đồng bào dao ở hai tỉnh bắc kạn và cao bằng trong cuộc vận động cách mạng tháng tám (1941-1945) - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÊ CHÍ TRUNG ĐỒNG BÀO DAO Ở HAI TỈNH BẮC KẠN
VÀ CAO BẰNG TRONG CUỘC VẬN ĐỘNG
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (1941 - 1945)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG NGỌC LA


4. …………………………7
5. …………………………………………… 7
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN CƢ TRÖ, TỔ CHỨC LÀNG
BẢN, QUAN HỆ XÃ HỘI, DÕNG HỌ VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN
TỘC DAO Ở HAI TỈNH BẮC KẠN VÀ CAO BẰNG
1.1. Địa bàn cư trú……………………………………………… … 9
1.1.1. Điều kiện tự nhiên…… ……… …………………………… 9
1.1.2. Dân tộc Dao ở Bắc Kạn và Cao Bằng ……………………… 18
1.2. Tổ chức làng bản, quan hệ xã hội, dòng họ và truyền thống … 23
1.2.1. Tổ chức làng bản, quan hệ xã hội và dòng họ…………………23
1.2.2. Truyền thống yêu nước trước 1941 …………… …………… 24
Chƣơng 2. NH ,
(1941-1945)
2.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng……… 33
2.2. Tiếp thu ánh sáng cách mạng Đảng, chuẩn bị lực lượng 38
2.2.1. Tiếp thu ánh sáng cách mạng của Đảng………………………. 38
2.2.2. Sự ra đời và phát triển khu Quang Trung …………………… 52
2.2.3. Trong cuộc đấu tranh chống khủng bố ………………. ……… 53
Chƣơng 3. THAM GIA
C, GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI TRONG
TỔNG KHỞI NGHĨA
3.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương……. 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3.2. Trong khởi nghĩa giành chính quyền từng phần………………………. 67
3.3. Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám…………………………………… 79
3.3.1. Thời cơ khởi nghĩa và chủ trương của Đảng…………………………79
3.3.2. Khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh……………………….81
Kết luận…………………………………………………………………… 88
Tài liệu tham khảo………………………………………………………. 92

mạng.
Trong cao trào kháng Nhật cứu nước, từ địa bàn hoạt động của người
Dao, khởi nghĩa giành chính quyền từng phần diễn ra sớm và rất sôi nổi ở các
huyện như Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Kạn), Nguyên Bình…(Cao Bằng). Thắng
lợi trong cao trào kháng Nhật cứu nước đã giải phóng và thành lập chính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
quyền cách mạng ở hầu khắp vùng nông thôn, miền núi trong đó có địa bàn
người Dao đã tạo thế và lực cho việc giành chính quyền trong toàn tỉnh ở Bắc
Kạn và Cao Bằng tháng 8 năm 1945.
Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám,
, cùng với nhân dân các dân tộc anh
cùng nhân dân các dân tộc và lực lượng
vũ trang .
Nghiên cứu đ
vận động Cách mạng Tháng Tám (1941-1945) sẽ góp phần làm sáng tỏ truyền
thống yêu nước và cách mạng của đồng bào Dao, làm phong phú thêm hình
thái vận động và bài học kinh nghiệm về công tác tuyên truyền, vận động
quần chúng, về việc sử dụng hình thức bạo lực cách mạng trong cuộc vận
động Cách mạng tháng Tám.

trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám (1941-
1945)” K .
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Những thập kỉ qua, , nhiều cuốn
sách, bài viết, hồi kí, tài liệu tham khảo…đề cập các vấn đề có liên quan đến
mạng Tháng Tám (1941-1945).
Năm 1977, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng xuất bản tài liệu Văn kiện

xuất bản Sự thật, năm 1985 đã viết về khởi nghĩa giành chính quyền ở các địa
phương, trong đó có trình bày sơ lược diễn biến, thắng lợi của Cách mạng
tháng Tám ở Bắc Kạn và Cao Bằng năm 1945.
Năm 2000, Ban chấp hành Đảng bộ Bắc Kạn, phát hành cuốn “ Lịch sử
Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, tập I” do Phó Giáo sư Lê Mậu Hãn (chủ biên). Phần

