ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THANH HẢI
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI
HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Đỗ Quang Quý
cứu tại trường và tại Chi cục Thuế Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Đỗ Quang Quý đã giành nhiều
thời gian, công sức để hướng dẫn tôi nghiên cứu và hoàn thành đề tài Luận
văn: “Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc”.
Tôi gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, bè bạn và đồng nghiệp luôn tạo
những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu
hoàn thành luận văn.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều
nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy, Cô, các nhà khoa học và bạn
bè, đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện và mang ý nghĩa thực tiễn hơn.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013
Học viên
Phạm Thanh Hải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan I
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
2.2.2. Phương pháp xử lý và tổng hợp thông tin 44
2.2.3. Phương pháp phân tích thông tin 44
2.2.4. Phương pháp dự báo 44
2.2.5. Phương pháp chuyên gia 45
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 45
2.3.1. Chỉ tiêu phản ánh tốc độ phát triển của doanh nghiệp 45
2.3.2. Chỉ tiêu phản ánh quy mô doanh nghiệp 45
2.3.3. Chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và chấp hành Luật thuế của
doanh nghiệp 45
2.3.4. Chỉ tiêu phản ánh kết quả quản lý thu thuế của Chi cục Thuế 46
Chƣơng 3. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI
HUYỆN LẬP THẠCH 47
3.1. Tình hình cơ bản của huyện Lập Thạch 47
3.1.1. Đc điểm điều kiện tự nhiên 47
3.1.2. Điề u kiệ n kinh tế - xã hội huyện Lập Thạch 48
3.1.3. Đánh giá chung về huyệ n Lậ p Thạ ch 51
3.2. Tình hình cơ bản của Chi cục Thuế huyện Lập Thạch 52
3.2.1. Vị trí, chức năng 52
3.2.2. Nhiệm vụ quyền hạn 52
3.2.3. Tình hình tổ chức hoạt động củ a Chi cụ c Thuế huyệ n Lậ p Thạ ch 52
3.3. Thực trạng quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài Quốc doanh giai
đoạn 2010 - 2012 tại Chi cục Thuế huyện Lập Thạch 55
3.3.1. Kế t quả thu ngân sá ch giai đoạ n 2010 - 2012 55
3.3.2. Kết quả thực hiện công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh tại huyện Lập Thạch 56
3.3.3. Đá nh giá thực trạng công tác quản lý thu thuế qua kế t quả điều tra 69
3.4. Đánh giá chung tình hình quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại huyện Lập Thạch 78
3.4.1. Những mt đạt được 78
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DN : Doanh nghiệp
DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
HHDV : Hàng hóa dịch vụ
GTGT : Giá trị gia tăng
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
KHĐT : Kế hoạch đầu tư
KT-XH : Kinh tế - Xã hội
KK-KT-TH : Kê khai - Kế toán - Tin học
MST : Mã số thuế
MSDN : Mã số doanh nghiệp
NSNN : Ngân sách Nhà nước
NNT : Người nộp thuế
NXB : Nhà xuất bản
QLT : Quản lý thuế
QLN : Quản lý nợ
QHS : Quản lý hồ sơ
TNCN : Thu nhập cá nhân
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
TTĐB : Tiêu thụ đc biệt
TN : Tài nguyên
TINCC : Cấp mã số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
đoạn 2010 - 2012 63
Bảng 3.13. Tổng hợp các ý kiến của doanh nghiệp qua phỏng vấn trực tiếp 70
Bảng 3.14. Tổng hợp ý kiế n c ủa doanh nghiệp qua phiếu điều tra về 4 vấn đề
doanh nghiệp quan tâm nhất hiện nay 72
Bảng 3.15. Tổng hợp ý kiến phỏng vấn kế toán doanh nghiệp 74
Bảng 3.16. Tổng hợp ý kiến từ phiếu điều tra kế toán doanh nghiệp 75
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Cơ cấu doanh nghiệp ngoài quốc doanh 41
Hình 3.1. Mô hình tổ chức Chi cục Thuế huyện Lập Thạch 54
Hình 3.2. Tình hình nộp thuế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh giai đoạn
2010 - 2012 61
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời là
một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước.
Để duy trì sự tồn tại của mình, nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu,
trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa
phương, thuộc phạm vi lãnh thổ mà nhà nước đó đang cai quản; chi cho các công
việc ban đầu thuộc chức năng của nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các luật thuế
của doanh nghiệp quốc doanh tại huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất
đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế
đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện Lập Thạch.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế đối với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh.
Đánh giá được thực trạng công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh tại huyện Lập Thạch.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế đối với
doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại huyện Lập Thạch.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Là các vấn đề về công tác tổ chức quản lý thu thuế của Chi cục Thuế
huyện Lập Thạch đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo các loại hình
doanh nghiệp: Công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và công chức
liên quan đến quản lý thu thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mt không gian: Nghiên cứu tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về mt thời gian: Sử dụng dữ liệu giai đoạn từ 2010 - 2012.
