Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN PHƢƠNG KHÁNH
PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI
TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60.34.04.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. VŨ VĂN HÓA
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đối với GS.TS. Vũ Văn Hóa, người thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho
Tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái
Nguyên, Phòng lao động huyện Võ Nhai, Phòng Thống kê huyện Võ Nhai, UBND
các xã thuộc huyện Võ Nhai, các cán bộ và đại lý, cộng tác viên đã giúp đỡ tôi trong
quá trình điều tra và thu thập số liệu. Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc, cán bộ nhân
viên Bảo hiểm xã hội huyện Võ Nhai đã hướng dẫn và giải đáp những vấn đề thuộc
chuyên môn để Tôi có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về vấn đề cần nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã
động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn này.
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 05 năm 2014
Tác giả Luận văn Nguyễn Phƣơng Khánh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 1
1.4.1. Ở một số quốc gia trên thế giới 28
1.4.2. Một số mô hình BHXH tự nguyện ở Việt Nam 35
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1. Câu hỏi nghiên cứu 42
2.2. Phương pháp nghiên cứu 42
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin 42
2.2.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin 46
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48
2.3.1. Mục tiêu, yêu cầu của hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 48
2.3.2. Tổng hợp lao động và số thu BHXH các năm 48
2.3.3. Tổng hợp chi BHXH các năm 49
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BHXH TỰ NGUYỆN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN 50
3.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Võ Nhai 50
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 50
3.1.2. Thực trạng kinh tế - xã hội 50
3.2. Thực trạng về thu BHXH và BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Võ Nhai 52
3.2.1. Đối tượng tham gia BHXH và BHXH tự nguyện. 54
3.2.2. Tổng nguồn thu BHXH và BHXH tự nguyện 56
3.2.3. Tình hình sử dụng quỹ BHXH và BHXH tự nguyện 57
3.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc phát triển BHXH tự nguyện trên địa
bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 58
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
v
3.3. Đánh giá khái quát tình hình tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn
huyện Võ Nhai 87
3.3.1. Kết quả đạt được 87
3.3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện BHXH tự nguyện . 89
PHỤ LỤC 113
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH
:
An sinh xã hội
BHXH
:
Bảo hiểm xã hội
BHXH TN
:
Bảo hiểm xã hội tự nguyện
BHYT
:
Bảo hiểm y tế
BNN
:
Bệnh nghề nghiệp
MSLĐ
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của mức đóng, mức hưởng và kết quả thực hiện BHXH tự
nguyện 64
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mức độ hiểu biết về chính sách BHXH tự nguyện và kết
quả thực hiện BHXH tự nguyện 70
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của công tác phục vụ và kết quả thực hiện BHXH tự nguyện 74
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của thu nhập bình quân hàng tháng và quyết định tham gia
BHXH tự nguyện 77
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của mức độ ổn định về thu nhập hàng tháng của nông dân và
quyết định tham gia BHXH tự nguyện 78
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của trình độ học vấn và quyết định tham gia BHXH TN 79
Bảng 3.12. Sự ảnh hưởng của độ tuổi đến quyết định tham gia BHXH tự nguyện
của người dân 81
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của quy mô sản xuất và quyết định tham gia BHXH tự nguyện 83
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của nguồn thu nhập chính từ các ngành nghề của hộ điều tra
và quyết định tham gia BHXH tự nguyện 85
Bảng 3.15. Đối tượng tham gia phân theo ngành, lĩnh vực 88
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ix
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ % số người tham gia BHXH/Số người chưa tham gia BHXH 55
Biểu đồ 3.2: Biểu đồ so sánh số người tham gia BHXH tự nguyện và BHXH bắt
buộc từ năm 2008-2013 56
Biểu đồ 3.3: Tình hình tham gia BHXH tự nguyện của người được điều tra 58
Biểu đồ 3.4: Nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện của người được điều tra 59
Biểu đồ 3.5: Ý kiến về thủ tục tham gia, thủ tục hưởng BHXH tự nguyện 61
Biểu đồ 3.6: Tổng hợp ý kiến về mức đóng BHXH tự nguyện 63
Biểu đồ 3.7: Tổng hợp ý kiến về mức hưởng 63
giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình Thái Nguyên có
nhiều rừng núi cao với nhiều dân tộc sinh sống trên địa bàn. Trong những năm qua,
được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, Thái Nguyên đã đạt được nhiều thành
tựu, kinh tế phát triển nhưng còn chưa đồng đều, một số vùng núi cao còn gặp nhiều
khó khăn, người dân có thu nhập còn thấp. Việc thực hiện BHXH cho người lao
động trên địa bàn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là phát triển BHXH tự nguyện.