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
mở đầu cuốn sách đã khái quát về vị trí địa lí, đặc điểm dân cư, truyền thống
cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn nói chung và đồng bào
Dao nói riêng trong quá trình xây dựng bảo vệ quê hương. Trong phần thứ
nhất: “Tiếp thu ánh sáng cách mạng, thành lập tổ chức Đảng, tiến lên giành
chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945”, các tác giả đã trình bày
khái quát quá trình xâm lược của thực dân Pháp và cuộc đấu tranh chống giặc
ngoại xâm của nhân dân các dân tộc trong tỉnh, tiếp thu ánh sáng cách mạng,
từng bước xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng, cơ sở Đảng, đánh dấu
bước ngoặt trong phong trào cách mạng ở Bắc Kạn.
Từ đây, Mặt trận Việt Minh đã nhanh chóng vận động các vùng đồng
bào dân tộc Tày, Nùng, Dao…, tham gia Hội Cứu quốc, góp phần thúc đẩy
cách mạng nhanh chóng, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn
tỉnh. Cuốn sách là nguồn tài liệu mới, để luận văn nghiên cứu kĩ hơn về Cách
mạng tháng Tám ở Bắc Kạn nói chung và đồng bào Dao ở Bắc Kạn trong
cuộc vận động Cách mạng tháng Tám (1941-1945) nói riêng.
Năm 1982, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cao Bằng phát hành cuốn
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng 1930-1945, Tập I” Cuốn sách trình bày
khái quát đặc điểm, địa bàn sinh sống, truyền thống cách mạng của nhân dân
các dân tộc tỉnh Cao Bằng, trong đó có nêu khái quát về đồng bào Dao, đặc
biệt là ở Nguyên Bình trong cuộc vận động Cách mạng tháng Tám.
Ở các địa phương có các cuốn: “Lịch sử Đảng bộ huyện Na Rì (1930-

Ngoài ra, quá trình chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa vũ trang giành
chính quyền của đồng bào dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng,
còn được đề cập trong một số hồi kí cách mạng như: “Từ nhân dân mà ra”
của đồng chí Võ Nguyên Giáp, Nxb Quân đội nhân dân, 1964; hồi ký của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Nông Văn Quang “ Con đường Nam tiến”, Nxb Văn hóa Dân tộc, 1995. Các
cuốn hồi ký trên chứa đựng nhiều nội dung phong phú, trong đó có đề cập tới
việc xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng , khu vận động cách mạng
của đồng bào Dao ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng.

đồng bào Dao ở
hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng trong cuộc vận động cách mạng tháng Tám
(1941-1945)
: “
động Cách mạng tháng Tám (1941-
1945)”
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ
TÀI

đồng bào Dao ở hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng
trong
.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian: thuộc phạm vi hai t .
: t
.


.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8

.
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN

3 chương:
, tổ chức làng bản, quan hệ xã hội,
dòng họ .
.
Chương 3: Tham gia trong ca
, góp phần vào thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
CHƢƠNG I
KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN CƢ TRÖ, TỔ CHỨC LÀNG BẢN, QUAN HỆ
XÃ HỘI, DÕNG HỌ VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC DAO Ở
HAI TỈNH BẮC KẠN VÀ CAO BẰNG
1.1. ĐỊA BÀN CƢ TRÖ

