rebelo (1990) và Lucas (1990), một số nghiên cứu đã mở rộng việc phân tích thuế, chi
1
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
tiêu công và tăng trưởng, thể hiện các điều kiện khác nhau mà theo đó các biến tài chính
có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn (xem, ví dụ, Jones và cộng sự, 1993;. Stokey
và Rebelo, 1995;. Mendoza và cộng sự, 1997)
Nếu lý thuyết là khá rõ ràng, nhưng bằng chứng thực nghiệm thì không phải vậy.
Theo Stokey và Rebelo (1995, trang 519), “ước tính gần đây của sự phát triển tiềm năng
dưới tác động của cải cách mạnh mẽ về thuế khác nhau, khoảng từ 0 đế-8%’'. Trên thực
tế, hầu như không có nghiên cứu đã được thiết kế để kiểm tra các dự đoán của mô hình
tăng trưởng nội sinh đối với cấu trúc của cả thuế và chi tiêu với cách mà chúng ta làm ở
đây ((1996) Devarajan và các cộng sự. làm như vậy với chỉ khía cạnh chi tiêu). Hơn nữa,
vài nhà nghiên cứu đã nhận ra rằng nghiên cứu một phần (ví dụ như những người tập
trung đặc biệt ở một khía cạnh của ngân sách và bỏ qua những phần khác) trải qua những
sai lệch có hệ thống với các tham số ước tính kết hợp với các giả định tài chính tuyệt đối.
Quan điểm này đã được chứng minh bởi Helms (1985), Mofidi cùng với Stone (1990) và
Miller cùng với Russek (1993) cho bộ dữ liệu khác nhau. Chúng tôi khám phá ý nghĩa
của lập luận này với các phương pháp kỹ thuật hồi quy và cho thấy rằng, nếu điều này bị
bỏ qua, những sai số ước tính sự tăng trưởng dưới tác động của các biến tài chính có thể
là đáng kể. Vấn đề này giả định quan trọng hơn là lý thuyết ngày càng trở nên tinh chế
trong dự báo của nó dưới tác động của từng phần của chi tiêu và thuế đối với tăng trưởng.
Trong bài báo này, chúng tôi kiểm tra những dự đoán cụ thể của mô hình tăng
trưởng nội sinh gần đây về chính sách công như là Barro (1990) và Mendoza cùng các
cộng sự (1997), chú ý cẩn thận tránh sai lệch nguồn gốc đã được đề cập. Sử dụng các tiêu
chuẩn đề xuất của các mô hình này để phân loại dữ liệu tài khóa, chúng ta xem xét hiệu
thuộc lập luận trong chức năng sản xuất tư nhân hay không. Nếu có, thì sau đó chúng
được phân loại như chi tiêu sản xuất và do đó có một ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ tăng
trưởng. Nếu không, chúng được phân loại như chi tiêu phi sản xuất và không ảnh hưởng
đến tỷ lệ tăng trưởng ổn định( theo Barro và Sala-i-Martin,1995, trong sự trình bày lý
thuyết rõ ràng).
3
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
Những kết quả này có thể được mở rộng trong nhiều cách khác nhau, ví dụ cho
phép hàng hóa của chính phủ là chi tiêu sản xuất trong thị trường ổn định hơn là thị
trường động ( theo Glomm va Ravikumar, 1994,1997) hoặc đối với các loại thuế khác
nhau là thuế bóp méo ( hay đối với chi tiêu sản xuất) theo các cấp độ khác nhau( theo
Devarajan et al.,1996; Mendoza et al., 1997). Dĩ nhiên có thể có một vài tranh luận về sự
phân loại của những chi tiêu đặc biệt như chi tiêu sản xuất và chi tiêu phi sản xuất, hoặc
thuế bóp méo hoặc thuế không gây bóp méo, và đây là mốc mà chúng ta quay về phần
thực nghiệm.
Những mô hình này dự đoán rằng sự thay đổi trong lập trường doanh thu từ hình
thức thuế gây bóp méo đến hình thức thuế không gây bóp méo có ảnh hưởng hiệu lực
tăng trưởng, trong khi đó sự thay đổi chi tiêu từ chi tiêu sản xuất qua chi tiêu phi sản xuất
là tăng trưởng chậm. Sự tăng lên của thuế không gây bóp méo trong chi tiêu sản xuất
được dự đoán có một tác động tích cực trong tỷ lệ tăng trưởng. Trong khi đó đối với thuế
gây bóp méo hiệu quả tăng trưởng được dự đoán là không rõ ràng. Cuối cùng chi tiêu phi
sản xuất được đánh đổi bởi thuế gây bóp méo có một ảnh hưởng tăng trưởng chậm.
