BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
__________________________________________
VŨ THỊ KIM DUNG
THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN
TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG” VẬT LÝ 11 THPT BAN CƠ
BẢN NHẰM TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC
CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Vật lí
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
uận văn này.
TP. HCM, tháng 05 năm 2009
Tác giả VŨ THỊ KIM DUNG
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN BGĐT Bài giảng điện tử
CNTT Công nghệ thông tin
DH Dạy học
DHVL Dạy học vật lý
GAĐT Giáo án điện tử
GV Giáo viên
HS Học sinh
LLDH Lí luận dạy học
MVT Máy vi tính
PPDH Phương pháp dạy học
PPDHTC Phương pháp dạy học tích cực
PPGD Phương pháp giảng dạy
PTDH Phương tiện dạy học
QTDH Quá trình dạy học
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
TCHHĐNT Tích cực hóa hoạt động nhận thức
TTC Tính tích cực
TN Thí nghiệm
TNSP Thực nghiệm sư phạm
THPT Trung học phổ thông
Nghị quyết
Trung ương II khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Đổi mới
phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp
giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề”. “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền t
hụ
một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…”. Văn kiện đại hội
IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “…tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi
mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý
giáo dục…”. Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ giáo dục - Đào
tạo
đã nêu rõ: “Công nghệ thông tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung,
phương pháp, phương thức dạy và học”. Bộ GD - ĐT quyết định lấy chủ đề năm
học 2008 - 2009 là “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong GD - ĐT”.
Một trong những biện phá
p quan trọng để thực hiện đường lối trên là đưa học
sinh vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực của bản thân
mà ch
iếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực, trí tuệ.
Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm, phương pháp nghiên cứu đặc thù của
Vật Lý là phương pháp thực nghiệm. Đổi mới phương pháp dạy học Vật Lý cần
phải hướng vào việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo phương pháp thực
nghiệm. Chương “Dòng điện trong các môi trường” liên quan đến những hiện tượng
rất gần gũi với đời sống hàng ngày xung quanh chúng ta. Nội dung chủ yếu là
những m
ô hình lý thuyết giải thích đặc tính dẫn điện của các môi trường và các hiện
tượng điện có liên quan, đồng thời nêu lên một số ứng dụng thực tiễn của các hiện
tượng đó. Do đó những khái niệm này rất trừu tượng. Để học sinh có thể hiểu biết
kiến thức một cách sâu sắc, tránh được những sai lầm do nhận biết bằng những kinh
nghiệm cảm
việc đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng tiến trình dạy học, định hướng của
giáo viên trong hoạt động dạy học nhằm phát triển các hành động nhận thức tích
cực, chủ động của học sinh.
- Nghiên cứu cơ sở khoa học của v
iệc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học, sử dụng phim, tranh ảnh, thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng…hỗ trợ dạy
học.
- Nghiên cứu tư tưởng chỉ đạo về mục tiêu, chương trình sách giáo khoa Vật Lý
11 ban cơ bản nhằm xác định mức độ nội dung, những kiến thức cơ bản học sin
h
cần nắm vững.
- Nghiên cứu nội dung chương “Dòng điện trong các môi trường” và tìm hiểu
những khó khăn khi dạy chương này.
- Soạn thảo một số giáo án điện tử trong chương “Dòng điện trong các môi
trường” với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát huy hoạt
động nhận thức, tích cực, chủ động của học sinh.
- Tiến hành t
hực nghiệm sư phạm theo các tiến trình dạy học đã soạn để đánh giá
hiệu quả của nó đối với việc tiếp nhận kiến thức mới của học sinh qua đó bổ
sung, sửa đổi tiến trình dạy học đã soạn thảo.
V. Giả thuyết khoa học:
Nếu ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế và sử dụng giáo án điện tử
chương “Dòng điện trong các môi trường” chương trình lớp 11 THPT ban cơ bản
một cách hợp lý thì sẽ phát huy được tính tích cực và chủ động của học sinh trong
quá trình dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
VI. Phương
pháp nghiên cứu:
1. Nghiên cứu lý luận:
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
VIII. Những đóng góp của luận văn:
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông.