phương Bắc đô hộ. Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, Bắc Kạn thuộc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
quận Giao Thuỷ, sang thời Đường Bắc Kạn là miền đất thuộc Châu Long sau
đó thuộc châu Võ Nga.
Từ thế kỷ X trở đi đặc biệt dưới thời Lý - Trần (1010 - 1400) lần đầu tiên
trên đất nước ta, hệ thống hành chính – quan chức từng bước được xác lập,
củng cố và mở rộng một cách có hệ thống. Nhà Lý chia cả nước thành: Lộ,
Phủ, Châu. Vùng đất từ Thái Nguyên lên Bắc Kạn, Cao Bằng gọi là phủ Phú
Lương. Dưới phủ là các châu, vùng đất Bắc Kạn gồm các châu: Thanh Bình
(Chợ Mới), Vĩnh Thông (Bạch Thông, Ba Bể, Pác Nặm), Cảm Hoá (Ngân
Sơn, Na Rì) [38-tr.17].
Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, vua Lê Thái Tổ lập lại chủ
quyền, bờ cõi theo như cũ. Năm 1490, thời Hồng Đức, vùng đất Bắc Kạn
được gọi là phủ Thông Hoá, thuộc trấn Thái Nguyên. Phủ Thông Hoá vẫn
gồm các châu như thời Lý -Trần. Riêng châu Vĩnh Thông đổi thành châu
Bạch Thông.
Thời Lê Trung Hưng, vùng đất Bắc Kạn thuộc trấn Thái Nguyên các đơn
vị hành chính về căn bản vẫn như cũ. Dưới triều vua Quang Trung cũng vậy.
Thời Nguyễn, năm 1831 - 1832 Minh Mạng đã tiến hành cuộc cải cách
hành chính chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa Thiên, dưới tỉnh là
châu - huyện, tổng, xã. Bắc Kạn thuộc tỉnh Thái Nguyên, gồm hai châu là
Bạch Thông và Cảm Hoá.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách xâm lược và đô hộ
nước ta, chúng đánh lên các khu vực miền núi phía Bắc trong đó có Bắc Kạn.
Sau khi chiếm xong Bắc Kạn bằng vũ lực, thực dân Pháp chuyển sang cai trị
và bóc lột bằng việc thiết lập bộ máy chính quyền thực dân.
Tháng 4 năm 1900, toàn quyền Pháp P. Đume ra nghị định thành lập đơn

Sông Cầu bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn, chảy qua tỉnh Thái Nguyên, Bắc
Giang rồi hợp với sông Thương, sông Lục Nam tạo nên hệ thống sông Thái

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Bình. Sông Cầu (Tả Luông) có hai nguồn nước, nguồn nước từ các sơn phận
Phương Viên (Chợ Đồn) và Yên Đĩnh (châu Bạch Thông) chảy theo hướng
đông nam, nguồn sơn phận xã Vi Hương và Phương Linh (huyện Cảm Hoá)
chảy phía đông nam, gặp nhau ở phía Đông huyện Định Hoá (tỉnh Thái
Nguyên).
Ngoài ra Bắc Kạn còn có các sông Bắc Giang (Tả Lương Thượng), Sông
Năng (Tả Slo), thượng nguồn sông Đáy và nhiều suối khác. Nơi đây tập trung
dân cư đông đúc và là vùng lúa của tỉnh.
Với địa hình núi non, sông suối đã tạo cho Bắc Kạn một bức tranh phong
cảnh nên thơ:
Phja Dạ bấu lìa moóc cảnh tiên
Phặc phiền phồng đáo đeng nả đán
(Phja Dạ mây trắng phủ đẹp như cảnh tiên
Hoa phặc phiền nở thắm đỏ trên vách đá)
Dãy Phja Bjoóc hùng vĩ, kéo dài qua các huyện Chợ Rã (nay là Ba Bể)
Bạch Thông, Chợ Đồn. Trong cuộc vận động cách mạng tháng Tám, dãy núi
Phja Bjoóc được đặt tên là “Núi cứu quốc”, Trên dãy núi này có những đỉnh
cao như: đỉnh Phja Bjoóc (1600m), đỉnh Phja Iểng (1527m), đỉnh Khuổi Tàng
(1359m).
Ngoài ra, Bắc Kạn còn có các núi Yên Đĩnh, Yên Hân…, xen giữa
những vách đá dựng đứng là các thung lũng, chạy song song các sông suối tạo
thành những đồng lúa màu mỡ.
Quốc lộ 3 là con đường huyết mạch chạy dài suốt từ phía Bắc xuống
phía Nam qua Thái Nguyên về Thủ đô Hà Nội và ngược lại có thể lên phía

