bài giảng kinh tế học chương 14 tổng cầu và tổng cung - Pdf 24


NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 1
CHƯƠNG 14
TỔNG CẦU VÀ TỔNG CUNG

Hoạt động kinh tế biến động từ năm này qua năm khác. Nhìn chung, sản lượng hàng hoá và dịch vụ
liên tục tăng lên theo thời gian. Do có sự gia tăng của lực lượng lao động, tư bản và tiến bộ công
nghệ, nền kinh tế ngày càng có thể sản xuất nhiều hơn. Sự tăng trưởng này cho phép mọi người
hưởng thụ mức sống cao hơn. Trung bình trong 50 n
ăm qua, sản lượng của nền kinh tế Mỹ tính bằng
GDP thực tế tăng trưởng khoảng 3 phần trăm mỗi năm.
Tuy nhiên, trong một số năm, sự tăng trưởng bình thường này đã không xảy ra. Các doanh
nghiệp không bán được hết hàng hoá và dịch vụ và quyết định cắt giảm mức sản xuất. Nhiều
công nhân bị sa thải, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao và nhiều nhà máy bị b
ỏ không. Khi nền kinh tế
sản xuất hàng hoá và dịch vụ ít hơn, GDP thực tế và các đại lượng phản ánh thu nhập khác giảm
đi. Những thời kỳ thu nhập giảm trong khi thất nghiệp tăng cao được gọi là suy thoái nếu tình
hình không nghiêm trọng, và được gọi là khủng hoảng nếu vấn đề thực sự nghiêm trọng.
Điều gì đã gây ra biến động của hoạt động kinh tế
trong ngắn hạn? Các chính sách công cộng
có thể làm gì để ngăn chặn các thời kỳ thu nhập giảm và thất nghiệp tăng cao? Khi kinh tế
suy giảm hoặc suy thoái xảy ra, các nhà hoạch định chính sách có thể làm gì để giảm bớt độ
dài và mức độ trầm trọng của chúng? Đây là những câu hỏi mà chúng ta xem xét trong
chương này và hai chương tiếp theo.
Các biến số mà chúng ta nghiên cứu trong các chương tiếp theo phần lớn là các biến số mà
chúng ta đã biết.
Đó là GDP, thất nghiệp, lãi suất, tỷ giá hối đoái và mức giá. Các công cụ

bán được ít hàng hơn và kiếm được ít lợi nhuận hơn.
Tuy nhiên, thuật ngữ chu kỳ kinh doanh có thể dẫn tới sự hiểu lầm, vì nó có vẻ hàm ý rằng
biến động kinh tế diễn ra theo một quy luật và có thể dự báo được. Trên thực tế, chu kỳ kinh
doanh không hề có tính chất định kỳ và không thể dự báo với độ chính xác cao. Phần (a) của
hình 1 biểu thị GDP của Mỹ từ năm 1965. Ph
ần có mầu tối chỉ ra những thời kỳ suy thoái.
Như biểu đồ này cho thấy, các đợt suy thoái không diễn ra đều đặn theo thời gian. Đôi khi
các đợt suy thoái diễn ra gần nhau như trong năm 1980 và 1982. Song trong nhiều năm khác,
nền kinh tế lại không trải qua đợt suy thoái nào.

Tỷ đô la
1992
300
400
500
600
700
800
900
1
,
000
$
1
,
100
Chi tiêu cho đầu t
ư
1965 1970 1975 1980 1985 1990 1995
Suy thoái
(c) Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp
0
2