Nhưng một ảnh hưởng bằng 0 được dự đoán nếu thuế không gây bóp méo được sử dụng (
theo Barro, 1990).
Trong nghiên cứu thực nghiệm một đặc điểm riêng biệt của một số tầm quan trọng-
và một đặc điểm mà thường xuyên bị bỏ qua-là tài chính rõ ràng hoặc không rõ ràng của
một sự thay đổi đơn vị trong một yếu tố của ngân sách chính phủ sẽ ảnh hưởng đến hệ số
ước tính. Đặt trong điểm chính thức, gỉa định sự tăng trưởng g
it
trong đất nước I tại thời
nghĩa rằng các điều tra viên phải cẩn thận trong việc lựa chọn một biến bỏ qua trung lập (
ví dự biến nơi lý thuyết yêu cầu y
m
= 0
).
Ngụ ý rằng có thể kiểm tra trên sự khác nhau giữa hai gía trị y , chứ không phải là
mỗi loại giá trị y độc lập, không loại trừ khả năng kiểm tra liệu hai giá trị y có bằng nhau
không. Điều này phù hợp khi lý thuyết cho rằng có nhiều hơn một loại trung tính ( trong
trường hợp này, thuế không gây bóp méo và chi tiêu phi sản xuất) trong trường hợp cả
hai giá trị y được mong đợi bằng 0. Nếu giả thiết bình đẳng không thể dược từ chối, các
tham số ước tính chính xác hơn có thể đạt được bằng cách bỏ qua cả hai giá trị. Nói cách
5
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
khác, thủ tục chính xác nhất là kiểm tra các đặc điểm kỹ thuật hoàn hảo nhất của han chế
ngân sách chính phủ đối với các đặc điểm kỹ thật yếu hơn, cẩn thận bỏ qua các yếu tố mà
lý thuyết cho rằng sẽ có ảnh hưởng không đáng kể. Nếu điều này không được thực hiện,
các biến chi phí bị bỏ qua từ hồi quy và bao gồm chỉ những biến thuế ( theo Mendoza et
al.m 1997), và vì vậy các kết quả sẽ có sự thiên vị bời vì khoản tài chính một phần tiềm
ẩn bởi các yếu tố không trung tính của ngân sách chính phủ. Trong trường hợp trích dẫn,
vì sự tăng lên một đơn vị thuế sẽ một phần tài trợ cho chi phí sản xuất, ước tính tác động
sẽ thiên về 0 ( chúng tôi sẽ trình bày chứng minh điều này sau đó).
3. BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM HIỆN CÓ
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh
tế và những biến tài chính đã có trước mô hình tăng trưởng nội sinh chính sách công đề
cập phía trên, và thay đổi về tập dữ liệu, chất lượng và kỹ thuật kinh tế. Nhiều tài liệu
trước năm 1990 theo từng sự vụ tự nhiên đã cung cấp kết quả tốt nhất nhưng chỉ là kiểm
tra thô về giá trị thực nghiệm của mô hình tăng trưởng nội sinh (cũng như đang chịu
những định kiến đã đề cập từ trước đó) và kết quả là biến đặc biệt.
Theo Kneller và cộng sự (1998), chúng tôi lập bảng nghiên cứu chính và có được
những kết quả quan trọng, phân loại chúng theo biến tài chính trong hàm hồi quy (thuế,
thông tin liên lạc có tác động tích cực đến tăng trưởng, trong khi thuế thu nhập cũng có
khuynh hướng tạo nên một hệ số tiêu cực đáng kể tuy nhiên ít nhất quán về các kết quả
nghiên cứu.
4. PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ
4.1 Dữ liệu và phương pháp:
7
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
Table
1
Bảng 1
Theoretical aggregation of functional
classifications
Kết hợp lý thuyết phân loại
chức năng
Theoretical classification Functional classification Lý thuyết phân loại chức
năng phân loại
Distortionary taxation Taxation on income and profit Thuế thuế
bóp méo
trên thu nhập và lợi nhuận
Social security contributions Đóng góp an sinh xã hội
Taxation on payroll and manpower Thuế trong biên chế và nhân lực
Taxation on property Thuế trên tài sản
Non-distortionary taxation Taxation on domestic
goods and services
Thuế thuế
không gây bóp
méo
đối với hàng hóa và dịch vụ
trong nước
Other revenues Taxation on international trade Các khoản
(unclassified)
Chi phí khác chi phí khác (không phân loại)
Note: functional classifications refer to the
classifications given in the data source
Lưu ý: phân loại chức năng tham khảo các phân loại
được đưa ra trong các nguồn dữ liệu
9
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
Như đã nói ở trên, trong loại của mô hình tăng trưởng nội sinh có liên quan đến
nghiên cứu này, kết quả được thúc đẩy bởi sự phân loại của các biến tài chính vào một
trong bốn loại. Từ đó chúng ta thêm thặng dư ngân sách nhà nước và các khoản thu và
chi phí mà chúng ta phân loại không rõ ràng (chúng ta gọi chúng là những nguồn thu
khác và "chi phí khác). Chúng tôi tổng hợp phân loại chức năng của IMF
dữ liệu tài chính thành bảy loại chính được mô tả trong Bảng 1 và sau đó kiểm tra
nhạy cảm, kết quả để chúng tôi phân loại dữ liệu. Một vấn đề quan trọng là việc phân bổ
các khoản thuế và chi phí, tương ứng bóp méo / không gây bóp méo và sản xuất / loại phi
sản xuất. trong khi tất cả các loại thuế chính được sử dụng trong các nước OECD là bóp
méo trong một số khía cạnh, trong thử nghiệm mô hình tăng trưởng nội sinh sự biến dạng
liên quan là để khuyến khích đầu tư (trong vốn vật chất và / hoặc con người). Sau Barro
(1990), chúng tôi xử lý thu nhập và thuế bất động sản là 'bóp méo' và thuế tiêu dùng (chi
tiêu cơ bản) là "không gây bóp méo ', với lý do sau này không làm giảm việc tái đầu tư,
mặc dù họ có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn lao động / nghỉ ngơi. Tất nhiên, trong nhiều
mô hình phức tạp (như Mendoza et al., 1997) thuế tiêu thụ làm sai lệch các quyết định
đầu tư (gián tiếp) đến mức mà chúng ảnh hưởng đến sự lựa chọn các tác nhân như lao
động, giáo dục, giải trí. Tuy nhiên lưu ý, chúng tôi xử lý thuế tiêu thụ "không gây bóp
méo" là một giả thuyết (chúng tôi sẽ thử nghiệm sau),chứ không phải là một giả định
trong các mô hình thực nghiệm của chúng tôi. Phân bổ chi phí thành loại sản xuất / phi
sản xuất theo Barro và Sala-i-Martin (Năm 1995); Devarajan et al. (1996) và coi như chi
phí là đáng kể (vật chất hoặc con người) thành phần vốn là 'sản xuất'. Phần lớn chi tiêu
‘phi sản xuất’ là chi phí an sinh xã hội.
5.09 (Turkey)
p.c. ban đầu GDP (năm 1970
hàng ngàn đô la Mỹ)
10.71 3.38 2.966
(Turk
ey)
15.313 (US)
Đầu tư 22.06 3.61 18.11
(UK)
29.43 (Portugal)
Lực lượng lao động tăng
trưởng (% p.a.)
1.06 0.8 -0.06
(Germany)
2.06 (Iceland)
Thặng dư ngân sách -3.08 3.39 -
11.76
(Portugal)
1.65 (Luxembourg)
Trả nợ vay 1.22 1.39 0.11
(Ireland)
4.49 (Norway)
Thuế bóp méo 18.76 7.25 7.10
(Iceland)
33.47(The Netherland)
Thuế không gây bóp méo 9.15 4.22 0.96
(US)
16.77 (Norway)
Các khoản thu khác 4.56 2.96 1.51 16.72 (Ireland)
11
Thứ hai, chúng tôi xem xét liệu các kết quả của chúng tôi rất nhạy cảm với lựa
chọn khoảng thời gian. Chúng ta bắt đầu bằng sự thay đổi khoảng thời gian 5 năm vì thế
năm bắt đầu đến năm kết thúc trong ví dụ này là 1 và 6 thay vì là 0 và 5. Sau đó chúng tôi
sử dụng các biến công cụ để kiểm tra khả năng đồng thời giữa các biến số tài chính và
tăng trưởng. Cuối cùng chúng ta xem xét các nhóm thay thế các dữ liệu tài chính.
12
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
4.2 Kết quả thực nghiệm:
Bảng 3 tổng kết những kết quả cơ bản. Cột đầu tiên của bảng dùng không bóp méo
thuế như là một yếu tố tài chính ẩn, và cột thứ hai không dùng chi tiêu cho sản xuất. Mỗi
mục dưới đây có hệ số zero theo mô hình Barro (1990), vì thế kết quả có thể tương tự
với những chỉ dẫn khác. Cuối cùng, cột 3 bỏ qua cả hai biến, áp đặt một hệ số chung cho
2 yếu tố này của ngân sách. Giả thiết của hệ số phổ biến không bị bác bỏ bởi số liệu, vì
thế giải thích của chúng ta được dựa trên những kết quả được chỉ ra từ cột cuối cùng của
bảng 3.