Quang, có đường biên giới giáp Trung Quốc dài 300km ở phía Đông và phí
Bắc. Cao Bằng có diện tích tự nhiên khoảng 6.700km
2
, dân số năm 1939 là
173.460 người sinh sống thuộc các thành phần dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa,
Mông, Dao, Lô Lô… có tầm quan trọng về các mặt kinh tế, chính trị, quốc
phòng [8, tr.11].
Địa danh Cao Bằng xuất hiện rất sớm trong lịch sử Việt Nam và đã được
sử sách ghi chép lại. Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, đời các Hùng
Vương, nước Văn Lang chia thành 15 bộ, “Cao Bằng xưa, đông bắc tiếp giáp
Lưỡng Quảng, tây nam tiếp giáp Thái Nguyên, Lạng Sơn. có 1 lộ 4 châu 273
làng xã. Đây là nơi phên dậu thứ tư về phương Bắc vậy” [51, tr.50].
Trải qua các triều đại phong kiến, năm 1428 khi nhà Lê sơ thành lập, Lê
Thái Tổ chia đất nước thành 5 đạo, Thái Nguyên thuộc Bắc Đạo. Dưới đạo là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
trấn, lộ, huyện, châu và cuối cùng là xã. Năm 1466 Lê Thành Tông chia cả
nước thành 12 đạo Thừa Tuyên [41.tr 319]. Thái Nguyên là một trong 12 đạo
Thừa Tuyên. Vùng đất Cao Bắc lúc đó là phủ Bắc Bình trực thuộc Thừa
Tuyên Thái Nguyên.
Đến năm Hồng Đức thứ 4 (1473) phủ Bắc Bình đổi tên thành phủ Cao
Bằng, vẫn trực thuộc Thừa Tuyên Thái Nguyên.
Năm 1677, phủ Cao Bằng tách khỏi Thái Nguyên, đặt tên riêng là trấn
Cao Bằng. Cao Bằng từ thời điểm đó chịu sự điều hành trực tiếp của chính
quyền Trung ương (Triều đình), bình đẳng với Thái Nguyên, không lệ thuộc
với Thừa Tuyên nào. Trấn Cao Bằng thời điểm đó tương đương với tỉnh Cao
Bằng ngày nay.
Thời kỳ Pháp thuộc, sau khi chiếm được Cao Bằng (1886), thực dân

