TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT
GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CƠ BẢN 4
CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG ARISTOTE 11
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
1
MỞ ĐẦU
Ngược dòng lịch sử thời gian , trở về đất nước Hy Lạp cổ đại vào khoảng thế kỷ
VI-V (BC), có thể nói Hy Lạp cổ đại là một đất nước có một nền văn minh phát triển
mạnh mẽ và rực rỡ về mọi mặt kinh tế, chính trị, tri thức và đặc biệt là triết học, đây là
một dấu ấn vàng son của lịch sử triết học phương Tây và cũng nền tảng của triết học nhân
loại. Trong thời vàng son của nền văn minh Hy Lạp cổ đại, Aristote được C. Mác đánh
giá là nhà thông thái “Nhà tư tưởng vĩ đại nhất”, được các nhà triết gia xem là “vị thầy
của những người hiểu biết”.
Những tác phẩm của Aristote lên đến hàng trăm cuốn. Trước hết là những tác
phẩm về luận lý dạy các cách xếp đặt và phân loại các ý nghĩ. Rồi đến các tác phẩm khoa
học như vật lý học, thiên văn học, khí tượng học, vạn vật học, những sách nói về sự phát
triển và suy tàn, về linh hồn, về cơ thể sinh vật, về cử động và về sự sinh đẻ. Loại thứ ba
là những sách dạy về cách viết văn và làm thơ. Loại thứ tư là những sách về triết lý như
đạo đức học, chính trị học và siêu hình học. Toàn thể các tác phẩm của ông có thể xem là
một bộ bách khoa của Hy Lạp. Dưới thời trung cổ, một ngàn năm sau khi Aristote qua đời
người ta còn hăng say dịch lại các tác phẩm của ông để theo đó mà hướng dẫn tư tưởng.
Aristote còn là cha đẻ của nhiều học thuyết và nhiều ngành học có ảnh hưởng lớn
cả đến nền văn minh nhân loại suốt nhiều thế kỷ sau ông. Những thành tựu của ông giúp
thúc đẩy khoa học tự nhiên phát triển, tuy nhiên cũng không ít những quan niệm sai lầm
của ông đã khiến cho loài người phải lạc lối suốt hàng trăn năm. Do đó, người viết chọn
đề tài “Giá trị và hạn chế tư tưởng Aristote” với mục đích tìm hiểu về tri thức mà
vào các tác phẩm từ trước để lại. Lối suy luận của người Hy Lạp trước thời Aristote
không được minh bạch, chính Aristote đã chấn chỉnh tình trạng này bằng cách đặt ra
những quy luật cho sự suy luận. Lôgíc có nghĩa là nghệ thuật và phương pháp suy nghĩ tư
duy chính xác hay logic. Đó là phương pháp của tất cả các khoa học , tất cả các nghệ
thuật kể cả âm nhạc. Lôgíc học là một khoa học vì nó có thể được trình bày dưới nhiều
định luật giống như các định luật vật lý và hình học, nó cũng là một nghệ thuật vì nó tập
cho tư tưởng quen với lối suy nghĩ chính xác. Aristotle được coi như cha đẻ của môn
4
logic học hình thức. Với tác phẩm Organon (công cụ chung của triết học, toán học, khoa
học cụ thể và của các lĩnh vực tƣ duy hay hoạt động cụ thể khác) ông đã khái quát những
hình thức cơ bản của tư duy: khái niệm, phán đoán, suy luận ; tìm ra những qui luật cơ
bản của logic hình thức: đồng nhất, phi mâu thuẫn, bài trung và những qui tắc cơ bản của
phép tam đoạn luận. Logic học hình thức của Aristote được công nhận và tồn tại kéo dài
suốt thời kì trung cổ
Aristote là người khám phá ra các qui luật cơ bản của tư duy logic như qui luật
đồng nhất, qui luật cấm mâu thuẫn, qui luật loại trừ cái thứ 3. Ông khẳng đình hình thức
của tư duy là sự phản ánh các hình thức tồn tại của sự vật. Ông đã đưa ra một hệ thống
phạm trù gồm 10 phạm trù: bản chất, chất lượng, số lượng, vị trí, thời gian, quan hệ, tình
trạng chiếm hữu, hành động và chịu đựng. Theo Aristotle, những phạm trù này là sự phân
loại các khái niệm được dùng trong nhận thức khoa học. Chúng là những cách thức biểu
hiện chuyên biệt của bất cứ sự vật nào tồn tại.
