TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
KHOA TÍN DỤNG
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
THUỘC BỘ MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : ĐẶNG VĂN DÂN
NHÓM 1 NGUYỄN ANH VINH
NGÔ THỊ MỸ LỆ
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG
NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
LÊ THỊ DIỆU HIỀN
NGÔ QUỐC THẮNG
HUỲNH ĐỨC HIỂN
TPHCM, tháng .11.. năm 2011
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
KHOA TÍN DỤNG
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM
THUỘC BỘ MÔN: NHẬP MÔN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ĐẶNG VĂN DÂN NHÓM 1
: NGUYỄN ANH VINH
NGÔ THỊ MỸ LỆ
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG
NGUYỄN THỊ KIỀU OANH
LÊ THỊ DIỆU HIỀN
NGÔ QUỐC THẮNG
Khó khăn ..................................................................................................... 22
Thuận lợi ...................................................................................................... 23
Các giải pháp khắc phục khó khăn ............................................................... 23
Hướng phát triển tín dụng thương mại ở Việt Nam ..................................... 24
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NƯỚC ................................................. 25
Tình hình ..................................................................................................... 25
Những vấn đề của TDTM trong nước .......................................................... 26
Cách khắc phục ............................................................................................ 29
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ .......................................................... 31
Tình hình ..................................................................................................... 31
TDTM quốc tế với những vấn đề cần tháo gỡ .............................................. 33
Cách khắc phục ............................................................................................ 35
CHƯƠNG 3 ......................................................................................................... 37
TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG CÁC LUẬT ĐỊNH Ở VIỆT NAM .......... 37
Sự cần thiết ban hành luật các công cụ chuyển nhượng ................................... 37
Nội dung cơ bản của luật các công cụ chuyển nhượng .................................... 40
Bố cục ......................................................................................................... 40
Những nội dung cơ bản về hối phiếu ........................................................... 41
4
5
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại nền kinh tế thị trường trở thành một nền kinh tế của toàn cầu
thì doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong nền kinh tế, là nơi quyết định về
các quá trình sản xuất được đưa ra. Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải
sử dụng các đầu vào để sản xuất ra đầu ra (sản phẩm, dịch vụ). Tại sao các doanh
nghiệp lại cần vay vốn trong quá trình kinh doanh? Thứ nhất, quá trình kinh doanh
đòi hỏi phải có khoảng cách thời gian từ khi mua nguyên liệu để đưa vào sản xuất
cho đến khi bán được sản phẩm và thu tiền bán hàng. Trong trường hợp này doanh
nghiệp cần vốn ngắn hạn để mua nguyên vật liệu và đáp ứng các chi dùng thường
ngày khác. Thứ hai, doanh nghiệp cần đầu tư mua sắm máy móc để mở rộng qui
thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới
hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu.
ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
- Vốn cho vay theo tín dụng thương mại là hàng hóa hay một bộ phận của
vốn sản xuất chuẩn bị chuyển hóa thành tiền, chưa phải là tiền nhàn rỗi.
- Người cho vay (chủ nợ) và người đi vay (con nợ) đều là những doanh
nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khối
lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu.
7
- Chủ thể tham gia là các doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi hàng hóa
dịch vụ,thông thường không có khâu trung gian đứng giữa người sử dụng vốn và
người có vốn.
- Tín dụng thương mại phát triển và vận động theo chu kỳ sản xuất kinh
doanh và góp phần làm phát triển sản xuất kinh doanh do nó rút ngắn chu kỳ sản
xuất kinh doanh, giảm chi phí sản xuất kinh doanh => quy mô bịhạn chế và thông
thường là tín dụng ngắn hạn.
- Tín dụng thương mại thông thường không mất chi phí sử dụng vốn (cost
of
capital) do hoạt động cấp tín dụng không có lãi trong một khoảng thời gian nhất
định, một số trường hợp bên nợ còn được hưởng lãi chiết khấu trả sớm.
Hình thức thể hiện thông thường của tín dụng thương mại là hợp đồng trả
chậm, thương phiếu (hối phiếu và lệnh phiếu). Trong đó, hối phiếu là giấy đòi tiền
vô điều kiện do người bán phát hành, lệnh phiếu là giấy cam kết trả tiền vô điều
kiện do người mua phát hành.
Một điều khoản tín dụng thương mại mà các doanh nghiệp thường thỏa
thuận khi sử dụng hình thức tín dụng này là: “2/10 Net 30” có nghĩa là nếu trả tiền
mặt trong vòng 10 ngày kể từ khi mua hàng, người mua sẽ được chiết khấu 2%
trên giá cả hàng bán, người mua sẽ phải trả toàn bộ giá bán sau 10 ngày và được
trả chậm trong vòng 30 ngày.
điểm nhất định cho người thụ hưởng.
Trên lệnh phiếu kì hạn được quy định rõ
Một lệnh phiếu có thể do một hay nhiều người ký phát cam kết thanh
toán cho một hay nhiều người hưởng lợi.