13
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
Bảng 3
Kết quả hồi quy
Kỹ thuật ước lượng: 5 năm, two-way FE
Biến phụ thuộc: Per capita growth
Biến số tài chính
Non-
distortionary
taxation
Non-
productive
expenditures
Non-dis. Taxes and non-
(1,98) (1,95) (2,43)
Non- Productive
expenditures
0,037
(0,23)
R
2
0,602 0,602 0,621
No. of observations
98 98 98
14
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
Chúng ta bắt đầu thảo luận những biến điều kiện. Không giống như Easterly và
Rebelo (1993), chúng ta nhận thấy rằng GDP thực vào hồi quy với hệ số âm đáng kể, chỉ
báo rằng điều kiện phân kì của tỉ lệ tăng trưởng trong 1 giai đoạn. Không giống như
những biến điều kiện trên, chỉ số đầu tư và tỉ lệ tăng trưởng lực lượng lao động, thì đáng
kể (thật vậy, hệ số đầu tư là âm) nhưng cả thời gian và quốc gia mẫu nói chung là đáng
kể.
Những biến về ngân sách trong bảng hồi quy 3 hầu hết có tín hiệu mong đợi. Chi
tiêu cho sản xuất có một hệ số dương đáng kể, và điểm ước lượng cho rằng 1 % tăng của
GDP là tăng trưởng sẽ là 0.27 %. Những hệ số chi tiêu khác cũng có một hệ số dương
đáng kể, thậm chí nó còn lớn hơn một chút chỉ số chi tiêu cho sản xuất 0.29. Thuế bóp
méo, bên cạnh đó, giảm tăng trưởng đáng kể, hệ số ước lượng là -0.41. Con số này có lẽ
lớn hơn một cách không thực tế, nhưng, như chúng ta sẽ thấy bên dưới, ,thay đổi những
năm bắt đầu của chu kì 5 năm hơi làm giảm điểm ước lượng của hệ số đó. Những thu
nhập khác cũng có tác động âm (nhưng nhỏ hơn và ít ý nghĩa thống kê). Một điểm đáng
chú ý của những kết quả là hệ số dương và lớn cho sự thặng dư ngân sách. Thậm chí dưới
giả định cân bằng Ricardian, chúng ta có thể mong đợi thặng dư có hệ số dương, kể từ
khi chúng ta có hạn chế thặng dư để tài trợ một yếu tố cân bằng của ngân sách trong giai
đoạn hiện tại, nhưng không có sự hạn chế tương tự bồi thường thâm hụt tương lai. Sự
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
4.3. Thử nghiệm Robustness
4.3.1 GDP ban đầu
Easterly và Rebelo (1993) thấy rằng ý nghĩa của các biến số tài chính trong các hồi
quy của họ là nhạy cảm khi thêm vào GDP ban đầu. Việc loại bỏ GDP ban đầu giống
phương trình (1) là một phương trình đơn giản của tăng trưởng. Khi GDP ban đầu là một
hồi quy có ý nghĩa trong Bảng 3 ở trên, không có gì là khác thường nếu những kết quả
của chúng tôi rất nhạy cảm với việc loại trừ này.
Bảng 5 trình bày các phương trình hồi quy với biến này bị loại trừ. Các hệ số của
tất cả các biến tài chính đang khá gần với những thể hiện trong Bảng 3, mà chỉ ra rằng
trong dữ liệu của chúng tôi ý nghĩa của các biến số tài chính trong mô hình tăng trưởng là
không nhạy cảm với sự thay đổi này.
4.3.2 Thay thế những khoảng thời gian 5 năm
Bảng 3 được dựa trên mức trung bình 5 năm từ 0-4 và 5-9. Sự lựa chọn này đã
được thực hiện chỉ đơn giản là để tối đa hóa số lượng các điểm dữ liệu và theo quy ước.
