TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI: TRIẾT HỌC CỦA ARIXTỐT VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐẾN XÃ HỘI PHƯƠNG TÂY
Học viên thực hiện: Trần Thị Bích Kiều
STT: 29 Nhóm: 3
Lớp: Ngày 4 Khóa: 22
Giảng viên phụ trách: Ths. Bùi Văn Mưa
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
.
Tp.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Ký tên
LỜI MỞ ĐẦU
Aristotle (384-322 TCN) là nhà triết học, tự nhiên học danh tiếng nhất của nền văn
minh Hy Lạp cổ, và là một trong số các nhà triết học vĩ đại nhất của mọi thời đại. Cuộc đời
Năm 367 trước Công Nguyên, Aristotle vào học trường Academos của Plato. Ông đã
miệt mài nghiên cứu bên cạnh người thầy nổi tiếng của mình trong suốt 20 năm ròng. Dưới
ảnh hưởng của Platon, niềm đam mê của Aristotle cũng hướng vào triết học. Mặc dù
Aristotle là một môn đệ nhiều triển vọng nhất của Plato, nhưng Aristotle không kế thừa
Plato làm người đứng đầu học viện, vì Aristotle có những quan điểm đối lập về nhiều vấn
đề triết học căn bản, nhất là đối với học thuyết ý niệm của Plato. Sau khi Plato qua đời năm
347 Tr.CN, Aristotle cùng với Xenocrates đến Assos, một thành phố ở vùng Tiểu Á, ở đó có
một người bạn là Hermias đang trị vì. Trong thời gian ở triều đình Hermeias, Aristotle cưới
Pythias, cháu gái và là con nuôi của vua. Khi Hermias bị giết trong một vụ phiến loạn,
Aristotle đến Pella, kinh đô của Macedonia. Theo lời mời của vua Philip II, Aristotle làm
thầy day cho Alexander, con trai của nhà vua lúc đó mới 12 tuổi, về sau trở thành Alexander
Đại đế.
Năm 336 Tr.CN, Aristotle trở lại Athens và mở một trường dạy triết học riêng của
mình, gọi là Lyceum ( Học viện). Trường cũng còn được gọi là Trường tản bộ, vì Aristotle
thích bàn luận các vấn đề triết học với học trò trong lúc đi dạo. Học trò của ông cũng được
gọi là phái Tản bộ. Trong số những học trò nổi tiếng nhất của Aristotle có Theophrastus,
Eudemus, Strato và Andronicus.
Năm 323 Tr.CN, Alexander Đại đế qua đời một cách đột ngột và chế độ cại trị ở
Athen bị lật đổ bởi những thế lượng chống Macedonia, Aristotle không được chính quyền
mới ưa chuộng. Chính quyền mới buộc Aristotle tội nghịch đạo, nhưng ông đã chạy trốn về
quê nhà ở Chalcis, Euboea để tránh bị truy nã. Khoảng một năm sau Aristotle qua đời.
2. Các tác phẩm của Aristotle:
Aristotle viết về nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm siêu hình học, vật lý học, logic
học, thi học, sinh học và động vật học, thuật hùng biện, chính trị học, đạo đức học…
Những tác phẩm này của Aristotle được lưu giữ trong các thư viện của những người học trò
trong vài trăm năm và bị hư hỏng nhiều. Sau khi tướng Sulla chiếm Athen năm 86 Tc.CN,
những gì còn sót lại được đưa sang Roma, cuối cùng được xuất bản dưới hình thức sắp xếp
lại do Andronicus ở Rhodes, người đứng đầu Học viện ở Roma, khoảng năm 58 Tr.CN.
Những tác phẩm của Aristotle mà chúng ta có hôm nay là dựa vào bộ sưu tập này.
Xét về toàn bộ, Aristotle viết ba loại công trình: 1- Những đối thoại và các công trình
Mặc dù Aristotle luôn coi mình là một người theo chủ nghĩa Plato và tôn kính người
thầy của mình, tuy nhiên ông khác với Plato ở nhiều điểm. Các đối thoại của Plato và những
chuyên luận của Aristotle đối lập nhau về phương pháp nghiên cứu, bởi vì hai nhà triết học
này khác nhau ít nhất ở 3 phương diện quan trọng: thái độ đối với sự nghiên cứu, quan niệm
về bản chất của sự nghiên cứu và về mục tiêu của phép biện chứng.
Sự khác nhau căn bản giữa hai nhà triết học là ở chổ, Plato nghĩ rằng chỉ cần có tư
duy toán học thuần túy là đủ, vì vậy tập trung tất cả vào siêu hình học và toán học. Aristotle
ngược lại nghĩ rằng, để bổ sung cho triết học thứ nhất này còn cần phải tiến hành những
nghiên cứu kinh nghiệm cụ thể về tự nhiên , và vì thế phải nghiên cứu về cái mà ông gọi là
“triết học thứ hai”, bao gồm những môn như vật lý học, cơ học và sinh vật học.