Lệnh phiếu cần có sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc công ty tài chính để
đảm bảo khả năng thanh toán của lệnh phiếu.
Nội dung lệnh phiếu:
-Tiêu đề :”Lệnh phiếu “ ghi ở bề mặt của lệnh phiếu
-Một cam kết vô điều kiện để thanh toán một số tiền nhất định
-Thời hạn trả tiền.
-Địa điểm trả tiền
-Tên người hưởng lợi hoặc tên của người ra lệnh thực hiện việc thanh
toán
-Địa điểm,ngày ký phát lệnh phiếu
-Chữ ký người ký phát lệnh phiếu.
Lệnh phiếu trả ngay:
10
Lệnh phiếu có kỳ hạn:
1.2 Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng: có thể phân chia thương phiếu
thành ba loại
Thương phiếu vô danh:là loại thương phiếu không ghi tên người hưởng
thụ.Ai cầm thương phiếu một cách hợp pháp người đó là người hưởng thụ.
Thương phiếu ký danh:là loại thương phiếu có ghi tên người hưởng thụ
và
người này được quyền chuyển nhượng cho người khác.
11
New York 24 January 2009
5000 USD
Three months after date I promise to pay David Henry or order the sum of
quan từ hoạt thương mại. và ngày nay, thương phiếu được xem là một công cụ tín
dụng, một phương tiện thanh toán hữu hiệu trong hoạt động thương mại.
Xuất phát từ vai trò kinh tế của thương phiếu, các nước đã chú trọng
xây dựng một cách có hệ thống và tương đối cụ thể các quy phạm pháp luật nhằm
tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của thương phiếu. không chỉ dừng
12
lại ở hệ thống pháp luật trong nước, trên phương diện quốc tế, pháp luật thương
mại quốc tế cũng đòi hỏi phải có sự thống nhất về luật pháp liên quan đến thương
phiếu, trong chừng mực có thể đạt được, để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của
thương nhân cũng như để bảo đảm một cách hữu hiệu sự tồn tại và hoạt động của
thương phiếu. Điển hình là Công ước Geneve ngày 7 tháng 6 năm 1930 về hối
phiếu và lệnh phiếu đã được ký kết.
Từ đó đến nay, pháp luật thương mại quốc tế đã có rất nhiều các văn
bản điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương phiếu. Hơn
nữa, điều này nhằm đáp ứng với tình hình phát triển kinh tế thế giới nói chung.
ở Việt Nam, trong thời kỳ áp dụng cơ chế tập trung, bao cấp. Nhà nước can thiệp
rất sâu trong hoạt động kinh tế. Các tổ chức kinh tế, công dân chưa được tự do
kinh doanh: pháp luật kinh doanh nói chung cũng như pháp luật thương mại chưa
được chú trọng. Điều này chỉ thật sự được đổi mới và phát triển từ khi Đảng và
Nhà nước chuyển hướng phát triển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong hoàn cảnh đó, thương phiếu và pháp luật thương phiếu chỉ được
đề cập trong những năm gần đây: Luật Thương Mại 1997. Pháp lệnh Thương
phiếu được UBTVQH thông qua ngày 24/12/1999, có hiệu lực từ ngày
01/07/2000, và Nghị định số 32/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/07/2001 (gọi tắt là
NĐ 32) hướng dẫn chi tiết thi hành pháp lệnh thương phiếu. Tuy nhiên, những văn
bản pháp luật vừa nêu vẫn được coi là chưa đủ để có một mội trường pháp lý
thuận tiện cho thương phiếu hoạt động
Ích lợi của thương phiếu:
Thứ nhất, nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở thành một
Nhược điểm thứ ba, quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát sinh giữa
những doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thường xuyên với nhau.
Tuy vậy, do tín dụng thương mại tồn tại song song với tín dụng ngân
hàng nên những khiếm khuyết nêu trên của tín dụng thương mại và của sự vận
dụng thương phiếu sẽ giảm đến mức xem như không đáng kể.
1. Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu
Chiết khấu thương phiếu là một hình thức cấp tín dụng. Thương phiếu
là một công cụ tài chính xuất hiện trong mua bán chịu giữa các doanh nghiệp, nếu
14
mọi chuyện xảy ra bình thường, tức là đến ngày đáo hạn thì người thụ hưởng
mang thương phiếu đến đòi con nợ (người có trách nhiệm thanh toán cho tờ
thương phiếu đó) để nhận tiền, thì ngân hàng sẽ chẳng có việc gì ở đây. Nhưng
nếu người thụ hưởng cần tiền và muốn nhận tiền trước thời hạn thì ngân hàng sẽ
tham gia vào và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu bằng cách mua lại tờ
thương phiếu đó với giá thấp hơn giá trị có thể nhận được từ tờ thương phiếu
(phần chênh lệch chính là tiền lãi ngân hàng thu được). Khi ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ này mang lại một số lợi ích cơ bản như sau:
* Đối với ngân hàng:
+ Đây là một nghiệp vụ cấp tín dụng khá an toàn do:
- Tính thanh khoản của thương phiếu cao (ngắn hạn, dễ chuyển đổi),
nên ngân hàng có thể chủ động sử dụng khi nắm giữ thương phiếu, không bị ứ
đọng vốn lâu.