Trong Kneller et al. (1998) chúng tôi phát hiện những hậu quả của việc thay đổi khoảng
thời gian với chữ số cuối cùng 1-5 và 6-0, 2-6 và 7-1 và 3-7 và 8-2 (làm giảm số lượng
các quan sát từ 98 đến 86). Kết quả (không hiển thị ở đây, nhưng có sẵn từ các tác giả
theo yêu cầu) tương tự, mặc dù các ước lượng điểm của các hệ số có xu hướng hơi nhỏ
hơn (trung bình giảm 0,3 cho thuế bóp méo và tăng 0,2 cho chi phí sản xuất) và các bằng
chứng về sự cân bằng giữa các hệ số thuế không gây bóp méo, chi phí phi sản xuất là
hoàn toàn không thuyết phục trong hai của ba trường hợp.
18
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
Thu nhập ban đầu được loại trừ từ hồi quy
Kỹ thuật ước lượng: 5 năm, two-way FE
Biến phụ thuộc: Per capita growth
Biến số tài chính
Non-
No. of observations 98 98 98
19
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
4.3.3 Ước lượng biến công cụ
Việc ước lượng hồi quy (1) giả định rằng tất cả các biến bên phải được xác định
ngoại sinh. Như Easterly và Rebelo (1993) và Hsieh và Lai (1994) thảo luận, các nguồn
có khả năng nhất của sự đồng thời trong mô hình là hiệu ứng chu kỳ kinh doanh và quy
luật Wagner (xu hướng của chi tiêu chính phủ cao hơn ở các cấp độ cao hơn bình quân
đầu người GDP). Thời gian nỗ lực trung bình để kiểm soát đối với trước đây, nhưng có lẽ
không hoàn hảo, vì vậy một số nội sinh có thể vẫn còn. Quy luật Wagner là ít quan tâm ở
đây, vì nó cho thấy mối liên quan giữa tăng trưởng GDP và tốc độ tăng trưởng, chứ
không phải là mức độ, chi tiêu chính phủ và thuế.
20
Chủ đề: Chính sách tài khóa và sự phát triển chứng minh từ các quốc gia OECD
21
Bảng 6
Thu nhập ban đầu được loại trừ từ hồi quy
Kỹ thuật ước lượng: 5 năm, two-way FE
Biến phụ thuộc: Per capita growth
Biến số tài chính
Non- distortionary
taxation
Non-
productive
expenditures
Non-dis. Taxes and
non-
prod. Expenditures
Initial GDP p.c -0.125 -0.125 -0.125
(3.95) (4.23) (4.19)
hồi quy trong sự khác biệt đầu tiên. Là công cụ chúng tôi sử dụng, mức độ trễ của tất cả
các biến tài chính, và mức độ và sự khác biệt đầu tiên của sự phát triển lực lượng lao
động và GDP ban đầu. Phương trình tăng trưởng được điều hành dưới hình thức khác biệt
đầu tiên và kết quả, hiển thị trong Bảng 6, nên được giải thích phù hợp.
So sánh kết quả IV trong bảng 6 với những gì trong Bảng 3, rõ ràng là các tác động
tài chính được xác định trước đó là không chỉ đơn giản là kết quả của nội sinh. Dấu hiệu
hệ số là không thay đổi và độ lớn tương tự như giá trị Bảng 3. Mặc dù sai số là lớn
hơn trước đó. Việc giải thích các biến tài chính quan trọng là không bị ảnh hưởng đáng
kể: các tác động ước tính thuế bóp méo và chi phí sản xuất vẫn còn khá lớn.
4.3.4 Phân loại lại các biến tài chính
Thay đổi tiếp theo chúng tôi thực hiện với phương trình hồi quy là để phân loại lại
các biến bao gồm trong ma trận tài chính. Sự tập hợp của các phân loại chức năng trong
các nguồn dữ liệu vào các mục dựa trên lý thuyết trong bảng 1 là không tranh cãi. Để giải
quyết điểm này, chúng ta phân biệt thuế thu nhập cá nhân từ thuế thu nhập yếu tố khác,
chi tiêu cho y tế từ chi phí sản xuất khác, chi phí an sinh xã hội từ kinh phí sự nghiệp
khác. Điều này cho phép chúng tôi tập trung vào các biến thường được sử dụng trong các
nghiên cứu trước đó, và để xác định sự vững mạnh của các kết hợp lý thuyết của chúng
tôi.
Bảng trong Phụ lục A cho thấy các dữ liệu đã được phân loại lại. Biến dạng-phân thuế tại là chia
thành các loại thuế thu nhập và thuế bóp méo (tài sản, biên chế và các loại thuế an sinh xã hội). Chi phí
an sinh xã hội đã được tách ra từ chi sự nghiệp khác ( vui chơi giải trí và các dịch vụ kinh tế), hiện được
bao gồm trong các loại chi phí khác. Như đã đề cập trước đó, lý thuyết cho thấy sự tăng trưởng đó có
22