Như vây, phương pháp triết học của Aristotle có liên quan không chỉ suy luận diễn
kịch, mà còn có cả suy luận quy nạp, bằng cách quan sát sự vận hành của thế giới chung
quanh mình để rồi lập luận từ cái riêng đến tri thức về bản chất và quy luật phổ biến. Theo
một nghĩa nào đó, Aristotle là người đầu tiên khởi xướng phương pháp khoa học hện đại.
Aristotle có thể được coi là người cha của phương pháp khoa học.
CHƯƠNG II : TRIẾT HỌC CỦA ARISTOTLE
1. Siêu hình học:
Trong khi Plato tin rằng tất cả những gì mà chúng ta cảm nhận được bằng giác quan
chỉ là bản sao không hoàn chỉnh của những ý niệm hoàn chỉnh và vĩnh cửu, ý niệm mới là
cơ sở cho sự vật cảm tính, vì thế cứ liệu cảm tính là không có giá trị; trái lại Aristotle cho
rằng tất cả những gì chúng ta nhận thức về thế giới phải bắt đầu không phải bằng những ý
niệm trừu tượng mà bằng những cái chúng ta cảm nhận được thông qua giác quan. “ Không
có gì trong trí tuệ mà trước đó không có trong cảm giác” là một nguyên tắc căn bản đối với
Aristotle cũng như đối với học trò của ông sau này.
Aristotle cho rằng, tồn tại nói chung phải xuất phát từ bốn nguyên nhân cơ bản: vật
chất ( vật liệu ), hình thức ( hình dạng ), vận động ( thao tác ) và mục đích (cứu cánh );
trong đó, hình thức và vật chất giữ vai trò quan trọng nhất ( nhị nguyên luận). Tuy nhiên,
ông lại cho rằng, hình thức giữ vai trò quyết định hơn so với vật chất ( nhất nguyên luận duy
tâm ); bởi vì, nếu không có hình thức thì vật chất chỉ là khả năng thụ động chứ không phải
là hiện thực. Hình thức là thực chất của tồn tại, là bản chất tích cực của sự vật; nó chứa
tính chất nguyên thủy ( nóng, lạnh, khô và ẩm), được đặc trưng bằng chuyển động thẳng,
mang tính cưỡng bức, dựa trên nguyên lý vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ; do vậy mà mỗi
yếu tố có một xu hướng vận động riêng, chiếm giữ một vị trí nhất định trong trật tự cấu trúc
vũ trụ. Tuy nhiên, vũ trụ bên ngoài Mặt Trăng được bao trùm bởi ete (éther), được đặc trưng
bằng chuyển động tròn, mang tính tự do, lấy Trái Đất làm tâm. Aristotle đặt nền móng cho
thuyết vũ trụ địa tâm.
3. Quan điểm về sinh thể, con người và linh hồn:
Một vấn đề cốt lõi với người Hy Lạp cổ đại (cũng như đối với nhiều người hiện nay)
là liệu linh hồn có thể tồn tại độc lập với cơ thể được không. Bất cứ ai tin vào sự bất tử của
cá nhân đều tin vào sự tồn tại độc lập của linh hồn. Khi phủ nhận quan điểm của Plato coi
thể xác là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn bất tử, Aristotle dựa trên thuyết nguyên nhân
cho rằng, cũng như những sự vật được hình thành từ hình thành từ hình thức và vật chất,
sinh thể con người được cấu thành từ thể xác và linh hồn. Không có linh hồn bất tử, không
có linh hồn trong cơ thể chết và không có linh hồn nằm bên ngoài thể xác vật chất.
Aristotle cho rằng có ba loại linh hồn với một đẳng cấp cao thấp khác nhau. Cấp cao
hơn chưa đựng những yếu tố của cấp thấp hơn, nhưng cấp thấp hơn thì không chứa đựng
cấp cao hơn.
+ Loại thứ nhất là linh hồn thực vật hay linh hồn có dinh dưỡng, khả tử thực hiên
chức năng nuôi dưỡng và sinh sản.
+ Loại thứ hai là linh hồn động vật hay linh hồn có cảm xúc, khả tử thực hiện chức
năng cảm ứng với môi trường xung quanh.