Trong Logic học của mình, Aristotle quan niệm rằng để chuyển những suy tư của
chúng ta về sự tồn tại và hoạt động của sự vật thì ngôn từ chính là phương tiện truyền tải
quan trọng nhất. Do đó, ngôn ngữ chính là công cụ để phát biểu những tư duy khoa học.
Vì thế logic học là sự phân tích về ngôn ngữ, về tiến trình suy luận và về cách thức mà
ngôn ngữ và suy luận liên quan đến thực tại. Do rất quan tâm đến sự chặt chẽ của hệ
thống lý luận và thích thú với cắt nghĩa chứng minh, Aristotle đã khai triển về cách suy
luận diễn dịch và hình thành nên học thuyết Tam đoạn luận. “Aristote đã đưa ra một ví
dụ rất nổi tiếng:Mọi người đều phải chết, mà Socrate là người, vậy, Socrate phải chết hay
ví dụ mọi kim loại đều dẫn điện, mà đồng là kim loại, vậy đồng đẫn điện. 2 ví dụ trên có
bào thai là nguyên thể phát sinh. Bào thai là hình thể do noãn châu là nguyên thể phát
sinh. Nếu chúng ta đi lần mãi vào nguồn gốc của nguyên thể chúng ta sẽ tìm thấy một ý
niệm về nguyên thể mà không có hình thể (tức là Thiên chúa)” [4,Will Durant, Trí Hải và
Bửu Đích dịch, Câu chuyện Triết học, Tr 28].
IV. Vật lý học
Aristote lấy siêu hình học làm cơ sở luận để xây dựng môn Vật lý học mang tính tự
nhiên, bàn về vũ trụ, giới tự nhiên và quá trình vận động của chúng. Ông xây dựng thuyết
6
vận động cho rằng “giới tự nhiên là toàn bộ các sự vật, quá trình luôn vận động có liên hệ
với nhau và được cấu thành từ một bản thể vật chất. Vận động không thể bị tiêu diệt và
cũng không thể tách ra khỏi sự vật, quá trình tự nhiên” [5, Bùi Văn Mưa chủ biên, Sách
Triết học phần I Đại cương về lịch sử triết học, Tr 111]
Vào thế kỷ thứ IV TCN, Aristote đã viết quyển "Vật Lý học" đầu tiên của nhân
loại. Phương pháp trình bày của Aritxtote trong cuốn sách này khác hẳn ngày nay. Trong
sách hoàn toàn không có công thức toán học và không có thí nghiệm. Ông đi đến kết luận
bằng cách lập luận và bằng trực giác.
- Công nhận sự tồn tại khác quan của vật chất. Nhưng vật chất (ví dụ: chất đá) mới
chỉ là tiềm năng của vật thật, muốn trở thành vật thật (ví dụ: pho tượng), vật chất phải có
thêm hình thức nữa. Mỗi vật thật đều là sự thống nhất của vật chất và hình thức.
- Phủ nhận chân không vì nếu có chân không thì không có sức cản nên tốc độ mọi
vật đều lớn vô hạn và mọi vật đều rơi với vận tốc như nhau. Điều đó là vô lý vì theo ông
vật nặng phải luôn rơi nhanh hơn vật nhẹ.