- Làm rõ một số khái niệm và thế mạnh của images/pictures (hình ảnh), sound
(âm thanh), animation (ảnh động), bài giảng điện tử, simulation (mô phỏng),
virtual experiment (thí nghiệm ảo) trong việc giảng dạy Vật lý nói riêng và các
bộ môn khoa học tự nhiên nói chung.
- Đề xuất một số cách thức sử dụng và cách thiết kế bài giảng điện tử bằng phần
mềm Powerpoint.
- Cung cấp một số giáo án điện tử chương “Dòng điện trong các môi trường” làm
tư liệu tham khảo cho các giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Cơ sở lý luận.
1.2. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của
HS trong DHVL.
1.3. Vai trò của CNTT trong việc tích cực
hóa hoạt động nhận thức của HS.
1.4. Mô phỏng và thí nghiệm ảo trong dạy
học vật lý.
1.5. Giáo án điện tử.
1.6. Kết luận chương I.
áo dục tìm cách
nghiên cứu để phát huy một cách tốt nhất PTDH hiện đại (máy tính với môi trường
dạy học Multimedia), đồng thời mở ra những triển vọng mới trong việc ứng dụng nó
để cải tiến phương pháp dạy học (PPDH), nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo hiện
nay.
Việc nghiên cứu ứng dụng C
NTT vào quá trình dạy học (QTDH) được triển
khai mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới. Ở các nước phát triển như Mỹ, Đức, Hàn
Quốc,… các công ty sản xuất thiết bị dạy học (DH) về ứng dụng CNTT đã sản xuất
nhiều sách điện tử, các PTDH hiện đại được điều khiển bởi MVT, hệ thống trường
học được trang bị phòng học đa chức năng với mạng máy tính, máy chiếu khuếch
đại,… đã đánh dấu một cuộc cách mạng mới trong công nghệ DH. Đưa QTDH từ
hình thức dạy học truyền thống thành DH trên mạng, biến Internet với các Website
thành môi trường học tập và thư viện tư liệu cho học sinh (HS) truy cập.
Theo báo cáo tổng kết của U
NESCO (2004), việc triển khai tích hợp CNTT vào
trường học thông qua các dự án thí điểm như trường học thông minh tại một số
nước Châu Á (Malaysia, Philipines, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan,...) đã đem lại
kết quả bước đầu rất khả quan, giúp phát triển tư duy HS.
Ở Việt Nam, thành công của sự nghiệp đổi mới trong hai thập niên qua đã tạo
tiền đề cho việc ứng dụng các thành tựu của CN
TT trong giáo dục - đào tạo. Môn
tin học đã được đưa vào giảng dạy dưới các hình thức và mức độ khác nhau, hầu hết
các trường THPT được trang bị phòng máy tính, phòng nghe nhìn đa chức năng với
máy chiếu khuếch đại,… Nhiều trường THPT, các trường đại học, viện nghiên cứu
đã sử dụng các thiết bị hiện đại phục vụ cho DH. Việc sử dụng Internet như một
công cụ học tập đang dần trở nê
n quen thuộc với HS, SV. Thông qua mạng tương
tác trong trường học, các em có khả năng tiếp cận thông tin nhanh hơn, tìm kiếm
thông tin phục vụ cho việc học tập của bản thân mình.
động, các đoạn Video Clip sống động. Đặc biệt ở một số nội dung
kiến thức người ta còn có thể xây dựng các mô hình mô phỏng, thí nghiệm ảo, thí
nghiệm mô phỏng để minh họa hoặc chứng minh định luật, đã biến quá trình HS
nhận thức các kiến thức trừu tượng thành quá trình tự HS lĩnh hội kiến thức mới
một cách hào hứng, tích cực.
Công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV để có thể sẵn sàng tiếp cận với các
PTDH hiện đại trong DH nói chung và DH
VL nói riêng đang được các trường đại
học, cao đẳng sư phạm dành một thời lượng đáng kể trong chương trình đào tạo.
