Tài liệu Tiểu luận triết học - Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá và vai trò của nó trong sự nghiệp xây dựng CNXH - Pdf 97

z
Tiểu luận triết học: Công nghiệp hoá -
Hiện đại hoá và vai trò của nó trong sự
nghiệp xây dựng CNXH
MỤC LỤC
A. Đặt vấn đề
1
B. Nội dung
I. tất yếu khách quan và tác dụng của CNH- HĐH
1. Tính tất Tính yếu khách quan
2. Tác dụng của CNH- HĐH
II. Nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta trong các thời kỳ
1. Thực chất của vấn đề CNH- HĐH
2. Những yếu tố chủ yếu tác động đến sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta
3. Nội dung cơ bản của CNH- HĐH trong các thời kỳ
a. Nội dung CNH- HĐH ở giai đoạn 2001- 2010
b. Nội dung CNH- HĐH ở giai đoạn 2010- 2020
III. Những vấn đề cần giảI quyết để tiếp tục thực hiện chiến lược CNH- HĐH
ở Việt Nam
1. Tạo nguồn vốn tích luỹ cho CNH- HĐH
2. Đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học- công
nghệ mới
3. Làm tốt công tác điều tra cơ bản, thăm dò địa chất
4. Chuẩn bị lực lượng lao động cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước
5. Vấn đề xây dựng kết cấu hạ tầng

sang tiếng Việt Nam năm 1958 đã đưa ra định nghĩa:” Công nghiệp hoá xã hội
chủ nghĩa là phát triển công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng, sự phát triển
ấy cần thiết cho sự tạo nên nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến”.
3
Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá VII có đoạn viết:” Công
nghiệp hoá là quá trình biến đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội
từ sử dụng sức lao động thủ công la chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại,
tạo ra năng suất lao động cao”
<1.tr4>
Như vậy quá trình công nghiệp hoá đất nước nhằm giải quyết hai nội dung cơ
bản là: Thay đổi kỹ thuật- công nghệ trong nền kinh tế, làm cho lực lượng sản
xuất phát triển và hình thành cơ cấu kinh tế mới, tiến bộ, hợp lí với các ngành
nghề, quy mô sản xuất kinh doanh phù hợp.
Đặt CNH- HĐH trong bối cảnh chung của phát triển kinh tế với nội dung cơ bản
là phát triển cơ cấu kinh tế trên cơ sở công nghiệp hiện đại nhằm đẩy mạnh nhịp
độ phát triển đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội. Tổ
chức phát triển tốt CNH- HĐH mới có khả năng thực tế để quan tâm đầy đủ đến
sự phát triển tự do và toàn diện của nhân tố con người.
CNH- HĐH còn tạo vật chất kỹ thuật cho việc củng cố tăng cường tiềm lực phát
triển quốc phòng vững mạnh,có thể chúng ta mới có thể yên tâm phát triển kinh
tế và phát triển kinh tế mạnh thì mới có thể tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho
nền an ninh quốc phòng phát triển. Mặt khác CNH- HĐH còn tạo ra nhiều khả
năng cho việc thực hiện tốt phân công và hợp tác quốc tế khoa học công nghệ
tăng cường trọng lượng tiếng nói của ta trên diễn đàn quốc tế. Trong giai đoạn
hiện nay, tính quy luật của giá thành công nghiệp hoá càng đòi hỏi bức thiết đối
với nước ta vì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa với các nước trên thế giới và
trongkhu vực. Theo số liệu thu nhập năm 1983 thì GNP trên đầu người của Việt
Nam là 220USD, trong khi đó Singgapo là 19092USD/đầu người. ĐàI Loan là
11900 USD/ đầu người. Hàn Quốc là 844 USD/đầu người. Malayxia là 3713