4

6

8

ảy ra trong toàn nền kinh tế, nên nó biểu thị trong nhiều nguồn số liệu vĩ mô khác nhau.
Mặc dù các biến số kinh tế vĩ mô cùng biến động, song chúng biến động với quy mô khác
nhau. Cụ thể, như trong phần (b) của hình 1 cho thấy, đầu tư biến động rất mạnh trong chu kỳ
kinh doanh. Mặc dù đầu tư chỉ bằng khoảng một phần bảy GDP, nhưng sự suy giảm trong
đầu tư đóng góp vào hai ph
ần ba mức suy giảm GDP trong thời kỳ suy thoái. Nói cách khác,
khi các điều kiện kinh tế xấu đi, phần lớn mức suy giảm đều bắt nguồn từ sự giảm sút chi tiêu
để xây dựng nhà máy, nhà ở và bổ sung thêm hàng tồn kho mới.
Đặc điểm 3: Khi sản lượng giảm thì thất nghiệp tăng
Những thay đổi trong sản lượng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế gắn chặt với nhữ
ng thay
đổi trong việc sử dụng lực lượng lao động của nền kinh tế. Nói cách khác, khi GDP thực tế
giảm thì tỷ lệ thất nghiệp tăng. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên: khi các doanh nghiệp
sản xuất ít hàng hoá và dịch vụ hơn, họ sa thải bớt công nhân và số người thất nghiệp tăng.
Phần (c) trong hình 1 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Mỹ từ nă
m 1965. Một lần
nữa, các thời kỳ suy thoái được đánh dấu bằng các vùng màu tối. Biểu đồ cho thấy tác
động rõ rệt của suy thoái lên thất nghiệp. Trong mỗi đợt suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng
lên rất cao. Khi suy thoái kết thúc và sản lượng bắt đầu tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm dần.
Tỷ lệ thất nghiệp không bao giờ giảm xuống bằng không, mà thường biến độ
ng xung
quanh tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên bằng khoảng 5 phần trăm.
Kiểm tra nhanh: Hãy nêu và giải thích ba đặc điểm then chốt của những biến động kinh tế.
LÝ GIẢI NHỮNG BIẾN ĐỘNG KINH TẾ NGẮN HẠN
Việc mô tả xu thế định kỳ mà nền kinh tế trải qua khi nó biến động theo thời gian là một
công việc đơn giản. Song việc lý giải nguyên nhân gây ra những biến động
đó khó khăn hơn
nhiều. Tuy nhiên, nếu so với các chủ đề mà chúng ta đã nghiên cứu trong các chương trước,
lý thuyết về biến động kinh tế vẫn còn tranh luận nhiều. Trong chương này và hai chương
tiếp theo, chúng ta sẽ phát triển mô hình mà phần lớn các nhà kinh tế sử dụng để lý giải các

điển mô tả thế giới trong dài hạn, chứ không phải trong ngắn hạn. Sau vài năm, thay đổi
trong cung ứng tiền tệ ảnh hưởng đến mức giá và các biến danh nghĩa khác, nhưng không
ảnh hưởng đến GDP thực tế, thất nghiệp hay các biến thực tế khác. Khi nghiên cứu về những
thay đổi từ năm này qua năm khác, giả định về tính trung lập củ
a tiền không còn đúng nữa.
Phần lớn các nhà kinh tế cho rằng trong ngắn hạn, các biến thực tế và danh nghĩa liên quan
với nhau. Đặc biệt, thay đổi trong cung ứng tiền tệ có thể tạm thời đẩy sản lượng ra khỏi xu
thế dài hạn của nó.
Do đó, để hiểu nền kinh tế trong ngắn hạn, chúng ta cần một mô hình mới. Để xây dựng mô
hình này, chúng ta dựa vào những công cụ đã phát triển trong các chươ
ng trước và không dựa
vào sự phân đôi cổ điển và tính trung lập của tiền.
Mô hình cơ bản về biến động kinh tế
Mô hình của chúng ta về các biến động kinh tế ngắn hạn tập trung vào hành vi của hai biến số.
Biến thứ nhất là sản lượng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế tính bằng GDP thực tế. Biến thứ
hai là mức giá chung tính bằng CPI hoặc chỉ
số điều chỉnh GDP. Cần chú ý rằng sản lượng là
biến thực tế trong khi mức giá là biến danh nghĩa. Do đó, bằng cách tập trung vào mối quan hệ
giữa hai biến số này, có nghĩa chúng ta thừa nhận không có sự phân đôi cổ điển.