Các học phần “Tin học ứng dụng trong vật lý”, “Phương tiện dạy học vật lý” đều
đư
ợc triển khai và cập nhật các ứng dụng cụ thể của CNTT trong việc xây dựng,
phát triển và hiện đại hóa PTDH vật lý.
Thực tế hiện nay vấn đề sử dụng máy tính trong DH ở nước ta đã có nhiều công
trình nghiên cứu của các tác giả: Lê Công Triêm, Nguyễn Quang Lạc, Phan Gia
Anh Vũ, Mai Văn Trinh, Phạm Xuân Quế, Nguyễn Xuân Thành,… đã công bố. Tuy
nhiên việc khai thác sử dụng máy tính trong DH ở các trường phổ thông thì rất khác
nhau tùy theo điều kiện cơ sở vật chất và trình độ GV.
The
o đánh giá ban đầu thì hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong DH là khá
khả quan, càng khẳng định vai trò quan trọng của CNTT trong việc đổi mới PP dạy
và học. Tuy nhiên, xét trên diện rộng, tình hình ứng dụng CNTT trong DH ở nước
ta còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế như:
- Nhận thức của GV và HS: Nhiều GV, HS chưa quan tâm tới việc ứng dụng
CNTT vào quá trình giáo dục do đã quen với các PPDH truyền thống. Đây là
khó khăn có tính tất yếu của quá trình phát triển.
- Cơ sở hạ tầng CNTT còn thấp: đây là vấn đề nan giải nhất. Ứng dụng CNTT
trong giáo dục đi liền với đầu tư hệ thống máy tính, mạng máy tính nội bộ, mạng
Internet phục vụ cho GV và HS, các thiết bị ngoại vi như máy ch
iếu, hệ thống
nh thức dạy học.
+ Tăng cường ứng dụng phương tiện dạy học.
+ Tăng cường dạy lý thuyết gắn với thực tiễn, vận dụng kiến thức đã học vào
đời sống.
+ Cải thiện việc kiểm tra và đánh giá kiến thức.
1.1.2.2. Giải pháp đổi mới phương pháp dạy học:
- Hình thành tình huống có vấn đề.
- Giúp HS sử dụng SGK. Ví dụ: cho HS tự đọc phần in nghiê
ng trong SGK, đọc
bài đọc thêm.
- Tăng cường hoạt động tìm tòi.
- Thay đổi hình thức tổ chức dạy học: dạy học trên lớp (học bài mới, ôn tập,
luyện tập, kiểm tra), trong phòng thí nghiệm, thảo luận, làm việc theo nhóm,
tự học, phụ đạo, tham quan,…
- Xây dựng và sử dụng phiếu học tập.
- Tăng cường ứng dụng phương tiện dạy học.
Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy và học không có nghĩa là gạt bỏ các
phương pháp DH truyền thống mà phải liên tục phát huy, kế thừa những ti
nh hoa
của giáo dục truyền thống và tiếp thu có chọn lọc các PPDH hiện đại theo quan
điểm DH tích cực kết hợp với các phương pháp hiện đại nhằm giúp HS phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học,
tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nha
u
trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập.
Làm cho “Học” là quá trình kiến tạo, HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập,
khai thác và xử lý thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. Tổ
chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy HS cách tìm ra chân lý. Chú trọng hình
thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác) dạy phương pháp và kỹ thuật lao
kiến xây dựng bài, tích cực trình bày các vấn đề được nêu, hay nêu thắc mắc, không
thỏa mãn với các câu trả lời của mọi người, kể cả câu trả lời của bản thân, chịu khó
tư duy trước các vấn đề khó, kiên trì giải quyết các bài tập theo các cách khác
nhau…
TTC học tập được phân chia thành các cấp độ từ thấp đến cao:
- Bắt chước: cố gắng hành động theo mẫu của giáo viên và bạn bè.
- Tìm tòi: độc lập trong tư duy khi giải quyết các vấn đề, tìm kiếm các cách giải
quyết khác nha
u về một vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo…
Phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC): hướng tới tích cực hóa hoạt động
nhận thức của người học nhằm phát huy TTC, chủ động sáng tạo của người học.