Với hệ thống giao thông như vậy, vùng đất Cao Bằng không chỉ có ý
nghĩa to lớn trong sự thông thương quốc tế, mà từ Cao Bằng theo các hướng
có thể dễ dàng tiến về vùng Trung du, đồng bằng ven biển và Hà Nội.
Phía Đông, có thể men theo rừng núi mà tiến đến lân cận Hải Phòng và
đi ra biển. Theo phía nam xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên, nhanh chóng tiếp
cận Hà Nội. Phía Tây có thể men theo rừng núi mà tiến sang Hà Giang, xuống
Tuyên Quang sang Yên Bái… hoặc xuôi về Hà Đông hay liên lạc với Thanh -
Nghệ. “Đứng về địa thế mà luận thực là mộ nơi dụng binh hiểm yếu tiến khả
dĩ công, thoái khả dĩ thủ”. Cũng chính vì những điều kiện thuận lợi như vậy
nên khi về nước, Hồ Chủ Tịch đã sớm chọn Cao Bằng làm nơi xây dựng căn
cứ địa, biến nơi đây thành chỗ dựa vững chắc để xây dựng lực lượng và từ đó
phát triển phong trào ra toàn quốc.
Địa thế Cao Bằng hiểm trở, rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh,
đặc điểm địa hình phức tạp, đa dạng, xong có thể chia làm 3 loại địa hình
chính:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Miền địa hình núi đá vôi, bao gồm hệ thống các dãy núi đá vôi chiếm
khá lớn trong tỉnh, hầu hết ở các huyện Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang,
Quảng Uyên, Phục Hoà, Hà Quảng, Thông Nông và một số khu vực phía Bắc
huyện Thạch An, đông nam Bảo Lạc, Bảo Lâm, đông bắc Nguyên Bình. Núi
đá vôi tạo ra nhiều hang động, thung lũng kín đáo có tác dụng che dấu lực
lượng như các hang động Bó Lình (Quảng Uyên), hay Pác Bó (Hà Quảng),
thung lũng núi đá Lam Sơn (Hoà An), hay Kéo Quảng (Nguyên Bình)…
Miền địa hình núi cao, phân bố chủ yếu ở các huyện miền Tây của tỉnh
như Nguyên Bình, Bảo Lạc, Thạch An và một phần diện tích phía Nam huyện
Hoà An. Đặc biệt là hệ thống núi cao Bảo Lạc - Nguyên Bình, bao gồm nhiều
dãy núi cao kéo dài từ phía tây nam huyện Bảo Lạc sang phía tây nam huyện

với sự tương tác tương hỗ các yếu tố tự nhiên, nơi đây đã hình thành nhiều
loại đất khác nhau. Tuy nhiên, phân loại theo độ cao địa hình, đất đai Cao
Bằng được chia ra làm 3 nhóm chính: Nhóm đất núi cao, phân bố ở độ cao
900m so với mặt nước biển, diện tích sử dụng cho nông nghiệp của nhóm đất
này chỉ chiếm khoảng 5,59%, ở khu vực này là địa bàn sinh sống chủ yếu của
người Mông, Dao. Với diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp nhỏ, hẹp như
vậy cho nên đời sống của người Mông, Dao còn gặp nhiều khó khăn. Đây
cũng là một trong những nguyên nhân làm cho đồng bào Mông, Dao ở khu
vực này hăng hái tham gia cách mạng.
Nhóm đất đồi, hình thành trên vùng đất núi thấp, chủ yếu là đồi hoặc địa
hình lượn sóng nên bị chia cắt, độ dốc lớn nên làm hạn chế đến việc sử dụng
đất trong sản xuất nông - lâm nghiệp, khu vực này là địa bàn sinh sống chủ
yếu của người Tày, Nùng, Kinh.
Nhóm đất bằng thung lũng, do yếu tố địa hình chi phối nên Cao Bằng
không có những cánh đồng rộng lớn, mà chỉ có những thung lũng nằm xen kẽ
giữa các dãy núi hoặc long ván hẹp ven các con sông với những dải phù sa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
nhỏ bé, thuận lợi cho Cao Bằng trong quá trình sản xuất, canh tác nông
nghiệp.
Khoáng sản Cao Bằng rất phong phú, đa dạng có nhiều khoáng sản quý
như: Quặng sắt phân bố ở toàn thị xã Cao Bằng (Nà Lủng, Nà Rụa) ở xã Dân
Chủ (Hoà An); xã Thể Dục, Triệu Nguyên (Nguyên Bình). Quặng Mangan tập
trung chủ yếu ở các huyện miền đông: huyện Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ
Lang, Quảng Hoà, quặng nhôm (bôxít), tập trung chủ yếu ở các huyện Thông
Nông, Hà Quảng, Nguyên Bình, Quảng Hoà. Ngoài ra còn một số điểm quặng
nhôm (boxít) phân bố ở phía bắc huyện Hoà An; Quặng chì - kẽm ở các
huyện Nguyên Bình; Quặng thiếc Vonfram, phân bố chủ yếu ở phía tây bắc