tế không thể tăng trưởng nhanh, đất nước không thể vượt qua tình trạng nghèo
nàn và kém phát triển. Vì vậy , con đường tất yếu để ta thoát khỏi tình trạng đó
là phảI tiến hành CNH-HĐH .
Bên cạnh yêu cầu thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội của xã hội mới là
dân giàu nước mạnh ,xa hội công bằng văn minh, sự nghiệp CNH- HĐH đất
nước ở nước ta con do yêu cầu của sự phát triển kinh tế hàng hoá quyết định.
Sản phẩm của nền sản xuất xã hội không chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu của xã
hội nói chung, mà chúng còn phảI được đem bán, chúng phảI có khả năng
cạnh tranh trên thị trường , có khả năng giữ vững và mở rộng thị trường .v.v.
Dop vậy, các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ phảI được sản xuất dựa trên môt
nền tảng vững chắc của cơ sơ vât chất –kỹ thuật hiên dại một cơ cáu lành nghề
linh hoạt,hợp lý ,chi phí trên một dơn vi sản phẩm ở mức thấp nhât .Phân công
lao dộng ở trình dộ cao, kỹ thuật hiện đại, tạo ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu
thị trường, khả năng thu lợi nhuận lớn, tăng khả năng tích luỹ cho nèn kinh tế
6
vầ tham gia vào quan hệ kinh tế quốc tế ở mưc độ cao hơn.Từ đó lại thúc đẩy
kinh tế trong nước phát triển hơn nữa.
Ngoài những cơ sở kinh tế đã nêu trên, sự nghiệp CNH đất nước ở nước
ta còn do yêu cầu bảo vệ tổ quốc, tăng cường tiềm lực quốc phòng của quốc
gia chi phối.
Sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế ở mỗi nước luôn đi đôi với sự
nghiệp bảo vệ, giữ gìn những thành quả mọi mặt đã đạt được. Trong tình hình
phức tạp của bầu không khí chính trị kinh tế hiện nay, các lực lượng phản động
trong nước và ngoài nước luôn tìm mọi cách để cản trở, phá hoại sự nghiệp
phát triển kinh tế nói riêng và sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta nói
chung. Vì vậy chúng ta luôn phảI tăng cường, củng cố, hiện đại hoá lực lượng
quốc phòng để nó trở thành lực lượng hùng mạnh, có khả năng bảo vệ vững
chắc tổ quốc XHCN, để cùng chung sức với các dân tộc bảo vệ nền hoà bình
thế giới, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Hiện
đại hoá quốc phòng, tăng sức mạnh vật chất – kỹ thuật cho lực lượng vũ trang,

Chính vì những tác dụng to lớn, tích cực, toàn diện đã nêu trên, từ đại hội III
dến nay, Đảng ta luôn khẳng định vị trí hết sức quan trọng của CNH- HĐH
trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta. Đồng thời, qua mỗi lần đại
hội, Đảng ta lại nhận thức sâu thêm và cụ thể hoá thêm nhiệm vụ này cho thích
hợp với đIều kiện và hoàn cảnh của đất nước ta trong những thời kỳ. Trong hội
nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đại Hội VII, Đảng ta còn nêu rõ:”
Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.
CNH- HĐH là con đường thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước
xung quanh, giữ được ổn định chính trị, xã hội, bảo vệ được độc lập, chủ
quyền và định hướng XHCN”
<1.tr27>
II. Nội dung cơ bản của sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta trong các thời kỳ

8
1. Những yếu tố chủ yếu tác động đến sự nghiệp công nghiệp hoá ở nước ta
Sự nghiệp CNH-HĐH đất nước từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc chiụ tác
động của nhiều yếu tố : khách quan, chủ quan,bên trong, bên ngoài , kinh
tế,chinh trị xã hội, khoa học công nghệ v. .v. Các yếu tố trên diễn ra trong từng
thời kỳ , với tưng quốc gia có khác nhau . Để thuận lợi trong nghiên cứu, người
ta thường khái quát thành hai loại: yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên trong bao gồm: tièm năng kinh tế tự nhiên của quốc
gia(vị trí địa ly, nguồn tài nguyên , khoáng sản trên ,trong lòng đất, tài nguyên
rừng, nguồn đọng vật cùng các nguồn thuỷ hải sản v.v.) tiềm năng kinh tế –xã
hội (lực lượng lao động,truyền thống văn hoá , lịch sử, các nghề thủ công truyền
thống cuả dân tộc năng lượng định hướng lãnh đạo của Đảng cầm quyền cùng
sự điêu tiết của nhà nước . Các yếu tố bên ngoài bao gồm: các thành tựu khoa
học- công nghệ thế giới, đường lối đối ngoại của các quốc gia, tất cả những
thành tựu cũng như những xu hướng biến động của nền kinh tế toàn cầu.
Cả yếu tố bên trong lẫn yếu tố bên ngoài đều là điều kiện phát triển kinh tế nói
chung, đồng thời cũng là những điều kiện quyết định nội dung CNH- HĐH nói