Với PPDHTC, người dạy đóng vai trò chủ đạo, người học đóng vai trò chủ động
chiếm lĩnh tri thức.
Đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực:
- Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua
tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của HS.
- DH chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS.
- DH phân hóa kết hợp với hợp tác.
1.2.2. Hoạt động nhận thức
Nhận thức là cơ sở của hành động, nhận thức đúng thì hành động mới đem lại
hiệu quả cao như mong muốn. N
hận thức có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính vì vậy, biện pháp tăng cường hoạt động
nhận thức là biện pháp có vị trí quan trọng, quyết định hướng đi và hiệu quả của
việc nâng cao chất lượng dạy học.
1.2.
3. Tích cực hóa hoạt động nhận thức (TCHHĐNT)
Tích cực hóa (TCH) là một hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người
các vấn đề mới.
- HS mong muốn đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những
nguồn khác nhau, có khi vượt ta ngoài phạm vi bài học, môn học.
1.2.
4. Sự cần thiết của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức
HS phổ thông của chúng ta đã quen với cách học truyền thống: thụ động ngồi
nghe GV giảng bài sau đó ngồi chờ GV đọc và chép như một cái máy. Do đó, HS
trở nên có tác phong chậm chạp, thụ động trong suy nghĩ và hành động. Vì vậy,
không thể tự lực giải quyết vấn đề một cách toàn diện được.
Đứng trước
tình hình đó, Bộ Giáo dục yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học
nhằm tạo ra những con người có năng lực, phẩm chất tốt đẹp: biết tư duy độc lập, tư
duy phê phán, tư duy sáng tạo, tự bộc lộ quan niệm riêng của mình và tích cực tham
gia vào hoạt động nhận thức.
Xuất phát từ yêu cầu chung của ngành, yêu cầu riêng của bộ môn, muốn thực
hiện đổi mới PPDH tr
ong QTDH cần thiết có sự tác động bên ngoài vào nhận thức,
tình cảm, ý chí của HS để tạo điều kiện kích thích tính tích cực hoạt động nhận thức
của HS. Sự tác động của các yếu tố bên ngoài phải kích thích vào tính tích cực bên
trong của HS, có như vậy HS mới có thể có thái độ tích cực đối với quá trình nhận
thức và làm cho kết quả được nâng cao. Phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức
của người học là vấn đề cần t
hiết của việc nâng cao hiệu quả học tập. Do vậy nhiệm
vụ quan trọng của người thầy là phải khơi dậy lòng ham học, nhu cầu học bằng các
tác động sư phạm tích cực dựa vào phương pháp sư phạm hợp lý trên cơ sở tâm lý
của HS để hình thành ở HS trạng thái tích cực trong học tập. 1.2.5. Các biện pháp để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
TCHHĐNT của HS có liên quan đến nhiều vấn đề, trong đó các yếu tố như động
lên.
Ví dụ: GV phải tổ chức, điều khiển lớp học sao cho không khí lớp sôi động, tích
cực, đặt câu hỏi từ dễ đến khó để những HS yếu, kém
cũng có thể trả lời được và
luôn giúp đỡ để HS hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trước những câu trả lời của
HS, GV nên để các HS khác nhận xét, bổ sung cuối cùng GV mới đưa ra kết luận
của mình phân tích câu trả lời của HS chỗ nào đúng, chỗ nào chưa đúng, làm như
vậy thì HS mới trở nên mạnh dạn và tích cực tham gia vào công việc học tập.
1.2.5.2. Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của người học
Trong DH tích cực, người học là khách thể của hoạt động dạy nhưng là chủ thể
của hoạt động học – tích cực tham gia vào các hoạt động học tập do G
V tổ chức và
chỉ đạo. Người học được đặt vào trong các tình huống có vấn đề, tự mình khám phá
những tri thức, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề
theo suy nghĩ của bản thân, động não tư duy các phương án giải quyết khác nhau
trong một thời gian nhất định… thông qua đó tự lực khám phá những điều mình
chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã đư
ợc GV sắp đặt.