- Toàn bộ vật chất trong vũ trụ được tạo thành từ 4 yếu tố ban đầu: đất, nước, lửa,
không khí, có thể chuyển hóa lẫn nhau.Các yếu tố này được tác động bởi hai lực: lực hấp
dẫn có xu hướng làm chìm xuống đối với đất và nước, lực nâng có xu hướng làm nâng lên
đối với không khí và lửa. Trong nước, nếu nóng thắng lạnh thì nước trở thành hơi nước,
nếu khô thắng ẩm thì nước trở thành nước đá. Bốn tính chất này luôn đấu tranh với nhau
tạo ra sự chuyển hóa các yếu tố và mọi hiện tượng trong thiên nhiên.Mỗi yếu tố đều có vị
trí tự nhiên của nó trong thế giới. Vị trí tự nhiên của đất là địa cầu , là trung tâm bất động
của thế giới. Vị trí tự nhiên của nước là phần khối cầu bọc ngoài địa cầu. trí tự nhiên của
Đạo đức là cái vốn có của con người, trong đó quan trong nhất là phẩm hạnh.
Phẩm hạnh của mỗi con người được biểu hiện trong quan niệm và thái độ đối với hạnh
phúc cũng như những hành động trong điều kiện không có sự giám sát của người khác,
Aristotle chia phẩm hạnh ra làm hai loại:
1) Phẩm hạnh trí tuệ (La vertu intellectuele): là sự khôn ngoan triết học và hiểu
biết, chúng phát sinh và tăng trưởng nhờ dạy dỗ và học tập. Người có phẩm hạnh trí tuệ là
người có tri thức kinh nghiệm, định hướng và làm chủ được trong đời sống của mình.
8
2) Phẩm hạnh luân lý (La vertu morale): mọi phẩm hạnh này đều phát sinh do tập
quán, vì thế có tên gọi là ethike (tiếng Hy Lạp), ethics (tiếng Anh) có nghĩa là Đạo đức
học “một biến dạng của từ ethos, tập quán”. Mọi phẩm hạnh luân lý phải được học và
thực hành, và chúng trở thành đức hạnh qua hành động. Các phẩm hạnh luân lý cốt yếu
là: can đảm, tiết độ, công bằng khôn ngoan, cao thượng, hào phóng, bằng hữu và tự trọng.
VI. Chính trị - xã hội
Aristotle viết Chính Trị Luận năm 350 trước Thiên Chúa giáng sinh (BC). Cuốn
sách này được xem là căn bản cho Chính trị học Tây phương và ảnh hưởng sâu rộng tới
các tư tưởng gia đời sau. Các lý thuyết gia hiện đại dựa trên nền tảng này mà phê phán lý
thuyết và mô hình chính trị kiểu Aristotle. Nhờ vậy, họ đã phát triển nên các hệ tư tưởng
mới. Vì thế, dù ta đồng ý hay không với lập luận và lý thuyết của Aristotle, hiểu rõ các
nguyên lý căn bản mà Aristotle đã đề ra vẫn là điều cần thiết để có thể hiểu được các nhà
tư tưởng thời Khai sáng và Hậu hiện đại. Trong Chính Trị Luận, Aristotle dùng phương
pháp luận lý quy nạp, đi từ đơn vị xã hội nhỏ nhất là gia đình tới xã hội và cuối cùng là
quốc gia, để tìm ra những đặc tính thiết yếu mà nhà nước phải có để trở thành một nhà
nước lý tưởng. Ngoài phương pháp quy nạp, Aristotle cũng dùng phương pháp so sánh
giữa mô hình nhà nước "lý tưởng" và mô hình nhà nước trong thực tế và đưa ra những
nguyên lý xây dựng một nền chính trị mang lại "điều tốt nhất" cho con người
Aristotle mở đầu Chính Trị Luận bằng lập luận rằng nhà nước, hay cộng đồng
chính trị là cái tốt cao nhất và lý do để nhà nước hiện hữu là để giúp cho công dân sống
một đời sống tốt. Do đó, việc giáo dục công dân trở thành những người dân đạo đức là
điều tối quan trọng. Khi một nước có được những người dân vừa học thức lại vừa đức
Hy Lạp trước thời Aristote không được minh bạch, chính Aristote đã chấn chỉnh tình