toán mà là phương tiện cho hầu như tất cả các hoạt động của con người và là
cơ sở thiết yếu của công nghệ thông tin hiện đại.
- Công nghệ thông tin: là lĩnh vực công nghệ phát triển nhanh nhất, thúc
đẩy quá trình chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin.
Những bước phát triển nhảy vọt của công nghệ thông tin gắn liền với sự hoàn
thiện của máy tính. Một bước nhảy vọt trong công nghệ thông tin những năm
gần đây là sự ra đời của mạng máy tính. Từ cuối những năm 1980 đến đầu
những năm 1990 mạng máy tính phát triển, nối mọi nơi trên thế giới, làm hình
thành siêu xa lộ thông tin và internet.
10
- Công nghệ vật liệu mới: được hình thành bằng việc sử dụng phương
pháp khoa học để chế tạo vật liệu thay thế cho vật liệu tự nhiên. Nhiếu loại vật
liệu mới với những ưu điểm đặc biệt đã ra đời
- Công nghệ sinh học: đang được dự kiến là công nghệ hàng đầu khi
bước vào thế kỷ XXI.
Trong đó những bộ phận đang được nghiên cứu và ứng dụng nhiều nhất là:
Gen ( hay công nghệ di truyền); công nghệ dung hợp tế bào ( tổng hợp tế bào
từ những tế bào sinh vật có tính di truyền khác nhau); công nghệ gây men
( công nghệ phản ứng sinh vật). Trong đó thành công lớn nhất của các nhà
khoa học là đã vẽ được bản đồ gen của con người vào những ngày đầu của thế
kỷ XXI.
- Công nghệ vũ trụ: bao gồm việc nghiên cứu chế tạo các thiết bị máy móc cho
việc bay vào vũ trụ( như vệ tinh nhân tạo, phi thuyền trở người, phi thuyền đóng
tên lửa) và đang dự kiến lợi dụng những điều kiện đặc biệt của khoảng không vũ
trụ ( vô trùng, trọng lực cực nhỏ ) để chế tạo những sản phẩm mới ( như dược
phẩm có độ sạch cao ).
Trong các nước phát triển hiện nay, cách mạng khoa học- công nghệ đang diễn
ra sôi nổi, mạnh mẽ và có tác động rất to lớn. Tác động cơ bản nhất là làm thay
đổi cơ cấu các ngành kinh tế ở các nước phát triển.Nó thể hiện trên nhiều mặt.
Nó làm thay đổi tỷ lệ giữa ba ngành lớn ( công nghiệp,nông nghiệp, dịch vụ).