Hình 2. Tổng cầu và tổng cung. Các nhà kinh tế sử dụng mô hình tổng cầu và tổng cung để

lượng hàng hoá và dịch vụ mà các hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ muốn mua tại mỗi
mức giá. Đường tổng cung cho biết lượng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp muốn
bán ra tại mỗi mức giá. Theo mô hình này, mức giá và sản lượng điều chỉnh để cân bằng tổng
cầu và tổng cung.
Chúng ta có thể muốn coi mô hình này chẳng qua là hình ảnh phóng to của mô hình cung và
cầu th
ị trường đã được đề cập trong chương 4. Tuy nhiên trên thực tế, mô hình này khác hẳn.
Khi chúng ta xem xét cung và cầu trên một thị trường cụ thể, chẳng hạn thị trường kem, hành
vi của người mua và bán phụ thuộc vào khả năng di chuyển nguồn lực từ thị trường này qua
thị trường khác. Khi giá kem tăng lên, lượng cầu giảm đi vì người tiêu dùng muốn mua sản
phẩm khác. Tương tự như vậy, khi giá kem tăng, lượ
ng cung tăng do các nhà sản xuất có thể
tăng sản lượng bằng cách thuê thêm lao động từ các bộ phận khác của nền kinh tế. Sự thay
thế mang tính kinh tế vi mô từ thị trường này sang thị trường kia không có ý nghĩa khi chúng
ta phân tích cho cả nền kinh tế. Xét cho cùng, lượng hàng mà mô hình của chúng ta tìm cách
lý giải - GDP thực tế - phản ánh tổng lượng hàng hoá sản xuất trên tất cả các thị trường. Để
hiểu tại sao đường tổ
ng cầu dốc xuống và đường tổng cung dốc lên, chúng ta cần có lý thuyết
kinh tế vĩ mô. Nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là xây dựng một lý thuyết như vậy.
Kiểm tra nhanh: Hành vi của nền kinh tế trong ngắn hạn khác với hành vi của nó trong dài
hạn như thế nào? Hãy vẽ mô hình tổng cầu và tổng cung. Các biến số nào nằm ở trên hai
trục?
ĐƯỜNG TỔNG CẦU
Đường tổng cầu cho biết tổng lượ
ng cầu về hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tại mức giá
bất kỳ cho trước. Hình 3 cho thấy đường tổng cầu dốc xuống. Điều này có nghĩa là nếu
những cái khác không thay đổi, sự giảm sút mức giá chung của nền kinh tế, ví dụ từ P
1
xuống
P

Hình 3. Đường tổng cầu. Sự giảm sút mức giá từ P
1
xuống P
2
làm tăng lượng cầu về hàng
hoá và dịch vụ từ Y
1
lên Y
2
. Mối quan hệ nghịch này do ba nguyên nhân gây ra. Khi mức giá
giảm, của cải thực tế tăng, lãi suất giảm và tỷ giá hối đoái giảm. Các hiệu ứng này kích thích
tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu ròng. Tăng chi tiêu cho các thành tố của sản lượng có nghĩa
là lượng cầu về hàng hoá và dịch vụ lớn hơn.
Mức giá và tiêu dùng: Hiệu ứng của cải. Hãy nhìn vào khoản tiền trong ví hay tài khoản
ngân hàng của bạn. Giá trị danh nghĩa c
ủa những khoản tiền này cố định, nhưng giá trị thực
tế của nó thì không. Khi mức giá giảm, những đồng tiền này có giá hơn vì chúng có thể mua
được nhiều hàng hoá hơn. Như vậy, sự giảm sút mức giá làm cho người tiêu dùng cảm thấy
mình có nhiều của cải hơn và điều này khuyến khích họ mua nhiều hơn. Chi cho tiêu dùng
tăng lên có nghĩa là lượng cầu về hàng hoá và dịch vụ lớn hơn.
Mức giá và đầu tư: Hiệu ứng lãi suất. Như đã thảo luận trong chương 28, mức giá là một
trong những yếu tố quyết định của lượng cầu về tiền. Với mức giá thấp hơn, mọi người cần ít
tiền hơn cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Như vậy khi mức giá giảm, các hộ gia đình sẽ
tìm cách giảm lượng tiền nắm giữ bằng cách cho vay m

Y
1
Y
2
P
2
2. làm tăng lượng cầu về hàng
hoá và dịch vụ
1. Sự giảm sút
trong mức giá