+ Loại thứ ba là một bộ phận linh hồn con người. thuộc cấp cao hơn và có mục đích,
được gọi là linh hồn có lý trí, thực hiện chức năng hoạt động nhận thức, nó bao gồm linh
hồn thực vật và linh hồn động vật, cộng với năng lực biết phân tích, hiểu biết những hình
thức quan hệ khác nhau và đưa ra những quyết định có lý trí.
Trong thể xác con người có đủ ba loại linh hồn trên, khi con người chết đi linh hồn
thực vật và linh hồn động vật mất đi cùng với sự tan rã của thể xác nhưng linh hồn lý tính
chứa tri thức vẫn tồn tại bất diệt. Theo ông, con người là một sinh thể có lý trí.
4. Quan niệm về nhận thức :
Aristotle cho rằng, bản chất con người là khát vọng hướng đến tri thức, con người
( hành động dựa thao cái tất yếu – phổ biến, do thông qua giáo dục và đào tạo) thì đó là
phẩm hạnh lý tính; Còn phẩm hạnh của con người có được nhờ vào thói quen làm theo lẽ
phải đời thường (hành động dựa theo cái trung dung, tức là không thái quá, thông qua tập
quán lâu đời của cộng đồng) thì đó là phẩm hạnh nhân lý. Aristotle cho rằng ‘cái thiện
không phải là cái vốn có trong bản tính tự nhiên của con người, nhưng cũng không đi ngược
lại cái bản tính tự nhiên đó. Ông nói: “Như vậy, những phẩm chất đạo đức được tạo ra trong
chúng ta không phải do tự nhiên nhưng vũng không trái với tự nhiên. Tự nhiên thật ra chỉ
chuẩn bị cơ sở để chúng ta tiếp thu chúng, nhưng sự hình thành chúng một cách đầy đủ lại
là sản phẩm của thói quen”. Do đó, việc phát triển một thói quen tốt có thể tạo ra một con
người tốt và việc rèn luyện sử dụng “nguyên tắc trung dung” áp dụng vào đạo đức sẽ cho
phép một con người sống khỏe mạnh và hạnh phúc.
Con người cảm thấy khoái lạc khi bản thân sống có đức hạnh, khi mình làm điều
thiện một cách tự nhiên. Khoái lạc chỉ là một cơ sở của cuộc sống hạnh phúc. Hạnh phúc
thực sự của con người phải gắn liền với cuộc sống trần gian, gắn liền với bản tính tự nhiên
của mình. Hạnh phúc của con người không chỉ bị chi phối bởi các yếu tố chủ quan như sự
khôn ngoan của lý trí, đức hạnh trong hành vi, sự khoái lạc trong trạng thái… mà còn bị chi
phối bởi các điều kiện khách quan như tiền bạc, sức khỏe, tình bạn, xã hội công bằng… Vậy
theo Aristotle, đời sống đạo đức, đạo đức của con người không nằm trong thế giới hiện thực
dưới đất, nơi trần gian; đồng thời chúng phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu của
từng người trong cộng đồng xã hội.
6. Quan niệm về chính trị - xã hội:
Aristotle coi chính trị học là sự khai triển đạo đức học vào trong đời sống xã hội.
Aristotle vận dụng thuyết trung dung xây dựng lý luận về nhà nước. Khác với Plato,
Aristotle không vẽ ra một nhà nước lý tưởng. Mặc dù ông quan niệm nhà nước là cơ quan
giúp cho dân chúng đạt các mục tiêu cuối cùng của họ là những con người, nhưng ông hiểu
rằng mọi lý thuyết thực tiễn về nhà nước phải lưu ý đến “loại chính quyền nào thích hợp
cho những nhà nước đặc thù nào… [ông cũng hiểu rằng] điều tốt nhất thường không thể đạt
tới được…” và nhà làm luật phải biết rõ “cái gì là tốt nhất liên quan tới các hoàn cảnh khác
nhau…có thể thành lập một nhà nước thế nào trong bất hoàn cảnh nhất định nào…làm thế
nào nó có thể tồn tại lâu dài nhất” và ông kết luận rằng “các cây viết chính trị tuy có nhiều ý
đánh dấu một cột mốc quan trọng trong ngành sinh vật học. Đương nhiên, kết quả quan sát
trực quan của ông nhiều khi cũng gây nên những kết luận sai, ví dụ ông cho rằng tim là nơi
của trí năng.