triển. Như ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường thuộc về các nước phát triển.
Vì thế các nước chậm phát triển đang đứng trước những thách thức to lớn.
Khoảng cách chênh lệch giàu- nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng, cạnh
tranh kinh tế diễn ra ngày càng gay gắt.
Về quan hệ kinh tế quốc tế trong những năm gần đây kinh tế hàng hoá đã phát
triển vượt khỏi phạm vi quốc gia và mở rộng ra phạm vi quốc tế. Sự phát triển
của kinh tế hàng hoá đến trình độ cao- kinh tế thị trường đã làm cho thị trường
thế giới phát triển cả về chiều rộng lẫn chiếu sâu. Từ đó, thị trường thế giới và
kinh tế hàng hoá đà thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động quốc tế và
12
sự hợp tác quốc tế cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các
quốc gia cũng tăng lên.Mức độ và phạm vi của quan hệ kinh tế quốc tế đã phát
triển chưa từng thấy trong những năm gần đây.
Việc tham gia và mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế có tác động nhiều mặt đến
quá trình phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hoá nói riêng của các quốc
gia. Sự tác động đó bao gồm cả tác động tích cực lấn tiêu cực, song tác động tích
cực là chủ yếu. Quan hệ kinh tế quốc tế tạo khả năng to lớn để nước ta có thể
tiếp cận những thành tựu vĩ đại của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, thu
hút thêm các nguồn vốn bên ngoài, học hỏi kinh nghiệm tổ chức quản lí của các
nước đi trước trên con đường công nghiệp hoá đất nước. Nó cũng giúp chung ta
tiếp nhận sự giúp đỡ của bạn bè năm châu, giải quyết những khó khăn mà khả
năng đất nước bị hạn chế, sử dụng có hiệu quả hơn những nguồn lực bên trong
vốn có của đất nước mình.
Về yếu tố bên trong:
Nếu như các yếu tố bên ngoài là cách mạng khoa học- kỹ thuật và quan
hệ kinh tế quốc tế tác động mạnh hơn đến yếu tố kỹ thuật, công nghệ trong quá
trình CNH- HĐH đất nước thì yếu tố bên trong đặc biệt là các tiềm năng kinh tế-
các lợi thế so sánh của Việt Nam lại có tác động nhiều hơn đến cơ cấu ngành
nghề trong quá trình CNH- HĐH ở nước này
Dù kỹ thuật hiện đại hay thô sơ thì Việt Nam vẫn phải phát triển kinh tế và

80%) .
Tình hình nguồn nhân lực nói trên có thuận lợi cho phát triển nhiều ngành
kinh tế mới. Đặc biệt lao động trẻ có khả năng tiếp thu công nghệ mới nhanh.
Tuy vậy, chính dân số đông cũng gây khó khăn cho vấn đề cải thiện mức sống,
đặc biệt yêu cầu mở rộng thị trường lao động để giải quyết vấn đề việc làm
trong khi tiềm năng về vốn của đất nước rất hạn chế.
Các tiềm năng kinh tế nói trên có ảnh hưởng rất sâu sắc đến việc lựa chọn
cơ cấu các ngành công nghiệp ở Việt Nam trong các giai đoạn phát triển. Đặc
14
biệt việc lựa chọn cơ cấu ngành nghề trong thời kỳ đầu của quá trình CNH-
HĐH.
2. Nội dung cơ bản của CNH- HĐH trong thời kỳ quá độ ở nước ta
Với trình độ kinh tế- xã hội ở điểm xuất phát của quá trình xây dựng xã hội
mới cũng như tại thời điểm hiện nay còn thấp kém, với điều kiện bên trong, bên
ngoài có nhiều phức tạp, khó khăn, qua tham khảo kinh nghiệm của các nước đi
trước sự nghiệp CNH- HDDH đất nước ở Việt Nam phải tiến hành trong một
quá trình lâu dài. Quá trình đó gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn đều phải giải
quyết các vấn đề liên quan đến 2 nội dung cơ bản, đó là kỹ thuật (công nghệ) và
cơ cấu ngành nghề. Song ở giai đoạn đầu, do điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng
và do sức ép của vấn đề bức xúc là giải quyết việc làm nên nội dung công
nghiệp hoá tập trung vào phát triển những ngành nghề thu hút nhiều lao dộng để
tạo ra tổng sản phẩm xã hội và giá trị hàng hoá cao hơn. ở các giai đoạn sau, xét
riêng về mặt kỹ thuật- công nghệ thì càng rút ngắn thời gian để tiếp thu những
thành tựu khoa học- công nghệ mới nhất của nhân loại, càng tiến gần tới đích
thành công của sự nghiệp CNH- HĐH đất nước
Quá trình CNH- HĐH trong thời kỳ quá độ ở nước ta phải giải quyết hai nội
dung sau:
Một là: Tiến hành cách mạng khoa học- kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật chất-
kỹ thuật mới.
Trong nền kinh tế ở nước ta hiện nay, kỹ thuật thủ công vẫn chiếm tỷ trọng