1.2.5.3. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học: là tạo cho người học
động cơ hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng, thói quen ý chí tự học để từ đó khơi
dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, tự bản thân người học tìm kiếm, khám phá
tri thức thông qua các kênh đa dạng khác nhau từ đó chất lượng và
hiệu quả của học
tập sẽ được nâng cao.
Ví dụ: GV tăng cường cho bài tập về nhà, phát phiếu học tập trước mỗi bài mới
để HS soạn trước khi đến lớp, tìm kiếm tư liệu cho bài học, khuyến khích HS tự
thiết kế những thí nghiệm đơn giản phục vụ cho việc học tập… Chẳng hạn để dạy
bài “Dòng điện trong chất khí” ngoài yêu cầu H
S chuẩn bị phiếu học tập, đọc trước
bài học, GV còn yêu cầu HS tìm hiểu thêm về hiện tượng sét: nguyên nhân gây ra
đề ngà
y càng khó hơn. Thực tế, DH cho biết: nhiều HS tuy không kém thông minh
nhưng vì không có kỹ năng, kỹ xảo cần thiết nên thất bại nhiều lần, không được
giúp đỡ kịp thời trở thành tự ti, rụt rè, rối trí mỗi khi được giao nhiệm vụ. Để khắc
phục tình trạng trên, có thể thực hiện các biện pháp sau đây:
+ Lựa chọn một lôgic nội dung bài học thích hợp: hiện nay chương trình vật lý ở
trường phổ thông khá nặng, GV thuyết trình không đủ thời gian mà nếu để cho H
S
tự lực hoạt động để chiếm lĩnh tri thức thì còn tốn thời gian hơn. Do đó ngoài việc
giảm nhẹ chương trình của các cơ quan chủ đạo, làm chương trình của ngành giáo
dục thì GV phải biết lựa chọn kỹ lưỡng một số vấn đề vừa sức và xác định mức độ
mà HS có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể.
Ví dụ: Đối với lớp khá
, giỏi thì GV có thể không giảng dạy cụm kiến thức A mà
yêu cầu HS tự thảo luận nhóm và trình bày kết quả, còn với những lớp trung bình,
yếu GV nên đặt câu hỏi dẫn dắt từ dễ đến khó và hướng dẫn từng bước để HS có thể
hoàn thành được nhiệm vụ của mình.
+ Rèn luyện cho HS kỹ năng thực hiện một số thao tác cơ bản bao gồm th
ao tác
chân tay và thao tác tư duy: GV hướng dẫn, gợi mở, đưa ra những câu hỏi từ đơn
giản đến phức tạp để HS có thể làm thường xuyên nhiều lần từ đó HS sẽ tích lũy
được kinh nghiệm, thực hiện đúng và nhanh những thao tác tương tự. Trước mỗi
tiết học tư duy của HS đang ở trạng thái nghỉ ngơi. Vì vậy, trước hết GV phải
TCHHĐNT của HS ngay từ khâu đề xuất vấn đề học tập nhằm vạch ra trước mắt
HS lý do của việc học và giúp các em xác định được nhiệm vụ học tập. Đây là bước
khởi động tư duy nhằm đưa HS vào trạng thái sẵn sàng học tập, lôi kéo HS vào
không khí DH. Khởi động tư duy chỉ là bước mở đầu,
điều quan trọng hơn là phải
tạo ra và duy trì không khí DH trong suốt giờ học. HS càng hứng thú học tập bao
nhiêu, thì việc thu nhận kiến thức của các em càng chủ động tích cực bấy nhiêu.
hiện tượng vật lý mà HS quan sát được. Từ đó HS lĩnh hội kiến thức. PPTQ là một
PPDH rất quan trọng, góp phần quyết định cho chất lượng lĩnh hội môn vật lý.
Phương tiện trực quan: bao gồm các dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật được
dùng trong quá trình DH làm cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho HS lĩnh hội kiến
thức, kỹ năng, kỹ xảo. HS có t
hể tri giác trực tiếp nhờ các giác quan.