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 7
thực tế giảm, dẫn đến xuất khẩu ròng tăng và qua đó làm tăng lượng cầu về hàng hoá và
dịch vụ.
Tóm tắt. Như vậy có ba lý do có quan hệ với nhau lý giải tại sao khi mức giá giảm, lượng
cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng: (1) Người tiêu dùng cảm thấy mình có nhiều tài sản hơn
nên tăng cầu về hàng tiêu dùng. (2) Lãi suất giảm và điều này kích thích cầu về hàng hoá đầu
tư. (3) T
ỷ giá hối đoái thực tế giảm, kích thích nhu cầu về xuất khẩu ròng. Vì cả ba lý do này
mà đường tổng cầu dốc xuống.
Điều quan trọng là cần nhớ rằng, đường tổng cầu cũng giống như các đường cầu khác được
xác định khi giữ cho “các yếu tố khác không đổi”. Đặc biệt, cả ba cách lý giải của chúng ta
về đường tổng cầu dốc xuống đều giả
định rằng cung ứng tiền tệ không thay đổi. Nghĩa là
chúng ta đang xét xem sự thay đổi của mức giá ảnh hưởng như thế nào đến nhu cầu về hàng
hoá và dịch vụ trong khi giữ cho lượng tiền trong nền kinh tế không thay đổi. Như chúng ta

nghiệp muốn đầu tư vào các hệ thống máy tính mới này. Do lượng cầu về hàng hoá và
dịch vụ tại mỗi mức giá cao hơn, đường tổng cầu dịch chuyển sang phải. Ngược lại, nếu
các hãng bi quan về điều kiện kinh doanh trong tương lai thì họ có thể cắt giảm chi tiêu
đầu tư và điều này làm đường tổng cầu dịch chuyển sang trái.
Chính sách thuế cũng có thể ả
nh hưởng tới tổng cầu thông qua đầu tư. Như chúng ta đã thấy
trong chương 25, chính sách giảm thuế đầu tư (tức là chính phủ giảm thuế khi các doanh

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 8
nghiệp chi tiêu cho đầu tư) làm tăng lượng cầu về hàng đầu tư của các doanh nghiệp tại bất
kỳ mức giá nào. Bởi vậy, nó làm dịch chuyển đường tổng cầu sang phải. Việc huỷ bỏ chính
sách giảm thuế đầu tư làm giảm đầu tư và đường tổng cầu dịch chuyển sang trái.
Một biến chính sách khác có thể ảnh hưởng đến đầu tư và tổng cầu là cung ứ
ng tiền tệ. Như
chúng ta sẽ thảo luận đầy đủ hơn trong chương sau, sự gia tăng cung ứng tiền tệ làm cho lãi
suất giảm trong ngắn hạn. Điều này làm cho khoản vay trở nên ít tốn kém hơn, nó kích thích
chi đầu tư và do đó đường tổng cầu dịch chuyển sang bên phải. Trái lại, khi cung ứng tiền tệ
giảm, lãi suất tăng lên, làm cho nhu cầu đầu tư giảm xuống và đường tổng c
ầu dịch chuyển
sang trái. Nhiều nhà kinh tế tin rằng trong suốt lịch sử nước Mỹ, thay đổi trong chính sách
tiền tệ là một nguyên nhân quan trọng gây ra sự dịch chuyển trong tổng cầu.
Sự dịch chuyển phát sinh từ chi tiêu của chính phủ. Một trong những cách trực tiếp mà
các nhà hoạch định chính sách có thể làm dịch chuyển đường tổng cầu là thông qua chi tiêu
chính phủ. Ví dụ như quốc hội quyết định giảm mua sắ
m các hệ thống vũ khí mới. Do lượng
cầu về hàng hoá và dịch vụ thấp hơn tại mọi mức giá, nên đường tổng cầu dịch chuyển sang


NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 9
Tại sao đường tổng cầu có thể dịch chuyển?
1. Sự dịch chuyển phát sinh từ tiêu dùng: Một biến cố thúc đẩy người tiêu dùng chi tiêu
nhiều hơn tại một mức giá cho trước (giảm thuế, thị trường chứng khoán bùng nổ) làm
cho đường tổng cầu dịch chuyển sang phải. Một biến cố làm cho người tiêu dùng chi tiêu
ít hơn tại một mức giá cho trước (tăng thuế, sự sa sút củ
a thị trường chứng khoán) làm cho
đường tổng cầu dịch chuyển sang trái.
2. Sự dịch chuyển phát sinh từ đầu tư: Một biến cố khiến các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn
tại một mức giá cho trước (lạc quan về tương lai, giảm lãi suất do cung ứng tiền tệ tăng)
dịch chuyển đường tổng cầu về bên phải. Một sự kiện khiến các doanh nghiệ
p đầu tư ít đi
ở một mức giá cho trước (bi quan về tương lai, lãi suất tăng do giảm cung ứng tiền tệ) dịch
chuyển đường tổng cầu về bên trái.
3. Sự dịch chuyển phát sinh từ mua sắm chính phủ: Sự gia tăng mua sắm chính phủ về hàng
hoá và dịch vụ (chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng hoặc xây dựng các đường cao tốc) làm
dịch chuyển đường tổng cầu sang phải. Gi
ảm mua sắm hàng hoá và dịch vụ của chính phủ
(giảm chi cho quốc phòng và làm đường) làm dịch chuyển đường tổng cầu sang trái.
4. Sự dịch chuyển phát sinh từ xuất khẩu ròng: Một biến cố làm tăng chi tiêu cho xuất khẩu
ròng tại một mức giá cho trước (bùng nổ kinh tế ở nước ngoài, tỷ giá hối đoái giảm) sẽ
dịch chuyển đường tổng cầu sang phải. Một biến cố làm gi
ảm chi tiêu cho xuất khẩu
ròng (suy thoái ở nước ngoài, tỷ giá hối đoái tăng) sẽ dịch chuyển đường tổng cầu sang
trái.
Hình 4. Đường tổng cung dài hạn. Trong dài hạn, lượng cung về sản phẩm phụ thuộc vào
lượng lao động, tư bản và tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế và công nghệ dùng để
chuyển các đầu vào này thành sản lượng. Lượng cung ứng không phụ thuộ
c vào mức mức
giá chung. Kết quả là, đường tổng cung dài hạn thẳng đứng tại mức sản lượng tự nhiên.
Về thực chất, đường tổng cung thẳng đứng chỉ là một cách áp dụng sự phân đôi cổ điển và
tính trung lập của tiền. Như chúng ta đã thảo luận, lý thuyết kinh tế vĩ mô cổ điển dựa trên
giả định cho rằng các biến thực t
ế không phụ thuộc vào các biến danh nghĩa. Đường tổng
cung thẳng đứng phù hợp với tư tưởng này, vì nó hàm ý rằng sản lượng (biến thực tế) không
phụ thuộc vào mức giá (biến danh nghĩa). Như đã lưu ý trước đây, hầu hết các nhà kinh tế tin
rằng nguyên lý này đúng khi nghiên cứu nền kinh tế trong thời kỳ dài nhiều năm và không
còn đúng nếu nghiên cứu sự thay đổi từ năm này qua nă
m khác. Do vậy, đường tổng cung chỉ
thẳng đứng trong dài hạn.
Người ta có thể băn khoăn rằng tại sao đường cung về các mặt hàng cụ thể có thể dốc lên nếu
đường tổng cung dài hạn thẳng đứng. Lý do là cung về hàng hoá và dịch vụ phụ thuộc vào
giá tương đối - tức giá của hàng hoá và dịch vụ đó so với các giá khác trong nền kinh tế. Ví
dụ khi giá kem tăng lên, các nhà sản xuất kem sẽ tăng sả
n lượng và lấy đi lao động, sữa, sô
cô la và các đầu vào khác từ sản xuất các sản phẩm khác, chẳng hạn sữa chua. Trái lại, tổng
sản lượng của cả nền kinh tế bị giới hạn bởi lao động, tư bản, tài nguyên thiên nhiên và công
nghệ. Do đó, nếu giá cả của tất cả hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế cùng tăng lên thì
tổng lượng cung về hàng hóa và dịch vụ sẽ không thay đổi .
Tại sao đường tổng cung dài hạn có thể dịch chuyển