tế của giai đoạn trước phải tạo đà cho cơ cấu kinh tế ở giai đoạn sau)
- Cơ cấu kinh tế- kỹ thuật xây dựng trên cơ sở kinh tế hàng hoá và sự quốc tế
hoá đới sống kinh tế, đó là cơ cấu kinh tế”mở”.
2. Nội dung CNH- HĐH đất nước giai đoạn 2001- 2010
a. Một số kết quả thực hiện CNH- HĐH đất nước giai đoạn 1991- 2000
Để đánh giá được một cách tương đối sác thực cả về thành tựu cũng như
những khiếm khuyết của công cuộc CNH- HĐH đất nước trong thập kỷ 90,
16
trước hết cần đề cập những nội dung chủ yếu của sự nghiệp CNH- HĐH đất
nước ở giai đoạn này.
Trước hết về kỹ thuật- công nghệ: trong điều kiện năng lực tích lũy vốn của
nền kinh tế thấp, trình độ quản lý, trình độ của người lao động còn hạn chế, vấn
đề việc làm vẫn mang tính bức súc. Việc đổi mới kỹ thuật- công nghệ được thực
hiện theo phương châm: kết hợp công nghệ nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ
mũi nhọn- tiên tiến, lấy quy mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính đến quy mô lớn
nhưng phải là quy mô hợp lý và có điều kiện.
Về cơ cấu ngành nghề:
- Phát triển nông- lâm- ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và các ngành
kết cấu hạ tầng dịch vụ cho nông nghiệp
- Tăng tốc độ và tỷ trọng của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, mở rộng
kinh tế dịch vụ thành ngành kinh tế quan trọng theo hướng khai thác triệt để các
khả năng sản xuất hàng tiêu dùng và hàng suất khẩu.
- Phát triển công nghiệp khai thác, trong đó đẩy mạnh việc thăm dò khai thác
dầu khí và một số loại khoáng sản.
- Phát triển có lựa chọn một số ngánh sản xuất tư liệu sản xuất: hóa
chất, phân bón, vật liệu xây dựng và một số bộ phận thuộc kết cấu hạ tầng của
nển kinh tế (sân bay, bến cảng, kho tàng ).
- Phat huy năng lực khoa học trong nước và tranh thủ sự hợp tác
quốc tế để phát triển ngành công nghiệp điện tử và tin học
- Xây dựng và phát triển các vùng kinh tế điển hình, từ đó hình thành