Huyện Võ Nhai là một huyện miền núi phía đông bắc của tỉnh Thái Nguyên, có
diện tích lớn nhất và mật độ dân số thấp nhất tỉnh. Là một huyện miền núi còn gặp
nhiều khó khăn, việc phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
được Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương hết sức quan tâm. Thực hiện BHXH
cho mọi người lao động nói chung và BHXH tự nguyện cho người dân nói riêng là vừa
là mục tiêu, vừa là giải pháp tích cực để góp phần thực hiện công bằng xã hội trong hệ
thống các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo cho mọi người dân đều được tham gia và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2
hưởng các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật.
Số đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn huyện Võ Nhai qua các năm có sự
tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, số đối tượng này chủ yếu thuộc đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc. Số đối tượng còn lại thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn
rất ít. Để có thể làm tốt hơn công tác BHXH tự nguyện, góp phần đảm bảo an sinh
xã hội trên địa bàn huyện, đồng thời làm tăng độ bao phủ BHXH, nghĩa là mọi
người đều được tham gia và hưởng các chế độ BHXH. Nhìn nhận lại, bên cạnh tính
ưu việt của việc thực hiện chính sách BHXH trên địa bàn huyện, cũng đã bộc lộ một
số hạn chế như tỉ lệ tham gia BHXH bắt buộc chiếm tỉ lệ cao, trong khi số đối tượng
thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện lại thấp. Xuất phát từ thực tế đó, tôi lựa chọn
đề tài “Phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh
Thái Nguyên” nhằm đưa ra những giải pháp tích cực và phù hợp để tăng cường
BHXH tự nguyện cho người dân.
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Đề tài “Phát triển Bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên’’ là một đề tài còn mới, chưa có đề tài nghiên cứu về lĩnh vực
BHXH cụ thể trên địa bàn huyện Võ Nhai.
Với đề tài này hướng nghiên cứu của tôi chủ yếu tập trung vào đối tượng
tham gia BHXH tự nguyện nhân dân khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và làm rõ việc
tại sao tỷ lệ người tham gia BHXH tự nguyện nhân dân trên địa bàn huyện Võ Nhai
lại thấp. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu đề tài để đề xuất một số giải pháp phát triển
đối tượng, nâng cao tỷ lệ người tham gia với mục tiêu đảm bảo an sinh xã hội tốt
hơn cho người dân, đây cũng là một trong những chính sách an sinh xã hội của
Đảng và Nhà nước.
Kết quả nghiên cứu của đề tài, là tài liệu tham khảo cho chương trình giảng
dạy bậc Đại học và Cao học trong chuyên ngành Quản lý kinh tế. Đồng thời, kết
quả nghiên cứu còn là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách tham khảo để đề ra
các chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế.
5. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu gồm 4 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3: Thực trạng phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
4
Chƣơng 4: Một số giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa
bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
6
Ở góc độ chính sách xã hội, BHXH là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo
đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro xã
hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội….
- Bản chất BHXH là một phương thức phân phối lại thu nhập giữa những
người lao động trong xã hội có tham gia BHXH, nhằm góp phần cân bằng thu nhập
của họ khi bị mất hoặc giảm trong hoạt động nghề nghiệp (do gặp rủi ro xã hội) nhờ
một khoản trợ cấp từ quỹ BHXH. Nội dung của BHXH được thể hiện thông qua hệ
thống các chế độ BHXH được pháp luật quy định.
