thiết kế giáo án điện tử chương trình hoá học hữu cơ 11 thpt bằng phần mềm ms powerpoint - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
hiện nay đang được triển khai ở hầu hết các trường học với nhiều hình thức và
mức độ khác nhau. Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và khả
năng phổ biến thông tin ngày càng đa dạng, đơn giản, nhanh chóng, chúng tôi
nhận thấy việc ứng dụng tin học vào công tác giảng dạy có thể đem lại hiệu quả
cao. Công việc này đã rất phổ biến ở những nước phát triển nhưng còn khá mới
mẻ ở nước ta. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trường học là
rất cần thiết và có thể là hướng phát triển trong tương lai.
Trong giảng dạy hóa học, cũng như các bộ môn khoa học khác chúng ta có
thể vận dụng phương tiện công nghệ thông tin để khắc phục những khó khăn
trong việc minh họa các khái niệm rất trừu tượng, phức tạp,…. Ví dụ như: lí
thuyết về cấu tạo chất và phản ứng hóa học,…. Đồng thời, việc ứng dụng CNTT
còn có thể được một cách sinh động mối quan hệ giữa cấu trúc và hóa tính các
chất. Qua tìm hiểu bước đầu, tôi được biết một số phần mềm có thể hỗ trợ rất tốt
cho công tác giảng dạy hóa học, trong đó bài giảng điện tử được thiết kế trên
phần mềm MS PowerPoint là phổ biến nhất đồng thời có thể đem lại sự hứng
thú học tập cho học sinh. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
giảng dạy còn gặp không ít khó khăn. Khó khăn lớn nhất của giáo viên trong
việc thiết kế một bài giảng điện tử là việc hình thành ý tưởng về nội dung bài
học cần truyền đạt đến học sinh mà không bị sa đà vào các hiệu ứng hoạt hình
làm mờ nhạt trọng tâm bài học.
Với lý do đó chúng tôi đã chọn hướng nghiên cứu là: “Thiết kế giáo án
điện tử chương trình hoá học hữu cơ 11 THPT bằng phần mềm MS
POWERPOINT”.
II. Mục đích của đề tài
Giúp giáo viên có cách nhìn khái quát về phần mềm MS PowerPoint và
các thao tác cơ bản trong việc sử dụng phần mềm MS PowerPoint để soạn một
bài giảng điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả trong dạy và học hoá học ở bậc
THPT.

tiên tiến phục vụ cho công việc trình diễn với nhiều mục đích khác nhau.
Với những tính năng đa dạng, MS PowerPoint cho phép thực hiện hầu hết các
yêu cầu minh họa trong giảng dạy, đặc biệt là những minh họa động rất cần thiết
trong giảng dạy hóa học. Như vậy, nếu được sử dụng tốt, nó có thể hỗ trợ rất
nhiều cho công tác giảng dạy và góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy.
I.1.2. Những tiện ích của MS PowerPoint trong giảng dạy hóa học
 Chèn được hình ảnh: trong nhiều bài giảng hoá học, để bài giảng được đơn
giản và dễ hình dung cho học sinh và tiện lợi đơn giản cho lời giảng của giáo
viên, chúng ta không thể không sử dụng tới những hình vẽ, sơ đồ minh hoạ.
Thay vì khi đó giáo viên hoặc học sinh phải chuẩn bị sẵn những sơ đồ hình vẽ ở
nhà trên giấy, người giáo viên có thể lấy những hình ảnh đó từ rất nhiều nguồn
tài liệu khác. Ví dụ như: từ SGK bằng cách quét lên máy, hoặc lấy từ trên
internet, hoặc tạo ra nó trên các phần mềm hoá học ứng dụng đang có mặt trên
thị trường như: chemoffice 8.0, hyperchem 7.5, chemskill,… Khi sử dụng các
hình ảnh đó trong bài giảng của mình, giáo viên dễ dàng điều khiển học sinh
tham gia các hoạt động học tập hơn và có thể cho học sinh tri giác lại bất kỳ lúc
nào.

 Chèn được bảng biểu, biểu đồ: Với các bài giảng khi cần sử dụng tới việc
minh hoạ bằng biểu đồ, đồ thị những số liệu để học sinh dễ dàng so sánh các đại
lượng một cách trực quan. Nếu tiến hành theo phương pháp thông thường, giáo
viên hoặc học sinh phải tiến hành một loạt các thao tác toán học phức tạp mới có
được những biểu đồ hay đồ thị như mong muốn. Đôi khi việc làm đó lại gặp
phải một số khó khăn như: sự sai số khi thao tác thủ công, tốn thời gian, tốn
công sức, Ứng dụng CNTT sẽ có thể khắc phục được những nhược điểm đó.
Chỉ với các thao tác với chuột trên MS office giáo viên và học sinh đã có thể có
ngay những biểu bảng như mong muốn hoàn toàn nhanh gọn và chính xác. Ví
dụ như: sự phụ thuộc lẫn nhau của các hàm số trạng thái P, V, T; sự phụ thuộc
của năng lượng ion hoá, ái lực hoá học của nguyên tử vào bán kính nguyên tử,