Những thành tựu đó có dược do nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân
quyết định hàng đầu là do tác động của cơ chế quản lý mới (tuy chưa hoàn
thiện) và những nỗ lực thu hút và tập trung vốn để phát triển công nghiệp.
Tổng vốn đầu tư vào khu vực công nghiệp giai đoạn 1991- 1998 khoảng 52000
tỉ VNĐ, chiếm 45% tổng vốn đầu tư trong nước. Trong giai đoạn 1990- 1991
là 78%. Các khoản vay ưu đãi của chính phủ cũng giành cho phát triển các
18
ngành công nghiệp trọng điểm. Tới tháng 10 năm 1998, có 11.3 tỷ UUSSDD
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào công nghiệp.
Bên cạnh những thành tựu, công nghiệp Việt Nam vẫn còn những điểm yếu,
có thể kể như:
- Trình độ kỹ thuật- công nghệ của nhiều cơ sở công nghiệp
Việt Nam vẫn ở trình độ thấp. Đánh giá chung, trình độ kỹ thuật- công nghệ
Việt Nam chậm hơn các nước công nghiệp từ 2 đến 3 thế hệ. Công nghệ cấp
thấp, lỗi thời chiếm 60 đến 70%, trong khi công nghệ hiện đại chỉ chiếm 30
đến 40%. Do vậy mức tiêu hao năng lượng trên đơn vị sản phẩm lớn (gấp 1.2
đến 1.5 lần so với các nước khác trong khu vực), sản phẩm chất lượng kém,
chủng loại đơn điệu và năng lực cạnh tranh còn nhiều hạn chế.
- Thiếu vốn, thiếu đầu vào trung gian. Do thiếu đầu vào, để
hoạt động các cơ sở công nghiệp phải nhập khẩu sản phẩm sơ chế hoặc bán
thành phẩm, nhưng việc nhập khẩu lại có khó khăn về tài chính. Trong khi đó
nhiều nguồn trong nước vẫn chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả.
- Hạn chế về năng lực chuyên môn và quản lý trong nguồn
nhân lực để thực hiện công nghiệp hoá đất nước theo hướng hội nhập và hiện
đại hoá nền kinh tế quốc gia.
- Những bất cập về thể chế, chính sách quản lý của nhà nước.
- Năng lực cạnh tranh của hàng công nghiệp Việt Nam thấp
và sự hạn chế về thị trường tiêu thụ.
Những vấn đề nêu trên đang cần tìm lời giải ở sự nghiệp CNH- HĐH trong
thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới của nước ta

nghiệp sẽ giăm xuống.
Để trở thành quốc gia công nghiệp hoá vào năm 2020, dự kiến vào năm
2010, công nghiệp Việt Nam sẽ chiếm 37- 38% GDP và 40- 41% vào năm
2020. Đặc biệt cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên cả thị
trường trong nước và ngoài nước. Về chi tiết có những điểm đáng chú ý như
sau:
20
- Phát triển mạnh công nghiệp chế biến (nông sản, thuỷ sản), các ngành may
mặc, da giày.
- Tập trung phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao: công nghệ thông tin,
phần mềm.
- Xây dựng có chon lọc một số cơ sở công nghiệp nặng then chốt như: năng
lương, hoá chất, luyện kim, cơ khí.
- Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, hàng
không, bưu chính- viễn thông, du lịch, tài chính, ngân hàng Đặc biệt sớm phổ
cập sử dụng tin học và internet trong nền kinh tế và đời sống xã hội.
- Tiếp tục xây dựng và từng bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng (giao
thông, thông tin, thuỷ lợi, hệ thống cấp thoát nước )
- Phát huy vai trò động lực của các vùng kinh tế trọng diểm,tạo diều kiện cho
các vùng khác phát triển,tăng cường mối liên kết giữa các vùng nhằm giải
quyết tình trạng kém phát triển ở một số vùng và cả nền kinh tế.
III. Những vấn đề cần giải quyết để tiếp tục thực hiện chiến lược CNh-
HĐH ở Việt Nam
Sự nghiệp CNH- HĐH đất nước để đi đến thành công phụ thuộc vào nhiều vấn
đề.
1. Tạo nguồn vốn tích lũy cho CNH- HĐH
Quá trình CNH- HĐH, quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật việc
phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện sản xuất hàng hoá đòi hỏi phải cò
nhiều vốn.
Vốn và sử dụng vốn là vấn đề đặc biệt quan trọng. Không có vốn mà nói đến