- Nội dung nghiên cứu: Luận văn này chỉ nghiên cứu về quản lý thuế GTGT
(giá trị gia tăng) và TNDN (thu nhập doanh nghiệp) đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh (DN NQD) do Chi cục Thuế huyện Lập Thạch đang trực tiếp quản lý.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
4. Đóng góp mới của Luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.1.1. Mộ t số vấ n đề cơ bả n về doanh nghiệ p ngoà i quố c doanh
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp ngoi quốc doanh
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện hoạt động kinh doanh. [11]
Theo hình thức sở hữu tài sản thì Doanh nghiệp bao gồm Doanh nghiệp nhà
nước và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao
gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh
nghiệp tư nhân. Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là
thành phần kinh tế không thể thiếu, ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò quan
trọng vào sự tồn tại và phát triển củ a đấ t nướ c.
1.1.1.2. Vai trò của doanh nghiệ p ngoà i quố c doanh trong nề n kinh tế
Doanh nghiệ p ngoà i quố c doanh (DN NQD) ra đời và tồn tại trong nền kinh
tế quốc dân đã đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế - xã hội trong mỗi quốc gia:
- Góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế: Nước ta là
nước có nền kinh tế đang phát triển, tiềm năng của nền kinh tế (như tài nguyên, sức
lao động, thị trường, ) còn dồi dào nhưng chưa được khai thác, sử dụng có hiệu quả
chủ yếu do lực lượng sản xuất còn thấp. Khu vực kinh tế quốc doanh chưa khai thác
do nguồn tài nguyên, quy mô sản xuất nhỏ không đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Đồng thời đối với khu vực kinh tế cá thể chưa đủ sức khai thác được hết những tiềm
năng này. Do vậy DNNQD ra đời sẽ khai thác hết được những tiềm năng chưa được
khai thác. DNNQD có khả năng tập trung vốn, trí tuệ vào các ngành kinh tế phát
triển hay những ngành kinh tế đòi hỏi nhiều hàm lượng tri thức, cũng như trong
những lĩnh vực kinh doanh không cần nhiều vốn và lợi nhuận thấp mà các nhà đầu
tư lớn ít quan tâm.
kinh doanh của doanh nghiệp mình. Do vậy bất cứ có một thay đổi nào ảnh hưởng
đến lợi nhuận của DN đều ảnh hưởng đến mỗi thành viên trong doanh nghiệp đó. Vì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
vậy các DN rất nhanh nhạy trong tìm hiểu đầu tư có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá
nào để kiếm được thật nhiều lợi nhuận với những phương án kinh doanh rất táo bạo
và mạo hiểm. Đôi khi để đạt được mục đích họ có thể xem thường pháp luật kể cả
trốn thuế gây hậu quả cho xã hội. Như vậy việc quản lý thu thuế đối với doanh
nghiệp sẽ trở lên khó khăn hơn.
- Hoạt động của các DNNQD mang tính phân tán: phạm vi hoạt động của
các DNNQD mang tính phân tán, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, tập trung
vào các ngành tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ ăn uống. Do tính chất
kinh doanh và loại hình đa dạng, DNNQD hoạt động trên phạm vi rộng, qui mô
không đồng đều, tính tập trung không cao. Do vậy nó sẽ gây khó khăn cho cơ quan
quản lý trong việc giám sát, quản lý DNNQD.
- Tính chất qui mô vốn của các DNNQD thường là nhỏ, vốn ít, cơ cấu đơn
giản, gọn nhẹ linh hoạt, số lượng công nhân ít và họ thường phải đảm nhận công việc
theo kiểu đa năng, giúp cho chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh về giá và
sản phẩm cuối cùng. Các doanh nghiệp này thường hoạt động ở các ngành thường có
tính năng động cao nên dễ dàng chuyển hướng kinh doanh, dễ thích nghi với hoàn
cảnh và yêu cầu của nền kinh tế. Điều này sẽ dẫn đến cơ quan thuế rất khó kiểm soát.
- Trình độ văn hóa thấp: DNNQD có số đông người lao động là trình độ văn
hóa thấp dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp trong số những người lao
động ở khu vực này có cả người già, cán bộ nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoc
không có công ăn việc làm phải kinh doanh để kiếm sống Do đó, việc tuyên
truyền giải thích chính sách gp nhiều vấn đề khó khăn, công tác quản lý có nhiều
trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị trường vì vậy khó
ứng phó được với tác động thị trường bên ngoài.
là thuế khoá "[12]. Và với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để
duy trì quyền lực nhà nước. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ
rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ
sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn
thuế. Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội
trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp.
Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu lên trong cuốn
sách "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ, dựa trên cơ sở đối giá như sau: "thuế là
một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ
không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền
phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" [30]. Trong các quan điểm
này, người ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng
chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế
như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mà
mình đang kinh doanh hoc đang sinh sống. Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với
giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định lúc đó.
Trên giác độ phân phối thu nhập thì: Thuế là hình thức phân phối và phân
phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ
tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên giác độ người nộp thuế thì: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc
mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để
đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước.