phần hoá học hữu cơ.
+ Sau khi tìm hiểu lý thuyết chủ đạo, học sinh được làm quen với
các khái niệm về: đồng đẳng, đồng phân, liên kết hoá học.
- Phần các hợp chất cụ thể: SGK Hoá học lớp 11 đã giới thiệu tương đối
đầy đủ về các loại hợp chất hiđrocacbon và nêu khá đầy đủ những nét chính của
từng loại hợp chất đó trong từng phần, từng bài. Trong khi nghiên cứu về các
hợp chất hiđrocacbon chúng ta có thể dễ nhận thấy cấu trúc nghiên cứu về từng
loại hợp chất đều đi theo hướng:
+ Trước tiên nghiên cứu về: đồng đẳng, đồng phân, danh pháp và
cấu tạo.
+ Tiếp theo trình bày những tính chất lý học đặc trưng và quan
trọng.
+ Tiếp sau đó là các tính chất hoá học (được trình bày theo hướng
từ đặc trưng nhất sau đến kém đặc trưng hơn, rồi tới tính chất chung của tất cả
các hiđrocacbon ).
+ Cuối cùng bao giờ cũng là phần nói về những ứng dụng quan
trọng và các phương pháp cơ bản điều chế các hợp chất đặc trưng.
Tiến hành nghiên cứu theo cấu trúc như thế sẽ tạo điều kiện cho học sinh
có khả năng so sánh, tổng hợp và khái quát kiến thức về các hiđrocacbon một
cách đơn giản, nhanh chóng và tiện lợi. Do đó việc giảng dạy chương trình hoá
học hữu cơ phần Hiđrocacbon lớp 11 cần tập trung làm sáng tỏ những nét đặc
trưng nhất, cơ bản nhất của từng loại hợp chất ở từng nội dung theo cấu trúc
SGK. Song song với những hoạt động ấy, người giáo viên còn cần có kiến thức
tổng hợp và cập nhật về các nội dung đang được trình bày trong SGK từ các
nguồn thông tin khác và trong sách vở. Việc chuẩn bị giáo án của giáo viên
trước khi lên lớp luôn phải quán triệt theo tinh thần ấy.
CHƯƠNG II
THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC HỮU CƠ
11 THPT BẰNG PHẦN MỀM MS POWERPOINT
II.1. Các bước thực hiện một bài giảng điện tử trên phần mềm MS

tưởng cần thể hiện, hãy tạo từng slide mới cho từng ý tưởng chính.
+ Không sử dụng quá 3 kiểu phông chữ trong cùng một slide. Có
thể sử dụng cách viết đậm nghiêng, … nếu cần nhấn mạnh các khái niệm.
+ Không tạo quá 4 chấm đầu dòng cho nội dung văn bản trong một
slide.
- Chọn đồ họa rất cẩn thận trong trình diễn.
- Chọn kích cỡ phông chữ và khuôn mẫu thích hợp với môi trường tiến hành
trình diễn.
- Chỉ sau khi nhập hết nội dung vào từng slide, ta mới tiến hành việc gán
hiệu ứng cho các slide.
Do đó, phải suy nghĩ thật kỹ trước khi áp dụng bất kỳ một kỹ xảo nào và sau
khi áp dụng phải xem đi xem lại thật kỹ.
Đến đây, về cơ bản ta đã soạn được một giáo án trên công cụ trình diễn MS
PowerPoint.
II.1.4. Dự kiến trình tự giảng dạy
Ở khâu này, giáo viên cần soạn một giáo án (kịch bản) đi kèm, trong đó thể
hiện rõ các bước lên lớp như thế nào, nghĩa là ta lên kế hoạch sẽ nói những gì,
đặt câu hỏi dẫn dắt vào vấn đề ra sao, thực hiện từng động tác trên máy tính như
thế nào… khi trình bày mỗi slide và cần thuộc kỹ kịch bản này trước khi tiến
hành giảng dạy.
II.1.5. Soạn dàn ý ghi bài chi tiết cho học sinh
Đây là một điểm khá mới mẻ so với các cách dạy thông thường. Không giống
như cách ghi bảng, ở đây mỗi lần chúng ta chỉ trình chiếu được một slide với
lượng nội dung không nhiều và không lưu lại được. Do đó, cần có dàn ý để học
sinh có được sự hình dung tổng quát về bài học cũng như tiện việc ghi chép vì
thông thường tốc độ trình chiếu nhanh hơn ghi bảng, nó giúp học sinh không bị
lúng túng nếu lỡ ghi không kịp.
II.1.6. Trình chiếu thử
- Việc trình chiếu thử là nhằm kiểm tra những vấn đề sau:
+ Nổi bật trọng tâm bài.