sách quý của người Dao. Mặc dù còn mang một vài yếu tố hoang đường
nhưng cũng phản ánh nhiều nét hiện thực đời sống của tộc người.
Người Dao ở Việt Nam vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc, quá trình di cư
của họ vào Việt Nam là cả một thời kì dài và có thể bắt đầu từ thế kỷ XIII.
Nhưng đến nay vẫn chưa có được những tài liệu chắc chắn để khẳng định
người Dao di cư vào Việt Nam từ năm nào. Dựa vào trí nhớ và một số ít
những gia phả của người Dao, chúng ta chỉ có thể sơ bộ thấy rằng người Dao
di cư vào Việt Nam qua nhiều thời kì bằng nhiều đường và nhiều nhóm khác
nhau [24, tr.22].
Hiện nay, những người Dao cư trú ở vùng Tây Bắc Bắc Bộ đến Việt
Nam vào khoảng thế kỷ XIII và đi theo đường bộ. Còn những người Dao ở
vùng Đông Bắc Bắc Bộ và một số tỉnh trung du bắt đầu đến Việt Nam vào
khoảng thế kỷ XIII cho tới đầu thế kỷ XX, họ đã đi bằng đường thuỷ là chủ
yếu.
Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều nhóm Dao với những tên gọi khác nhau
nhưng qua các tài liệu và căn cứ vào các đặc điểm văn hoá mà nét chủ yếu là
trang phục phụ nữ thì có thể xác định được người Dao ở nước ta có các nhóm
sau đây.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
Dao Đỏ còn gọi là Dao Coóc Ngáng, Dao Đại Bản
Dao quần chẹt còn có tên là Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga
Hoàng hay Dụ Kùn.
Dao Ô Gang còn có tên là Dao Thanh Phàn (Thanh Bản) Dao đội ván,
Dao Coóc Mùn.
Dao tiền còn gọi là Dao đeo tiền hay Tiểu Bản.
Dao Quần Trắng, gọi là “khổ bạch” tên gọi bắt nguồn từ tục lệ đã có từ
lâu trong lễ cưới là cô dâu phải mặc quần trắng.

Theo Giản chí tỉnh Bắc Kạn năm 1932, người Dao ở Bắc Kạn có 6500
người trong tổng số 53000 người đứng thứ hai sau dân tộc Tày. Năm 1960,
người Dao xếp thứ ba (10.813 người) sau dân tộc Tày và Kinh. Năm 1997 tái
lập tỉnh, dân số người Dao có 24.000 người xếp ở vị trí thứ ba. [38, tr.162].
Theo cuộc tổng điều tra dân số gần đây nhất (2009) dân số người Dao có
51.801 người, chiếm 17.6% dân số toàn tỉnh và đứng thứ hai sau dân tộc Tày.
Cũng theo tổng điều tra dân số năm 2009, người Dao ở Cao Bằng có
51.124 người bằng 10.1% dân số toàn tỉnh.
Là tỉnh miền núi, vùng cao nên thời kỳ trước những năm 60 của thế kỷ
XX, địa bàn cư trú của người Dao chủ yếu là ở các khu vực vùng núi cao
thuộc huyện Ba Bể, Pác Nặm, Ngân Sơn, Bạch Thông, Chợ Đồn, Na Rì, Chợ
Mới (Bắc Kạn), Thông Nông, Bảo Lạc, Quảng Uyên, Hoà An, Nguyên
Bình… (Cao Bằng).
Với cuộc vận động định canh định cư, định cư vào những năm 60 của
thế kỷ XX, địa bàn cư trú của người Dao được mở rộng đến một số xã vùng
thấp. Phạm vi canh tác lúa nước nhờ vậy được mở rộng. Công cuộc xây dựng
Chủ nghĩa xã hội với sự phát triển nhiều mặt đã giúp Bắc Kạn và Cao Bằng
hình thành những lớp cán bộ cách mạng người Dao.

Trích đoạn Trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám Khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status