Có thể hiểu theo nghĩa chung nhất, thì BHXH là quá trình tổ chức sử dụng,
phân phối thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm quốc nội để hình thành một quỹ tiền
tệ tập trung nhằm mục đích đảm bảo ổn định đời sống kinh tế cho người lao động
và gia đình họ khi bị mất hoặc giảm khả năng lao động dẫn đến mất hoặc giảm thu
nhập cá nhân đó gặp phải rủi ro xã hội.
Từ cách tiếp cận về khái niệm BHXH như trên, có thể hiểu BHXH tự nguyện
như sau: “BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước xây dựng mô hình
và quản lý, để vận động, khuyến khích người lao động và người sử dụng lao động tự
nguyện tham gia; nhằm góp phần bù đắp một phần thu nhập cho người lao động và
gia đình họ, khi họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập, do gặp phải những rủi ro xã
hội, như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già, tử tuất ; đồng thời góp phần
đảm bảo công bằng và an sinh xã hội”.
Thực chất, BHXH tự nguyện là hình thức BHXH mà người lao động và
người sử dụng lao động hoàn toàn tự nguyện tham gia, không có tác động khách
quan áp đặt, không bị pháp luật cưỡng chế phải tham gia. Ở đó, họ được lựa chọn
mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm
xã hội. Có thể nói, BHXH tự nguyện là loại hình BHXH nhằm bao phủ hết các đối
tượng còn chưa được tham gia loại hình BHXH bắt buộc của người lao động theo
trong những năm tới là phải đảm bảo cho 100% đối tượng; lao động trong các thành
phần, kinh tế kể cả trong và ngoài quốc doanh cũng như đối tượng lao động trong
lĩnh vực nông nghiệp và lao động tự do được tham gia và hưởng BHXH. Một số đặc
điểm cơ bản của đối tượng thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện đó là đặc điểm
của đối tượng làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp (nhóm đối tượng chiếm tỷ trọng
lớn nhất).
- Về thu nhập: Thu nhập của người lao động làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp trong những năm vừa qua ngày càng tăng, tốc độ tăng thu nhập tuy thấp hơn
bình quân chung của cả nước. Chi phí của hộ nông dân ngày càng tăng cao, nhưng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
8
nhờ thu nhập tăng khá, ngoài phần chi tiêu dùng cho đời sống, phần lớn các gia đình
đã có đầu tư tích lũy.
- Những vấn đề liên quan đến việc làm của người lao động: Do tính chất đặc
trưng nghề nghiệp của đối tượng; tham gia BHXH tự nguyện có nhiều khác biệt so
với nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Cụ thể như:
+ Đối với lao động làm công ăn lương thuộc các thành phần kinh tế quốc
doanh, họ thường có công việc tương đối ổn định, được pháp luật bảo hộ, được
hưởng các quyền lợi theo quy định trong Bộ Luật Lao động như quy đinh về tiền
lương, tiền công, ngày nghỉ, thời gian lao động và các chế độ ưu đãi khác. Tính ổn
định trong công việc của người lao động còn được thể hiện thông qua các ràng buộc
vể mặt pháp lý như người lao động làm việc trong các doanh nghiệp đều có hợp
đồng lao động ký kết với chủ sử dụng lao động, có thoả ước lao động tập thể đảm
bảo cho người lao động được thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ theo đúng pháp luật
quy định và các công ước Quốc tế. Chính vì vậy, việc tham gia BHXH cho người
lao động cơ bản được giới chủ thực hiện một cách nghiêm túc. Trong khi đó, nếu
xét trên khía cạnh về việc làm của đối tượng lao động thuộc diện tham gia BHXH tự
nguyện, ta thấy lao động trong lĩnh vực nông nghiệp thì hoạt động sản xuất kinh
quan đến sự vận động kinh tế, xã hội của đất nước. Họ thường thiếu hiểu biết về
chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như vấn đề về BHXH, vì vậy việc tuyên
truyền nhằm thu hút đối tượng lao động tham gia BHXH gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, do quan điểm mang tính chất chủ quan tức thời, nên việc ứng ra một
khoản tiền để chuẩn bị cho tương lai là điều khó thuyết phục trong tư duy của người
lao động. Một trong những yếu tố làm ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH của
người lao động, đó là sự mặc cảm tự ti về nghề nghiệp, họ luôn không bằng lòng
với công việc mà họ đang làm. Chính vì vậy, về bản thân người lao động cũng
khổng có sự chủ động về công việc của mình.
Xét về khả năng tham gia BHXH tự nguyện của lao động làm việc ở khu vực
nông nghiệp và nông thôn nhìn chung còn thấp do thu nhập ở khu vực nay hiện còn
thấp. Về mặt phương pháp luận, bất kỳ một chính sách BHXH nào, chính sách là
điều kiện cần, thì điều kiện thực hiện là điều kiện đủ của nó. Nói một cách cụ thể,
nghiên cứu chính sách để mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cho người
lao động là chúng ta nghiên cứu điều kiện đủ của nó để khi Nhà nước ban hành
chính sách BHXH tự nguyện cho những đối tượng này thì nó có thể trở thành hiện
thực và đi vào cuộc sống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
10
Vậy, đối tượng tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện: Người tham gia bảo hiểm
xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp
dụng của pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Bao gồm:
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng.
- Cán bộ không chuyên trách cấp xã.
- Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên
không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã.
- Người lao động tự tạo việc làm.
- Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham
+ Lao động là thành viên các hợp tác xã, tổ đội sản xuất trong một số lĩnh
vực như tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp dịch vụ, giao thông vận tải… Các
nhóm lao động này không có quan hệ lao động nhưng hoạt động theo cơ chế "chia
sẻ nghĩa vụ và quyền lợi".
+ Những người tự tạo việc làm và lao động tự do như người lái xe ôm, bán
hàng rong, tự kinh doanh, sửa chữa xe đạp-xe máy… Nhóm này thường bị bỏ qua
trong quá trình mở rộng BHXH do mối e ngại khả năng tài chính của họ để đóng
bảo hiểm cũng như vấn đề mánh khóe che giấu thu nhập để nhận mức trợ cấp cao
hơn người khác.
+ Chủ doanh nghiệp tư nhân và lao động gia đình không hưởng lương. Đây
là nhóm lao động gia đình cùng tham gia sản xuất và chia sẻ lợi nhuận nhưng không
có quan hệ lao động.
+ Nông dân là nhóm lao động chiếm tỷ lệ cao nhất trong lực lượng lao động hiện
nay nhưng chưa được tham gia BHXH, khó khăn lớn nhất cho họ khi tham gia BHXH là
khả năng tài chính thấp và không ổn định do phụ thuộc vào mùa vụ thu hoạch.
+ Người thất nghiệp, nhóm này chưa được BHXH quan tâm đến với lý do tài
chính và khả năng quản lý.
1.1.3. Nguyên tắc, mục đích, vai trò của BHXH tự nguyện
1.1.3.1. Nguyên tắc của BHXH tự nguyện
a) Người tham gia trên cơ sở tự nguyện và được lựa chọn mức đóng và
phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình
BHXH tự nguyện được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của người lao động
với tư cách là người tham gia BHXH cũng là người hưởng BHXH. Đối tượng này
vừa là chủ tư liệu sản xuất, vừa (chủ yếu là ruộng đất, công cụ lao động thủ công,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
12
nhà xưởng gắn liền với nơi ở, vốn tự có là chính và một phần quan hệ tín dụng )là
chủ sức lao động (là người vừa tham gia quản lý, vừa tham gia lao động). Họ
13
ro. Mặt khác, BHXH tự nguyện còn góp phần cải thiện, ổn định môi trường làm việc,
nâng cao hiệu quả công tác, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
đất nước. Đây là vai trò cơ bản nhất của BHXH tự nguyện, quyết định nhiệm vụ, tính
chất, phương thức hoạt động của BHXH tự nguyện.
BHXH tự nguyện còn tạo điều kiện cho người lao động tích cực phát huy
sáng tạo hơn trong quá trình lao động. Đối với Nhà nước, thông qua chính sách
BHXH tự nguyện, bảo đảm cho mọi người lao động, mọi tổ chức, đơn vị hoạt động
sản xuất, kinh doanh bình đẳng, công bằng, thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển.