trạng này bằng cách đặt ra những quy luật cho sự suy luận. Aristote cho rằng muốn đạt
được chân lý, tránh sai lầm trong quá trình tìm hiểu bản chất, khám phá các qui luật của
hiện thực khách quan thì phải trang bị các phương phátp suy nghĩ đúng đắn. Ông tạo môn
học mới: lôgíc học hình thức – môn học này là nghệ thuật và phương pháp suy nghĩ tư
duy chính xác, là phương pháp suy luận của tất cả các ngành khoa học tự nhiên kể cả lĩnh
vực và âm nhạc
Aristote để lại cho nhân loại hệ thống tri thức đồ sộ và có ảnh hưởng sâu rộng về
nhiều mặt đến đời sống của nhân loại. Với phương châm “Platon là thầy nhưng chân lý
còn quý hơn nhiều” Aristote đã đứng trên quan niệm duy vật tiến bộ phê phán thuyết ý
niệm của Platon. Ông vạch ra tính vô dụng của thuyết ý niệm và tính bịa đặt chứa trong
quan niệm về nhận thức của Platon, phủ nhận sự tồn tại tri thức bẩm sinh trong linh hồn.
Tư tưởng triết học thuần túy của Aristote vạch ra những vấn đề trừu tượng tế nhị nhất
một cách thật đáng ngạc nhiên. Mọi tư tưởng triết học đều được ông khai thông và những
kho tàng tư tưởng dù ở lĩnh vực nào cũng được ông nghiên cứu thành công. Aristote đã
đặt nền móng cho tư tưởng vững chắc và giúp cho thế hệ tương lai dựa vào. Mặt khác
ông đã phát triển sự nghiên cứu sưu tầm hầu hết các tri thức con người trên con đường
tìm chân lý. Chính vì vậy, những nền văn minh kế tiếp đều chịu ảnh hưởng tư tưởng triết
học của ông, những tác phẩm của ông đã được phiên dịch trong suốt quá trình tiến triển
11
của nhân loại và cho dù có trải qua mấy chục thế kỷ nhưng vẫn không bị lu mờ bởi những
tiến bộ khoa học hiện đại
Trước thời Aristote dân cổ Hy Lạp có khuynh hướng giảng giải tất cả những hiện
tượng thiên nhiên như là hành vi của các thần linh, khoa học thời bấy giờ rất thô sơ không
thể xem là khoa học, chỉ có thể coi như một loại thần học. Học giả Renan cho rằng
Socrate đem triết lý cho nhân loại, còn Aristote đem khoa học cho nhân loại. Với bộ óc
bách khoa toàn thư của mình, Aristote đã vươn lên bao quát và nắm bắt được mọi tri thức
khoa học có được lúc bấy giờ. Ông cũng có nhiều nhận xét giá trị về sức nóng của mặt
trời làm bốc hơi nước biển, làm cạn sông ngòi, nước bốc hơi thành mây và rơi xuống
thành mưa, Aristote cũng đã giảng giải một cách thoả đáng sự thành lập các lục địa trên
như: thuyết địa tâm xem Trái đất là trung tâm của vũ trụ hay phủ nhận thuyết chân không
quan điểm vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ, những sai lầm này đã ảnh hưởng tới nền khoa
học tự nhiên mấy trăm năm sau khi ông mất. Ông thường để cho các tư tưởng siêu hình
ảnh hưởng đến các nhận xét khoa học của mình. Đây cũng là một đặc điểm của nền văn
hoá Hy Lạp là các học giả thời ấy thường đi đến kết luận một cách quá hấp tấp. Sự do dự
giữa chủ nghĩa duy vật và duy tâm đã đưa Aristote đến với chủ nghĩa nhị nguyên khi ông
đưa ra thuyết nguyên nhân thay cho thuyết ý niệm. Khi bàn về các vấn đề siêu hình hoc
Aristote chuyển từ lập trường nhị nguyên sang duy tâm, Aristote đã rơi vào mục đích luận
của Thần học. Tại đây, thay vì phải tách xa thuyết ý niệm của Platon thì ngược lại thuyết
nguyên nhân của Aristote lại tiến gần, thậm chí hòa nhập vào thuyết ý niệm của Platon.