Trên giác độ kinh tế học thì: Thuế là một biện pháp đc biệt, theo đó Nhà
nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư
1.1.2.2. Đặc điểm của Thuế
Qua phân tích nguồn gốc của sự ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế
nêu trên, có thể khẳng định rằng: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được
sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công
cộng. Thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả …
Điều này thể hiện qua các đc điểm cơ bản của thuế trong kinh tế thị trường như sau:
- Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền
Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc,
thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng
hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền
kinh tế phi thị trường. Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản
và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác.
Chính sự phát triển của hoạt động trao đổi hàng hoá bằng tiền đã làm cho thuế phát
triển, và ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường bằng cách đòi hỏi người nộp thuế trong
trường hợp không có tiền phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để
thanh toán nợ thuế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không hoàn toàn mất đi
trong hệ thống chính sách thuế đương đại. Một số quốc gia vẫn duy trì hình thức
này dưới dạng thanh toán thuế bằng hiện vật với một số hiện vật quý, như khi đào
được cổ vật phải nộp thuế cho nhà nước với một t lệ hiện vật tùy theo quy định cụ
thể. Kỹ thuật này giúp Nhà nước sưu tập được những di sản quốc gia quý giá từ dân
chúng để bảo tồn tập trung những giá trị văn hoá của dân tộc, nhân loại.
- Luôn gắn liền với quyền lực nh nước
Đc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế. Thuế là nghĩa vụ cơ bản
của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia.
Đây là đc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình
thức động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác.
- Luôn gắn liền với thu nhập
Đc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế. Nhà nước thực hiện thu
thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân,
mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao
bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoc những
quyền lợi nào khác cho người nộp thuế. Thuế, cho dù dưới bất kỳ hình thức nào đều
buộc người trả thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra thanh toán cho Nhà
nước mà không cần biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa.
Với đc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự
nguyện hoc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối
với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật.
- Không hoàn trả trực tiếp v được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng
Tính chất không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh:
Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối
giá. Về mt pháp lý, thuế không là giá cả của dịch vụ cung cấp. Vì vậy, người nộp
thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện cớ là Nhà
nước sử dụng tiền thuế không có hiệu quả. Họ cũng không thể đòi hỏi số tiền thuế
do họ nộp phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác. Mt khác, họ
cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do số thuế thu được tài trợ cho các khoản chi
tiêu trái với những nguyên tắc của nó.
Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ
trực tiếp cho người nộp thuế. nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa
hưởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp
13
nhằm tạo ra sự quan tâm của các đối tượng nộp thuế tới chất lượng sản xuất và hiệu
quả kinh doanh.
Ở nước ta, nguồn thu từ thuế thực sự là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách
Nhà nước. Điều này được thể hiện qua t trọng số thu từ thuế trong tổng thu ngân
sách hàng năm (bảng 1.1).
Bảng 1.1. T lệ thuế và phí trong tổ ng thu Ngân sch Nhà nƣớc và
Thu nhậ p quố c dân giai đoạ n 1991 - 2011
Năm
Tổng số thuế và phí
(t đồng)
So với tổng
thu NSNN (%)
So với GDP
(%)
1991
5.906
73,7
14,0
2001
89.967
76,9
20,5
2011
400.800
92,6
20,2
(Nguồn: Tổng cục Thuế )
Số liệu thống kê trên cho thấy số thu thuế và phí chiếm phần lớn trong tổng
thu NSNN và tăng nhanh qua các năm, đảm bảo về cơ bản yêu cầu chi thường xuyên
triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm
bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường xảy
ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và
t lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm
phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững.
+ Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm
bảo công bằng xã hội.
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người
nghèo, thông qua việc trợ cấp hoc cung cấp hàng hoá công cụ. Thông qua thuế Thu
nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu
nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội. Một khía cạnh
khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu
dùng như: Thuế GTGT, thuế Tiêu thụ đc biệt.
Với những hàng hoá dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho người
nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt. Trái lại những mt
hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập
của người giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát
vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước.
+ Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng
lên hoc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn
định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thế để điều chỉnh
bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích
đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn. Nếu lạm phát do chi phí
tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào
+ Áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế: ưu đãi thuế tức là hình thức cho người
nộp thuế được hưởng các điều kiện thuận lợi khi nộp thuế. Trong qua thực hiện ưu
đãi thuế, nhà nước đã điều tiết nền kinh tế một cách linh hoạt, tùy thuộc vào điều
kiện cụ thể của cục diện nền kinh tế để đạt được những mục tiêu đã đt ra.
- Thuế là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có chênh lệch
lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Kinh tế thị
trường càng phát triển thì khoàng cách giầu nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày
càng có xu hướng gia tăng. Chính vì vậy nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình
phân phối thu nhập, của cải của xã hội. Thuế là một công cụ để nhà nước tác động
trực tiếp vào quá trình này. Việc điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được
thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đc biệt là hình thức thu thuế tiêu
thụ đc biệt. Các sắc thuế trực thu đc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử
dụng thuế suất lũy tiến là sắc thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập
và đảm bảo công bằng xã hội.
- Thuế còn là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản
xuất, kinh doanh
Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện thu đúng các quy định của các luật thuế
đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững
số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh,
những mt hàng họ được phép kinh doanh. Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