1.1.4. Ý nghĩa kinh tế - xã hội của BHXH tự nguyện
1.1.4.1. Góp phần xã hội hóa các khoản thu - chi đối với dân cư
Có thể nói BHXH tự nguyện ra đời sẽ góp phần tạo điều kiện cho nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần phát triển thông qua việc phân bố lại lao động, tuyển dụng
lao động giữa các ngành, giữa các thành phần kinh tế và giữa các vùng kinh tế dễ
dàng hơn. Sở dĩ như vậy là vì trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,
quan liêu, bao cấp đã tạo ra tâm lý chung cho mọi người lao động là chỉ muốn tìm
việc làm trong khu vực Nhà nước vì ở đó người lao động được Nhà nước bao cấp về
tiền lương và đãi ngộ về quyền lợi BHXH. Người lao động không phải trực tiếp đóng
BHXH bằng tiền lương của mình mà vẫn được hưởng mọi quyền lợi BHXH khi tuổi
già; lúc ốm đau; TNLĐ, BNN; thai sản; mất sức lao động; tử tuất và coi đây là đặc
quyền, đặc lợi của họ. Mặt khác, các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa còn bị
hạn chế, chưa được khuyến khích phát triển, nên người lao động chỉ khi tìm được
việc làm trong khu vực nhà nước thì mới an tâm và coi là có việc làm thực sự. Ngày
nay, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định nhất quán lâu dài xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, định
hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó đòi hỏi sự phàn bố lại lao động giữa các thành phần
kinh tế phải có những chuyển biến lớn. Mặc dù đã có chính sách khuyến khích phát
triển sản xuất, kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế nhưng đối với các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế không thuộc khu vực kinh tế Nhà nước
việc tuyển dụng lao động vẫn còn khó khăn. Người lao động do yêu cầu của thị
thực hiện các chính sách kinh tế xã hội khác, qua đó nâng cao trách nhiệm của từng
người dân đối với cộng đồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/
15
Trước đây, không có chính sách BHXH đại bộ phận lao động khi ốm đau,
thai sản, mất sức lao động, tai nạn lao động hoặc tuổi già thu nhập bị giảm hoặc
không có thu nhập để sống, nên tâm lý chung của mọi người là phải đẻ nhiều con để
nương nhờ "trẻ cậy cha, già cậy con". Do đó, nhiều người mặc dù đã có 3 - 4 con
nhưng vẫn còn đẻ thêm để mong được nhờ cậy con lúc tuổi già sức yếu, dẫn đến
mức độ tâng dân số quá cao. Khi có chính sách BHXH tự nguyện của Nhà nước ban
hành và được thực hiện rộng rãi thì chắc chắn sẽ là chỗ dựa vững chắc cho người
lúc tuổi già, lúc đau yếu. Ngày nay ''trẻ cậy cha, già cậy BHXH", góp phần xoá đi
tâm lý muốn đẻ nhiều con mà chính bản thân họ cũng không muốn và nhờ đó giảm
được tỷ lệ tăng dân số, đảm bảo thực hiện tốt chính sách kế hoạch hoá gia đình.
Chính sách BHXH tự nguyện được thực hiện sẽ tạo điều kiện nâng cao dân
trí, nâng cao nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân con người đối với những, người
thân yêu của mình (đóng BHXH cho cha, mẹ, con em, người thân., của mình), đối
với cộng đồng, đối với xã hội không trở thành gánh nặng cho cộng đồng, cho xã
hội khi gặp rủi ro xã hội; tạo điều kiện hoà đổng mỗi cá nhân con người với cộng
đồng, với xã hội; chia xẻ rủi ro xã hội chung cho mọi người.
1.2. Thu BHXH tự nguyện và sử dụng Quĩ BHXH tự nguyện
1.2.1. Nguồn thu BHXH tự nguyện
Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện được hình thành từ các nguồn sau:
a) Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đóng bảo hiểm xã hội theo quy
định. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đăng ký với tổ chức bảo hiểm xã
hội đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo một trong các phương thức: Hằng tháng,
hằng quý, Sáu tháng một lần.
Việc thu tiền đóng bảo hiểm xã hội được thực hiện vào nửa đầu của thời gian