Bất kỳ một thay đổi nào trong nền kinh tế mà làm thay đổi mức sản lượng tự nhiên cũng làm
dịch chuyển đường tổng cung dài hạn. Do sản lượng trong mô hình cổ điển phụ thuộc vào lao
động, tư bản, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ, nên chúng ta có thể phân loại những dịch
chuyển của đường tổng cung dài hạn theo các nguồn gốc này.
Những thay đổi phát sinh từ lao động. Hãy tưởng tượng ra rằng nền kinh tế có s
ự gia tăng
làn sóng nhập cư từ nước ngoài. Do có nhiều lao động hơn, lượng cung về hàng hoá và dịch
vụ tăng lên. Kết quả là, đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải. Ngược lại, nếu
nhiều công nhân rời bỏ nền kinh tế để ra nước ngoài, đường tổng cung sẽ dịch chuyển sang
trái.
Vị trí của đường tổng cung dài hạn còn phụ thuộc vào tỷ lệ thất nghiệp t
ự nhiên, nên bất kỳ
sự thay đổi nào trong tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên này cũng dịch chuyển đường tổng cung dài
hạn. Ví dụ nếu Quốc hội cần phải tăng đáng kể mức lương tối thiểu lên, tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên sẽ tăng và nền kinh tế sẽ sản xuất ra một lượng hàng hoá và dịch vụ nhỏ hơn. Kết quả
là đường tổng cung dài hạn sẽ dịch chuyển sang bên trái. Ngược lại, nếu cải cách trong hệ
thống bảo hiểm thất nghiệp khuyến khích người thất nghiệp nỗ lực tìm việc làm hơn, tỷ lệ
thất nghiệp tự nhiên sẽ giảm, và đường tổng cung dài hạn sẽ dịch chuyển sang phải.
Những thay đổi phát sinh từ tư bản. Sự gia tăng khối lượng tư b
ản trong nền kinh tế làm
tăng năng suất, và do đó làm tăng lượng cung về hàng hoá và dịch vụ. Kết quả là đường tổng
cung dài hạn dịch chuyển sang phải. Ngược lại, sự suy giảm trong khối lượng tư bản làm
giảm năng suất, giảm lượng cung về hàng hoá và dịch vụ, làm cho đường tổng cung dài hạn
dịch sang trái.
Cần chú ý rằng lô gích trên áp dụng cho cả trường hợp tư bản hi
ện vật và vốn nhân lực. Sự
gia tăng khối lượng máy móc hay số người tốt nghiệp đại học đều nâng cao năng lực sản xuất
hàng hoá và dịch vụ. Do vậy, chúng đều làm cho đường tổng cung dài hạn dịch sang phải.
Những thay đổi phát sinh từ tài nguyên thiên nhiên. Nền sản xuất của một quốc gia phụ

GDP thực tế trong các chương
trước, thì giờ đây đều có thể coi là làm tăng lượng cung về hàng hoá và dịch vụ và đường tổng
cung dài hạn dịch chuyển sang phải. Bất cứ chính sách hay biến cố nào làm giảm GDP thực tế
được đề cập trong các chương trước đều có thể được coi là làm giảm lượng cung về hàng hoá và
dịch vụ và làm cho đường tổng cung về hàng hoá và dịch vụ dịch chuyển sang trái.
Một cách mớ
i để mô tả tăng trưởng dài hạn và lạm phát
Sau khi đã giới thiệu đường tổng cầu và tổng cung dài hạn của nền kinh tế, bây giờ chúng ta
có một cách mới để mô tả xu thế dài hạn của nền kinh tế. Hình 5 mô tả những thay đổi đối
với nền kinh tế qua các những năm. Cần chú ý rằng cả hai đường đều dịch chuyển. Mặc dù
có nhiều yếu tố ảnh h
ưởng đến nền kinh tế trong dài hạn, và về nguyên tắc có thể đã gây ra
những sự dịch chuyển đó, nhưng hai yếu tố quan trọng nhất trong thực tế vẫn là công nghệ và
chính sách tiền tệ. Tiến bộ công nghệ nâng cao khả năng sản xuất hàng hoá và dịch vụ của
nền kinh tế và điều này làm cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang phải. Cùng lúc đó
do Quỹ dự trữ
Liên bang Mỹ liên tục tăng cung ứng tiền tệ, nên đường tổng cầu cũng dịch
sang phải. Như hình này cho thấy, kết quả là sự tăng trưởng theo xu thế của sản lượng (biểu
thị bằng sự gia tăng của Y) và lạm phát liên tục (biểu thị bằng sự gia tăng của P). Đây là một
cách khác để biểu thị sự phân tích cổ điển về
tăng trưởng và lạm phát trình bày trong chương
24 và 28.
Tuy nhiên, mục tiêu phát triển đường tổng cầu và tổng cung không phải là để khoác chiếc
áo mới cho những kết luận dài hạn. Thay vào đó, nó cung cấp cho chúng ta một khuôn
khổ để phân tích ngắn hạn như sẽ thấy ngay sau đây. Khi xây dựng mô hình ngắn hạn,
chúng ta giữ cho phân tích đơn giản bằng cách không xem xét sự tăng trưởng và lạm phát
liên tục trong hình 5. Tuy nhiên luôn nhớ rằng, các xu thế dài hạn tạo ra nền t
ảng cho các
biến động ngắn hạn. Biến động ngắn hạn trong sản lượng và mức giá nên được coi là
những sai lệch so với xu thế dài hạn diễn ra liên tục.