Vai trò của các phương tiện trực quan:
- Đẩy mạnh và hỗ trợ hoạt động nhận thức của HS: con người nhận thức được
thế giới bên ngoài là nhờ các giác quan. Khi HS bắt đầu học môn vật lý, các em đã
tích lũy được một số hiện tượng do quan sát thực tiễn hoặc do học tập, trao đổi mà
có. Vì vậy muốn cho HS hiểu bài một cách chính xác và sâu sắc thì phải xây dựng
các khái niệm, các thuyết, các định luật từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng.
Nhưng trong lớp học không phải lúc nào cũng có điều kiện để quan sát thực tiễn, do
đó GV phải tạo cho các em quan sát hình ảnh của các hiện tượng đó, tức là phải sử
dụng phương pháp trực quan. Dựa vào các phương tiện trực quan GV có thể cung
cấp cho HS những kiến thức bền vững, chí
nh xác, giúp HS kiểm tra lại tính đúng
đắn của lý thuyết từ đó sửa chữa, bổ sung chúng nếu không phù hợp với thực tiễn.
- Phát triển kỹ năng thực hành: thí nghiệm của GV với những thao tác chuẩn
mực sẽ giúp HS hình thành kỹ năng thí nghiệm một cách chính xác. Sau đó HS tự
tay thực hiện các thí nghiệm và trình độ thao tác được nâng dần lên. Thí nghiệm còn
giúp HS nắm vững kiến thức một cách độc lập để giải thích các hiện tượng và rút ra
những kiến thức trên
cơ sở quan sát được, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho
HS. Trong tiết học, nhiều phương tiện trực quan được sử dụng để kích thích hứng
thú học tập của HS, tạo ra động cơ học tập, rèn luyện thái độ học tập tích cực.
- Phát triển trí tuệ: khi sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các phương tiện trực quan
với những phương pháp và lời dẫn dắt thích hợp của GV sẽ gi
úp HS phát triển óc
cần nghiên cứu, hình thành sự tò mò khám phá tri thức và thúc đẩy HS tham gia
một cách tích cực vào tiến trình DH. Đây là điều kiện cần thiết để quá trình lĩnh hội
kiến thức của HS đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, với một số thí nghiệm GV có thể tiến
hành đư
ợc hoặc HS thực hiện được thì nên tiến hành thí nghiệm thật, không nên sử
dụng thí nghiệm trên máy vi tính.
1.2.6.4. Sử dụng phương pháp học tập hợp tác theo nhóm nhỏ
Trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ được hình thành bằng
những hoạt động độc lập cá nhân. Do đó, cần kết hợp dạy học hợp tác theo nhóm
nhỏ để gắn kết sự phối hợp của cá nhân vào tập thể để cùng hoà
n thành nhiệm vụ
học tập và làm tăng hiệu quả học tập.
Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ là hình thức DH trong đó quá trình nhận thức
được tiến hành thông qua hoạt động của các HS trong nhóm theo một kế hoạch
được GV giao sẵn. Cách DH này có thể tiến hành trong lớp hoặc ngoài lớp (nghiên
cứu ở nhà).
Trên cơ sở học tập theo nhóm, HS mạnh dạn hơn, tự tin hơn, để đưa ra ý kiến
riêng của cá nhân mình, từ đó HS tích cực hoạt động, tham gia xây dựng bài và kiến
thức lúc này mới thực sự là kiến thức của riêng bản thân HS.
Ưu điểm của dạy học theo nhóm nhỏ:
- Giờ học trở nên sôi nổi.
- Tăng cường tính tích cực, chủ động của người học.
- Tạo điều kiện để HS học hỏi lẫn nha
u.
- Tạo cơ hội tối đa cho mọi thành viên trong nhóm được bộc lộ hiểu biết và quan
điểm của mình. Điều này đặc biệt có ích đối với các HS nhút nhát, ít phát biểu trong
lớp.
- Tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm và giữa các
nhóm.
- Tạo nhiều cơ hội cho GV có nhiều thông tin phản hồi về người học.