Trong lĩnh vực vật lý học và thiên văn học, qua tác phẩm của mình Aristotle đã công
kích khái niệm chân không của một học giả đương thời, ông cho rằng trong vũ trụ không
làm gì có chân không. Ngày nay thuyết của Aristotle đã bị khoa học chứng minh là sai
nhưng chính nhờ sự công kích đó mà chúng ta biết được một thuyết khoa học có giá trị. Ông
cũng công kích thuyết của Pythagore cho rằng mặt trời là trung tâm điểm của thái dương hệ,
ông muốn dành vinh dự đó cho trái đất, đồng thời quan niệm khác của ông về vận động vật
thể cho rằng vật thể nặng rơi xuống nhanh hơn vật thể nhẹ , cũng đã làm trở ngại sự phát
triển thuận lợi của vật lý học và thiên văn học trong một thời gian dài, mãi đến thế kỷ XVI
điều này mới bị Gallile phủ định. Tuy nhiên, ông cũng có nhiều nhận xét giá trị về sức nóng
của mặt trời làm bốc hơi nước biển, làm cạn sông ngoài, nước bốc hơi thành mây và xuống
thành mưa. Aristotle cũng đã diễn giải một cách thỏa đáng sự thành lập các lục địa trên trái
đất, ông cho rằng các lục địa được nảy sinh và dần dần biến mất dưới đáy biển, cùng với tất
cả những nền văn minh ở trên ấy trong một sự thay đổi tuần hoàn. Con người đi từ trạng
thái sơ khai đến trạng thái văn minh cực độ rồi sẽ trở về trạng thái sơ khai do những biến cố
vĩ đại của tạp hóa. Những nhận xét, diễn giải giá trị của Aristotle đã tạo một nền tảng cơ bản
cho những nghiên cứu khoa học sau này.
2. Về chính trị - xã hội:
a. Các loại nhà nước:
Aristotle sẵn sàng chấp nhận rằng, trong một số hoàn cảnh thích hợp, một cộng có
thể tự tổ chức ít nhất thành ba loại chính quyền khác nhau. Sự khác biệt cơ bản giữa ba loại
chính quyền này chủ yếu dựa trên con số người cai trị. Một chisnhquyeefn có thể do một,
một ít hay nhiều người cai trị. Nhưng loại nào cũng có thể là tốt hay xấu. Một chính quyền
tốt là khi nó cai trị vì lợi ích chung của toàn dân. Một chính quyền xấu là khi người cai trị
chỉ tìm lợi ích hay sở thích rieng của mình. Theo Aristotle các hình thức chính quyền chân
chính gồm có chế độ quân chủ (một), quý tộc (một ít) và tổ chức nhà nước (nhiều). Các hình
suy đồi gồm chế độ chuyên quyền (một), đầu sỏ (một ít) và dân chủ (nhiều). Lý tưởng của
Aristotle là một cá nhân xuất sắc cai trị thì vẫn tốt hơn, nhưng mấy khi kiếm được một cá
• NHẬN XÉT:
Aristotle là một trong những nhà triết học lớn nhất, có bộ óc bách khoa của triết học
Hy Lạp cổ đại, là người đầu tiên không chỉ đặt nền móng vững chắc cho lâu đài triết học,
logic học và khoa học hiện đại, mà còn là người đầu tiên đặt nền móng cho lịch sử triết học.
Triết học của ông có nhiều yếu tố duy vật, nhất là quan niệm về cơ sở vật chất của mọi tồn
tại. Tuy nhiên học thuyết về bốn nguyên nhân của tồn tại vẫn còn mang dấu ân của sự tách
rời giữa vật chất và hình thức, vật chất và vận động.
Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng học thuyết về chính trị của Aristotle có tính thực tế
cao. Ông phân tích, so sánh những hình thức cai trị khác nhau thời bấy giờ, và tin rằng giá
trị của mỗi hình tức cai trị phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước. Ông cũng
chỉ ra sự hạn chế của chế độ quý tộc và chế độ dân chủ và chủ trương một chế độ cai trị hỗn
hợp. Học thuyết chính trị của Aristotle có thể được nghiên cứu vận dụng trong thời đại ngày
nay. Với những giá trị của triết học Aristotle, chúng ta có thể sử dụng những lời khuyên
răn quý báu của Aristotle khi bàn về giáo dục trong việc rèn luyện ý chí, về không ngừng
học tâp, tu dưỡng đạo đức, về cuộc sống gia đình, về quản lý đất nước, về giao tiếp xã hội,
về cộng đồng nhân loại trong thời đại ngày nay để góp phần xây dựng một đất nước ngày
càng giàu mạnh và văn minh hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1. Đại cương về lịch sử Triết Học_ Chủ biên: TS. Bùi Văn Mưa
2. Lịch sử triết học và các luận đề_ NXB Lao Động_Tác giả: Samuel Enoch Stump
3. Câu truyện Triết học_NXB Văn Hóa Thông Tin_ Tác giả: Will Durant
4. Lịch Sử Triết Học Phương Tây_NXB chính trị Quốc gia_ PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng.
5. Trang web điện tử: khotangtrithuc.vn