- Theo luật thì ngân hàng có quyền truy đòi tất cả các đối tượng có mặt
trên tấm thương phiếu (kể cả người đã chuyển nhượng thương phiếu đó)chứ không
riêng gì người có trách nhiệm chi trả ghi trong thương phiếu (chiết khấu có truy
đòi). Do đó rủi ro tín dụng sẽ thấp đi do có nhiếu người phải chịu trách nhiệm trả
nợ hơn.
+ Về mặt quản trị ngân hàng thì đây là một dạng dự trữ thứ cấp khá tốt
vừa đảm bảo thanh khoản lại vừa sinh lãi ở mức chấp nhận được.
* Đối với doanh nghiệp:
tắc hàng - tiền do khi tiền tung ra từ ngân hàng thì trong nền kinh tế cũng đã có sẵn
một lượng hàng hoá tương ứng đang luân chuyển, do đó giảm thiểu áp lực lạm
phát. Cũng cần chú ý rằng hàng hoá mua chịu của doanh nghiệp chủ yếu là nguyên
vật liệu phục vụ sản xuất cho nên, cấp tín dụng bằng hình thức CKTP tạo điều
kiện tốt cho sản xuất phát triển gia tăng hàng hoá cho nền kinh tế.
VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các doanh
nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt
đáp ứng được nhu cầu vốn của các doanh nghiệp tạm thời thiếu đồng thời giúp cho
16
các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. Mặt khác sự tồn tại của hình
thức tín dụng này giúp cho các doanh nghiệp khai thác được vốn nhằm đáp ứng
kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tăng nguồn vốn kinh doanh
Nền kinh tế nước ta còn nghèo, vốn cho kinh doanh hạn chế, đòi hỏi phải có
những hình thức tạo vốn. Vấn đề này càng bức thiết hơn với các đơn vị buôn bán
nhỏ. Nhờ có TDTM, sản xuất kinh doanh ổn định và mở rộng. Tuy nhiên không
nên lạm dụng TDTM vì thời hạn tín dụng thương mại và dễ dẫn đễn vỡ nợ hàng
loạt.
Trong tín dụng thương mại, các nhà sản xuất có thể tận dụng được nguồn
vốn nhàn rỗi để sản xuất, làm tăng nguồn vốn kinh doanh trong thời gian ngắn, với
chi phí thấp hoặc chi phí có thể bằng không, tùy theo mối quan hệ giữa người cấp
tín dụng và người sử dụng nguồn vốn đó.
Tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ
TDTM với công cụ là thương phiếu được coi là hình thức lưu thông không
dùng tiền mặt. Nó tiết kiệm chi phí lưu thông và giảm bất trắc trong việc chuyển
tiền.
Sử dụng vốn tín dụng thương mại giúp cho các nhà sản xuất giảm chi phí sử
dụng vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn, thay vì đi vay tại các các ngân hàng hoặc các
ưa chuộng.
Tín dụng thương mại dưa trên sự tín nhiệm giữa các nhà sản xuất với nhau,
hỗ trợ nhau trong quá trình sản xuất. Thực tế, các nhà sản xuất sử dụng vốn tín
dụng vốn thương mại trong hầu hết các trường hợp mua nguyên vật liệu, nhập
hàng, tiêu thụ sản phẩm… thay vì đi vay tại ngân hàng với thủ tục phức tạp, lãi
suất cao. Trong những giai đoạn lạm phát, chính sách thắt chặt tiền tệ làm cho
nguồn vốn đến tay các doanh nghiệp khó khăn hơn thì tín dụng thương mại với
cam kết đơn giản giữa các doanh nghiệp, cùng chi phí sử dụng vốn cực thấp lại là
18
biện pháp vốn tối ưu cho các doanh nghiệp, giúp duy trì sản xuất kinh doanh. Tín
dụng thương mại được xem là hình thức tài trợ rẻ tiền, rất linh hoạt trong kinh
doanh. Bên cạnh đó, nó còn tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ với đối tác lâu bền
giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Như vậy, TDTM đặt chúng ta trước sự lựa chọn khó khăn. Nên chẳng hợp
pháp hóa TDTM ở Việt Nam.
ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA TÍN DỤNG THƯƠNG MẠI
1. Trong nước
a. Ưu điểm
-Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuất rút ngắn lại.
-Tín dụng thương mại tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa các doanh
nghiệp một cách trực tiếp mà không thông qua bất kỳ cơ quan trung gian nào.
-Tín dụng thương mại được cấp giữa các doanh nghiệp quen biết, uy tín nên
có lợi thế là thủ tục nhanh, gọn, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và góp phần đẩy
nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp.
-Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu
thông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội.
-Tạo điều kiện mở rộng hoạt động của tín dụng ngân hàng thông qua
nghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngân hàng tăng thu
nhập nhưng ít rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình.