TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC ĐẠO GIA &
NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ
GVHD : TS Bùi Văn Mưa
Người thực hiện : Lâm Hữu Cường
Số thứ tự : 24
Lớp : Cao học Đêm 5
Khóa : 21
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2012
MỤC LỤC
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
PHẦN MỞ ĐẦU
Triết học Đạo gia bắt nguồn từ Trung Quốc, phát triển từ thời Chiến Quốc xa xưa
và được xem như tôn giáo chính thống của nước này. Trong thời kỳ tư tưởng con
người còn lạc hậu, triết học Đạo gia như một kim tự tháp lớn trong triết học Trung
Quốc, cùng với Nho gia, nó như cái bóng bao trùm và dẫn dắt quá trình tư tưởng của
Trung Hoa. Không chỉ là một tôn giáo dạy con người trở về với gốc đạo, Đạo gia
còn đóng góp rất nhiều cho nền văn minh Trung Quốc. Nhiều sinh hoạt độc đáo của
người Trung Quốc đã lan truyền khắp thế giới xuất phát từ Đạo giáo:
• Khuynh hướng hội họa của dòng tranh thủy mặc hay tranh sơn thủy thể hiện
sự cân bằng tuyệt hảo giữa âm - dương.
• Thuật phong thủy chỉ rõ cách chọn hướng, cách thiết kế môi trường xây dựng
theo một hệ thống phối hợp các yếu tố quan trọng của không gian và thời
gian nhằm mang lại sự hài hòa tối đa trong mọi tương tác giữa con người và
thiên nhiên.
trường sinh có lẽ bắt nguồn từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Trang Tử
Nam Hoa chân kinh, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ 4 trước CN thì
các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu cho họ chính là
Hoàng Đế và Tây Vương Mẫu, những hình tượng đã có trong thời nhà Thương,
thiên niên kỉ 2 trước CN.
2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia
2.1 Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử
Tương truyền Lão Tử sống thời Chiến Quốc, thế kỉ thứ 6 trước CN, một thời kì
được đánh dấu bằng chiến tranh và loạn li. Nhưng thời này cũng được xem là thời
vàng son của triết học Trung Quốc vì nhiều nhà tư tưởng đã tìm cách giải hoá vấn đề
làm sao để an dân lập quốc. Do đó mà người sau cũng gọi thời kì này là thời của
Trang 4
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
Bách gia chư tử - "hàng trăm trường phái". Đạo Đức kinh hàm chứa những tư tưởng
này, hướng đến những nhà cầm quyền và cách tạo hoà bình.
Trong dạng được truyền ngày nay thì Đạo Đức kinh bao gồm hai quyển với tổng
cộng 81 chương. Phần thứ nhất nói về Đạo, phần hai nói về Đức. Tuy nhiên, Đạo
Đức kinh không là một bộ kinh có một kết cấu lôgic của một thế giới quan, mà chỉ
là một tập hợp của những ngạn ngữ huyền bí, tối nghĩa, dường như nó muốn người
đọc phải tự lí giải một cách chủ quan. Chính vì vậy mà người ta tìm thấy hàng trăm
bản chú giải, hàng trăm bản dịch của bộ Đạo Đức kinh này.
2.1.1 Lý luận về đạo và đức
Đạo là phạm trù triết học vừa để chỉ bản nguyên vô hình, phi cảm tính, phi ngôn
từ, sâu kín, huyền diệu của vạn vật, vừa để chỉ con đường, quy luật chung của mọi
sự hình thành, biến hóa xảy ra trong thế giới. Đức là phạm trù triết học dùng để thể
hiện sức mạnh tiềm ẩn của đạo, là cái hình thức nhờ đó vạn vật được hình thành và
phân biệt được với nhau, là cái lý sâu sắc để nhận biết vạn vật.
Đạo được tạm hiểu như là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng, mộc mạc, hỗn độn,
mập mờ, thấp thoáng, không có đặc tính, không có hình thể; là cái mắt không thấy,
tai không nghe, tay không nắm bắt, ngôn ngữ không thể diễn đạt, tư duy không nhận
kinh ông viết: ”cái gì khuyết ắt được tròn đầy, cái gì cong sẽ được thẳng,
cái gì cũ thì lại mới, cái gì ít sẽ được nhiều, nhiều sẽ mất”.
• Quy luật phản phục là sự phát triển đến cực điểm thì chuyển quay trở lại
phương hướng cũ. Lão Tử diễn đạt rằng “trở lại là cái động của Đạo” -
nghĩa là “cái động của Đạo” không đi ra ngoài mà trở về gốc.
Bất cứ sự vật nào cũng là thể thống nhất của hai mặt đối lập. Chúng ràng buộc,
bao hàm lẫn nhau. Lão Tử cho rằng, ai cũng biết đẹp là đẹp tức là có xấu; hai mặt
dài ngắn tựa vào nhau, mới có hình thể; hai mặt cao thấp liên hệ với nhau, mới có
chênh lệch; và trong vạn vật, không vật nào không cõng âm, bồng dương. Trong vạn
vật, các mặt đối lập không chỉ thống nhất mà chúng còn xung đột, đấu tranh, chuyển
Trang 6
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
hóa nhau tạo ra sự thay đổi, biến hóa không ngừng của vạn vật trong vũ trụ. Tuy
nhiên theo Lão Tử sự đấu tranh, chuyển hóa của các mặt đối lập này không làm xuất
hiện cái mới, mà là theo vòng tuần hoàn khép kín. Đối với ông, họa là chỗ dựa của
phúc, phúc là chỗ náu của họa; cái gì cong thì lại thẳng, cũ thì lại mới…
Lão Tử khẳng định càng tách xa đạo, xã hội càng chứa nhiều mâu thuẫn. Mâu
thuẫn là tai họa của xã hội. Theo ông khi đạo lớn bị phá bỏ thì xuất hiện nhân nghĩa;
khi trí tuệ ra đời sinh ra giả dối; khi nước loạn mới xuất hiện tôi trung; khi gia tộc
bất hòa mới sinh ra cha nhân từ con hiếu thảo… Vì vậy, để xóa bỏ tai họa cho xã hội
phải thủ tiêu mọi mâu thuẫn mang tính xã hội, có nguồn gốc chủ quan (xa đạo) trong
xã hội. Theo Lão Tử, mâu thuẫn trong xã hội được thủ tiêu bằng cách đẩy mạnh một
trong hai mặt đối lập để tạo ra sự chuyển hóa theo quy luật phản phục (quay trở lại
cái ban đầu), hay cắt bỏ một trong hai mặt đối lập để làm cho mặt đối lập kia tự mất
đi theo quy luật bình quân (cân bằng nhau). Với quan niệm này, ông cho rằng trong
đời sống xã hội, nếu dẹp bỏ trí tuệ thì dân sẽ chất phác; nếu không tôn trọng người
hiền thì dân không tranh nhau; nếu không coi trọng của cải quý báu thì dân không có
trộm cắp.
Phép biện chứng của Lão Tử mang tính chất máy móc, đơn giản. Vạn vật chỉ vận
động tuần hoàn, lặp đi lặp lại một cách buồn tẻ mà không có sự ra đời của cái mới,
và chủ trương xóa bỏ hết mọi rang buộc về mặt đạo đức, pháp luật đối với con người
để trả lại cho con người cái bản tính tự nhiên vốn có của nó. Lão Tử mơ ước đưa xã
hội trở về thời đại nguyên thủy chất phác, mơ ước cô lập cá nhân với xã hội để hòa
tan con người vào đạo (tự nhiên). Xã hội lý tưởng đối với ông là những nước nhỏ,
dân ít, có thuyền xe nhưng không đi, có gươm giáo nhưng không dùng, bỏ văn tự, từ
tư lợi, không học hành…; dân hai nước ở cạnh nhau, dù cách nhau bởi một bờ dậu
nhỏ hay một con mương cạn, cùng nghe tiếng chó sủa tối, tiếng gà gáy sáng…
nhưng đến già, đến chết họ không bao giờ qua lại thăm nhau.
2.2 Trang Tử và sự phát triển của Đạo gia
Trang 8
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
Trang Tử là một triết gia và tác gia Đạo giáo. Tên thật của ông là Trang Chu, ông
cũng sống vào thời Chiến Quốc, thời kỳ đỉnh cao của các tư tưởng triết học Trung
Hoa với Bách Gia Chư Tử.
Tương truyền rằng, khi Trang Tử đến ở ẩn nơi chân núi Nam Hoa, ông đem hết
tinh hoa của Đạo giáo của Lão Tử viết thành bộ sách, lấy tên núi Nam Hoa mà đặt,
gọi là Nam Hoa kinh, đời sau người ta gọi là "sách Trang Tử".
Văn chương trong Nam Hoa kinh rất có tiết tấu, nhiều câu dùng phép biền ngẫu,
lời văn luôn luôn bóng bẩy, trôi chảy, ảnh hưởng rất lớn đến các thi nhân đời sau
như Kê Khang, Nguyễn Tịch, Sơn Đào, và ngay cả đời nhà Đường như Lý Bạch,
đời nhà Tống như Tô Đông Pha.
Kế thừa truyền thống của triết học cổ Trung Quốc, nguyên tắc trình bày quan
điểm triết học của Trang Tử là "có lời vì ý, được ý quên lời". Vì vậy, tư tưởng triết
học của ông được biểu hiện một cách đơn sơ lại huyền hoặc, nửa sáng, nửa tối, cảm
nhận được nhưng không thể diễn đạt bằng lời. "Nó giống như một bức tranh mộc
mạc, đường nét đơn sơ, nhưng lại chứa đựng tất cả vì tất cả đang biến động, biến
hóa như rồng uốn lượn, cuộn mình tan lẫn trong mây". Trang Tử - mặc dù rất có
công trong việc mài dũa viên ngọc "đạo" của Lão Tử nhưng hết sức đề cao sự thực
hành bằng chính bản thân cuộc sống theo "đạo" (nguồn sống, đạo sống) hơn là việc
suy ngẫm nhưng triết lý thâm trầm về đạo. Sự gợi mở trong cách cảm nhận về học
nhiên nhi nhiên, vô tư, hồn nhiên như trẻ thơ "giữ tâm điềm đạm, khí điềm tĩnh,
thuận theo tự nhiên mà không theo ý riêng của mình" (Ứng đế vương). Cũng
giống như Vô vi của Lão Tử là "vô vi nhi vô bất vi" nhưng mới hơn ở Trang Tử
là không thái quá và biết phá bỏ những gì cản trở cho sự phát triển tự nhiên của
vạn vật, làm cho mọi vật đều được tự do, bình đẳng sống theo đúng bản tính, sở
thích tự nhiên của nó.
Trang 10
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRƯỜNG PHÁI
ĐẠO GIA
1. Những giá trị của tư tưởng triết học trường phái Đạo gia
Lý luận về đạo và đức:
Trong hệ thống triết học Lão Tử, học thuyết về “đạo” có một vị trí cực kì quan
trọng. Nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong triết học của ông và hầu
hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của người Trung Hoa cổ đại. Thuật ngữ
“đạo” có lẽ được sử dụng từ thời trước Lão Tử. Tuy nhiên, đến Lão Tử “đạo” trở
thành một khái niệm có nội dung sâu sắc và hệ thống hơn. Nó được coi là một phạm
trù triết học cơ bản trong triết học của ông.
Phần quý giá nhất trong triết học của Lão Tử, đó là phép biện chứng chất phác.
Lão Tử cho rằng, tòan bộ vũ trụ vạn vật do sự chi phối của “đạo” luôn luôn trong
quá trình vận động, biến hóa không ngừng, không nghỉ.
Quan niệm niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử:
Từ quy luật bình quân và phản phục, Lão Tử nâng lên thành nghệ thuật sống của
con người. Đó là sự từ ái, khiêm nhường, tri túc, tri chỉ. Ông dạy mọi người: “Sắp
muốn thu lại, ắt hãy mở ra đấy; muốn làm yếu đi, ắt hãy làm cho mạnh lên đấy;
muốn làm vật suy tàn hãy làm cho nó hưng lên; muốn đoạt lấy hãy cho đi ”.
Trong tư tưởng về phép biện chứng, có thể nói về căn bản, Lão Tử đã vạch ra
được quy luật, con đường vận động, biến đổi của vạn vật trong thế giới khách quan.
Theo ông, nguồn gốc của sự vận động, biến đổi ấy của vũ trụ, vạn vật là sự liên hệ,
tác động, chuyển hóa giữa các mặt đối lập trong chính các sự vật. Đây là thành quả
nhiên, con người không cần làm gì cả. Đó là quan điểm sai lầm của Lão Tử trước sự
vận động và biến đổi của tự nhiên.
Quan niệm niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử:
Lão Tử quá nhấn mạnh quy luật bình quân và phản phục mà không nhấn mạnh
đến đấu tranh là phương thức giải quyết mâu thuẩn. Trái lại, đề cao tư tưởng điều
hòa mâu thuẫn cho nêntriết học Đạo gia không bao gồm tư tưởng về sự phát triển.
Trong triết học của Lão Tử khi đề cập đến sự chuyển hóa của các mặt đối lập
không theo khuynh hướng phát triển, xuất hiện cái mới mà theo vòng tuần hoàn của
quy luật phản phục. Hơn nữa không chủ trương giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh
giữa các mặt đối lập mà chủ trương lấy cái tĩnh, vô vi, điều hòa để chuyển thành sự
Trang 12
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
chuyển hóa của quy luật bình quân nên phép biện chứng mang tính máy móc, lặp đi
lặp lạimột cách tuần hoàn buồn tẻ.
Quan niệm biện chứng của ông không khuyến khích dân sử dụng trí tuệ, không
tôn trọng người hiền, không coi trọng của cải vật chất làm ra. Tư tưởng của ông
không ủng hộ sự phát triển của xã hội mà mong muốn mang con người trở lại thời
ban đầu sơ khai, không phát sinh cái mới. Điều này không giúp ích cho sự phát triển
nhân loại và kéo lùi xã hội loài người về thời kỳ lạc hậu trước kia.
Tư tưởng biện chứng của Lão Tử tuy đã vẽ nên đúng đắn bức tranh sinh động
của hiện thực, nhưng về căn bản nó vẫn mang tính chất tự phát, ngây thơ, dựa trên
những kinh nghiệm có tính trực quan cảm tính và chủ yếu là mô tả sự biến chuyển
của sự vật, hiện tượng xảy ra trong tự nhiên cũng như trong xã hội. Nó chưa có cơ
sở để vạch ra sự hạn chế bị quy định bởi tính chất thời đại lịch sử mà còn do sự hạn
chế bởi trình độ nhận thức còn thấp kém ở Trung Quốc thời bấy giờ.
Thuyết vô vi:
Trong tư tưởng “vô vi”, Lão Tửchống lại những chuẩn mực đạo đức và thể chế
pháp luật. Ông coi đó là sự áp đặt, cưỡng chế, can thiệp vào bản tính tự nhiên của
con người.Tất cả những cái gọi là nhân, lễ, nghĩa, trítheo Lão Tử chỉ là giả tạo, trái
với tự nhiên, xa rời mất đạo mà thôi.Ông phê phán những quan điểm và chủ trương
Tóm lại, phép biện chứng của Trang Tử mang tính chất tự phát, nó không phải là
một hệ thống mà chỉ là những yếu tố tản mạn, rời rạc. Nó chỉ dừng lại ở mặt hình
thức, còn về nội dung thì lại là thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung. Những đặc
điểm này đã dẫn đến tính thần bí và huyền hoặc trong tư tưởng của ông.
Trang 14
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
KẾT LUẬN
Những quan điểm chính trị xã hội của Lão – Trang đã phản ánh đúng đắn tư
tưởng và địa vị giai cấp của ông ở thời kỳ xã hội loạn lạc. Họ đại diện cho tầng lớp
quý tộc sa sút, mất địa vị xã hội, nên hoài nghi ở hiện thực, lo sợ trước tương lai,
quay lưng với thực trạng xã hội đương thời để trốn tránh vào tự nhiên, hoài cổ.
Mong muốn cứu đời nhưng họ lại phủ nhận mọi hoạt động thực tiễn của con người
để cuối cùng tìm đến quyền lực, sức mạnh của tự nhiên – “đạo”, và chính họ đã
tuyệt đối hóa nó để biến thành sức mạnh siêu nhiên thần bí.
Với tư tưởng hết sức đặc sắc về “đạo” về phép biện chứng chất phác cũng như về
quan điểm “vô vi”, triết học Đạo gia thực sự trở thành viên ngọc quý của nền triết
học phương Đông. Tư tưởng của triết học Đạo gia làm người đời sau phải kinh ngạc
và thán phục trước sức mạnh tư duy độc đáo. Tuy triết học Đạo gia vẫn còn những
thiếu sót, hạn chế, nhưng về phương diện lịch sử, chúng ta cũng phải nghiêng mình
trước những di sản tài hoa và sắc sảo.
Đạo gia ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng văn hóa truyền thống của Trung Quốc
và nhiều nước trên thế giới. Đạo gia còn đóng góp rất nhiều cho nền văn minh Trung
Quốc nói riêng và thế giới nói chung về triết học và nghệ thuật. Nhiều sinh hoạt độc
đáo ra đời và lan truyền rộng rãi trên thế giới bắt nguồn từ Đạo gia như thuật phong
thủy, phương pháp châm cứu và bấm nguyệt…
Trang 15
Lâm Hữu Cường-CHKT.K21.D5 GVHD:TS Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS Bùi Văn Mưa, Đại cương về lịch sử triết học (phần I), TP.HCM, 2011
2. />3. />4. />5. />6. />7. />8. />Trang 16