tượng khác …
5) Thiết lập hiệu ứng cho phần động.
 Kết quả:
Tận dụng những tiện ích của MS PowerPoint, chúng tôi đã tiến hành soạn một
số giáo án điện tử giảng dạy toàn bộ chương trình hóa học các hợp chất
hiđrocacbon lớp 11 THPT (có đĩa CD đi kèm). Ở mỗi giáo án gồm các phần:
- Mục tiêu bài học.
- Giáo án kèm theo.
- Dàn ý ghi bài cho học sinh.
* Điểm nổi bật ở các giáo án
- Kết hợp nội dung chương trình SGK thí điểm ban khoa học tự nhiên và SGK
theo chương trình cũ.
- Minh họa hầu hết các thí nghiệm cần thiết, các khái niệm trừu tượng khi dạy
về cấu tạo các hợp chất hiđrocacbon.
- Phần củng cố kiến thức áp dụng nhiều dạng câu hỏi và nhiều hình thức trắc
nghiệm khác nhau.
- Sử dụng các phần mềm hóa học khác để hỗ trợ cho bài học.
- Sử dụng phim ảnh hóa học minh họa cho mỗi bài học đặc biệt là phần tính
chất hoá học và ứng dụng của các chất nhằm tạo niềm hứng thú học tập môn hóa
ở học sinh.
- Tăng cường khả năng tư duy, kích thích sự tìm tòi và khả năng tự chiếm lĩnh
kiến thức sau mỗi nội dung bài học nhằm khắc sâu kiến thức cho học sinh.
- Ngoài ra, các giáo này lưu giữ được lâu, có thể dễ dàng bổ sung, sửa chữa
thông tin cho phù hợp yêu cầu của từng thời điểm, từng đối tượng, tuỳ trình độ
học sinh, thời gian cho phép của tiết học, giáo viên có thể ẩn, thêm bớt chỉnh sửa
các Slide cho phù hợp.
PHẦN KẾT LUẬN
1. Kết luận
Chỉ mới bước đầu làm quen với việc soạn bài giảng điện tử, chúng tôi
cũng chưa thể có cái nhìn thật chính xác về việc sử dụng phần mềm MS

ngành giáo dục. Đồng thời, nó đảm bảo cho giáo viên không bị tụt hậu, có điều
kiện để phát triển tốt hơn, hoàn thiện hơn.
2. Kiến nghị - Đề xuất:
Trên cơ sở những ảnh điểm tích cực của việc ứng dụng CNTT trong giảng
dạy như trên, chúng tôi thấy: Từng trường, từng đơn vị giáo dục nếu có điều kiện
có thể tổ chức cho giáo viên học tập, thiết kế những bài giảng, hình ảnh minh họa
và trao đổi với nhau. Đồng thời, từng nhà trường cần thường xuyên tổ chức các
đợt thi đua, những đợt hội giảng – thao giảng có sử dụng CNTT, khuyến khích
cán bộ - giáo viên tích cực vận dụng CNTT vào công tác giảng dạy. Như vậy
không những giáo viên có thể tiết kiệm được vốn thời gian vốn đã dày đặc mà còn
giúp các đồng chí cán bộ - giáo viên tích lũy được nhiều tư liệu, hình ảnh phục vụ
cho công tác giảng dạy và nâng cao khả năng của mình.
Các đơn vị trường học, các cơ sở giáo dục cần thông tin thường xuyên đến
giáo viên những phương pháp giảng dạy mới, hiện đại của các nước để tham
khảo và học tập.
Song song với những việc làm đó, người giáo viên cần thường xuyên tự
cập nhật các thông tin mới, các phương pháp giảng dạy, những phương tiện – kỹ
thuật dạy học và các hình thức kiểm tra đánh giá theo hình thức mới. Đó sẽ là
điều kiện góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giảng dạy, học tập.
Tuy nhiên, một lưu ý đặc biệt với việc sử dụng CNTT trong giảng dạy đó
là: CNTT hay bất kỳ các phương tiện kỹ thuật dạy học (dù hiện đại tới đâu)
cũng không thể thay thế người giáo viên, chúng chỉ là những công cụ hỗ trợ
công tác giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phương pháp dạy học hóa học, Nguyễn Cương, NXBGD, 2000.
2. Giáo trình tin học ứng dụng, Bùi Thế Tâm, NXB Đại Học GTVT, 2000.
3. Giáo trình thực hành tin học ứng dụng trong hóa học, Đặng Ứng Vận,
NXB ĐHKHTN Hà Nội, 1999.
4. Ứng dụng tinh học trong dạy học hóa học, Nguyễn Trọng Thọ, NXBGD,
2002.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status