tiền mặt. Để thu hut nguồn tiền nhàn rỗi này phục vụ cho sự nghiệp CNH- HĐH
đất nước, cần mạnh dạn sử dụng các công cụ như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu
kho bạc nhà nước, các hình thức tiền gửi và cho vay với các mức lãi suất phù
hợp.
- Thực hiện tốt chính sách tiết kiệm. Khái niệm tiết kiệm cần được hiểu là tiết
kiệm cả trong sản xuất và tiết kiệm trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Như vậy,
22
có thể thực hiện tiết kiệm bằng việc khắc phục những phong tục, tập quán lạc
hậu; hạn chế những lãng phí từ khâu lập dự án, thiết kế, thi công cũng như trong
suốt quá trình hoạt động của các cơ sở kinh tế; chống những thất thoát trong
quản lý kinh tế- xã hội bằng cách nâng cao năng lực quản lý và đấu tranh chống
tham nhũng có hiệu quả; tiết kiệm của cải nhờ tái chế, chắt lọc các đồ thừa, phế
thải
Tăng tỷ lệ vốn ngân sách nhà nước dành cho đầu tư phát triển kinh tế. Muốn
vậy phải thực hiện đổi mới hoạt động thu- chi và quản lý ngân sách, trong đó
đặc biệt mở rộng diện thu thuế và chống thất thu thuế.
Khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lợi nhuận thu được từ mọi hoạt động
sản xuất- kinh doanh để tái đầu tư
Nguồn vốn ngoài nước gồm các khoản đầu tư nước ngoài của các công ty và
các doanh nghiệp tư nhân, của chính phủ và các tổ chức quốc tế; các khoản đi
vay từ các chủ thể nói trên; các khoản viện trợ, các khoản trợ giúp từ các kiều
bào nước ngoài
Để tăng các nguồn vốn bên ngoài, cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản
sau:
- Thực hiện thu hút vốn bằng nhiều hình thức quan hệ quốc tế( hợp tác về vốn-
đầu tư trực tiếp quốc tế và đầu tư gián tiếp, ngoại thương, du lịch dịch vụ, xuất
khẩu lao động ) và từ nhiều chủ t hể ( các quốc gia, các tổ chức quốc tế không
phân biệt chế độ chính trị, tôn giáo hay sắc tộc ) trên cơ sở tôn trọng các nguyên
tắc cơ bản của quan hệ quốc tế.
- Tôn trọng các cam kết quốc tế cũng như thực hiện đúng hạn, đầy đủ các hợp

dụng những thành tựu khoa học- kỹ thuật mới một cách thích đáng.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ
3. Làm tốt công tác điều tra cơ bản, thăm dò địa chất
24
Đây là công việc cần thiết, thậm chí phải hoàn thành về cơ bản trong giai đoạn
đầu của quá trình công nghiệp hoá đất nước. Bởi vì quá trình công nghiệp hoá
đất nước đổng thời là quá trình xây dựng những cơ sở kinh tế mới, là quá trình
khai thác những tiềm năng để phát triển kinh tế.
Công tác điểu tra cơ bản thăm dò địa chất tạo cơ sở cho việc xác định các tiềm
năng bên trong của nền kinh tế đất nước.
Đánh giá chính xác các nguồn khoáng sản; điều kiện địa chất từng vùng, các
nguồn thuỷ sản hải sản; lực lượng lao động; các ngành nghề thủ công truyền
thống sẽ góp phần hình thành cơ cấu ngành nghề phù hợp với các điều kiện tự
nhiên, xã hội của đất nước; bố trí các cơ sở kinh tế hợp lý ở từng vùng, có cơ sở
để mở rộng hợp tác mọi mặt với các nước.
Để công tác điều tra cơ bản, thăm dò địa chất có kết quả chính xác, cần giải
quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công nhân làm công tác điều tra cơ
bản, công tác thăm dò địa chất.
- Tăng cường lực lượng vật chất, kết hợp sử dụng nhiều phương pháp trong
công tác điều tra cơ bản và thăm dò dịa chất.
- Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, cần tranh thủ sự giúp đỡ cũng
như tăng cường hợp tác quốc tế đối với công tác này.
4. Chuẩn bị lực lượng lao động cho sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.
Quá trình sản xuất nói chung,đặc biệt là qúa trình phát triển kinh tế, phát triển
sản xuất trong đieeuf kiện cách mạng khoa học công nghệ, yếu tố người lao
động – yếu tố con người ngày càng có vai trò quan trọng. Nó đóng vai trò quyết
định sự thành công của công nghiệp hoá đất nước.
Lực lượng lao động cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước bao gồm đội ngũ cán
bộ khoa học-kỹ thuật , đội ngũ cán bộ quản lý, cac chuyên gia và đông đảo các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status