Những nghiên cứu về sinh học của Aristote cũng mắc phải những sai lầm như ông
không biết gì về sự hiện hữu của các bắp thịt trong cơ thể, ông không phân biệt động
mạch và tĩnh mạch, ông tưởng rằng khối óc dùng để làm cho máu trở nên lạnh, ông tin
rằng đàn ông có nhiều mảnh xương sọ hơn đàn bà, ông tin rằng người ta chỉ có 8 cặp
xương sườn và đàn bà có ít răng hơn đàn ông. Ông đả kích thuyết cho rằng các sinh vật
đấu tranh để sống và chỉ những sinh vật nào thích hợp nhất mới được tồn tại. Ông cũng
phủ nhận thuyết cho rằng con người trở nên thông minh nhờ dùng 2 tay để làm việc thay
vì để di chuyển. Ông nói rằng cần phải suy nghĩ ngược lại nghiã là con người biết dùng 2
tay để làm việc vì đã trở nên thông minh
13
Tư tưởng của Aristote thuộc về một loại riêng biệt và không có những đặc tính của
những tư tưởng thuần tuý Hy Lạp. Khi ông đến thành Athènes, một thành phố Hy Lạp thì
ông đã là một người trưởng thành. Vì lẽ đó ông không bị ảnh hưởng bởi đặc tính bồng bột
của người Hy Lạp, luôn luôn tìm sự mới lạ trong lãnh vực chính trị, đi từ cải cách này đến
cải cách khác cho đến khi sát nhập vào một chính quyền trung ương. Trái lại Aristote luôn
luôn tìm cách tránh sự quá khích. Đặc tính ôn hoà của ông làm cho tư tưởng ông một đôi
khi có vẻ quá tầm thường. Ông rất sợ những tình trạng hỗn loạn trong xã hội đến nỗi đã
lên tiếng bênh vực chế độ nô lệ. Ông sợ những sự thay đổi và chủ trương một xã hội trung
thành với các tập tục cổ xưa. Ông quên rằng chế độ cộng sản của Platon chỉ áp dụng đối
với giai cấp thống trị, một giai cấp lý tưởng mà Platon đã coi như hoàn toàn giác ngộ,
tấm gương cho những người muốn tìm hiểu, học hỏi vươn tới thành công. Qua đề tài,
người viết đã thấm thía được muốn thành công trong trong học tập nói riêng và trong
cuộc sống nói chung thì ta phải lao động chăm chỉ, học tập thực sự.
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bùi Văn Mưa chủ biên, Triết học phần I Đại cương về lịch sử triết học
[2] Bùi Văn Mưa, Triết học và Bức tranh Vật lý học về thế giới, Nxb Đại học
quốc gia TP HCM 2011
[3] Will Durant, Trí Hải và Bửu Đích dịch, Câu chuyện triết học
[4] Nguyễn Tiến Dũng, Lịch Sử Triết Học Phương Tây, Nxb Tổng Hợp Tp.HCM,
2006
[5] Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử Triết học, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 1998
[6] Võ Văn Thắng, Kỹ năng tư duy logic, 01/2007
[6] Vật lý học của Aristote, truy cập ngày 20/2/2012 từ nguồn
http://www.vatlyhp.info/index.php?option=com_content&view=article&id=51:vt-ly-hc-
ca-aristote&catid=41:lch-s-vt-ly&Itemid=58
[7] Chính trị luận – Aristote, truy cập ngày 21/12/2012 từ nguồn
http://icevn.org/vi/node/366
[8] Triết lý siêu hình, truy cập ngày 22/12/2012 từ nguồn
http://www.vietlongplaza.com.vn/news-1036/Triet-l253-si234u-h236nh.htm
16