0
P
1980
Y
1980
AD
1980
P
2000
P
1990
LRAS
1980
2. và sự gia tăng cung tiền làm dịch
chu
y
ển đườn
g
tổn
g
cầu
AD
2000
AD
1990
4 và lạm
phát tiếp
diễn
Y
1990

Tại sao đường tổng cung lại dốc lên trong ngắn hạn
Bây giờ chúng ta đi đến điểm khác nhau then chốt giữa nền kinh tế trong ngắn hạn và trong
dài hạn: hành vi của tổng cung. Như chúng ta đã thảo luận, đường tổng cung dài hạn thẳng
đứng. Trái l
ại trong ngắn hạn, đường tổng cung lại dốc lên như trong hình 6. Nghĩa là, trong
vòng một hay hai năm, sự gia tăng trong mức giá chung có xu hướng làm tăng lượng cung về
hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế và sự giảm sút mức giá có xu hướng làm giảm lượng
cung về hàng hoá và dịch vụ.
Yếu tố nào gây ra mối quan hệ thuận này giữa mức giá và sản lượng? Các nhà kinh tế vĩ mô
đã đưa ra ba lý thuyết để giải thích cho sự dố
c lên của đường tổng cung ngắn hạn. Trong mỗi
lý thuyết đó, một sự không hoàn hảo của thị trường làm cho mặt cung của nền kinh tế trong
ngắn hạn có biểu hiện khác với trong dài hạn. Mặc dù các lý thuyết này khác nhau về chi tiết,
nhưng chúng có một kết luận chung: lượng cung về sản lượng chệch khỏi mức dài hạn hay tự
nhiên khi mức giá chệch khỏi mức giá mà mọi người dự ki
ến. Khi mức giá vượt quá mức dự
kiến, sản lượng sẽ vượt quá mức tự nhiên và khi mức giá thấp hơn mức dự kiến, sản lượng
giảm xuống dưới mức tự nhiên của nó.

Hình 6. Đường tổng cung ngắn hạn. Trong ngắn hạn một sự giảm giá từ P
1


P
2
1.Sự giảm sút
của mức giá

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 14
cấp phản ứng lại những thay đổi trong mức giá và phản ứng này dẫn đến đường tổng cung
dốc lên trong ngắn hạn.
Để hiểu quá trình này diễn ra như thế nào, chúng ta hãy giả sử mức giá chung giảm xuống
dưới mức mà mọi người dự kiến. Khi các nhà cung cấp thấy giá sản phẩm của mình giảm, họ
có thể lầm tưởng rằng giá tương đối đã giảm. Ví dụ, ngườ
i nông dân trồng lúa mì có thể nhận
thấy giá lúa mì giảm trước khi biết rằng giá của nhiều hàng tiêu dùng mà họ mua giảm. Từ
kết quả quan sát này, họ có thể suy luận rằng giá lúa mỳ là thấp tạm thời và họ có thể phản
ứng lại bằng cách cắt giảm lượng lúa mỳ mà họ cung ứng. Tương tự như vậy, công nhân có
thể nhận thấy lương danh nghĩa của họ giảm trước khi nhậ
n ra rằng giá hàng hoá mà họ mua
giảm. Họ có thể suy luận rằng mức thù lao lao động tạm thời thấp và họ phản ứng bằng cách
cắt giảm lượng lao động mà họ cung ứng. Trong cả hai trường hợp, mức giá thấp hơn gây ra
nhận thức sai lầm về giá tương đối và nhận thức sai lầm này làm cho các nhà cung cấp phản
ứng lại mức giá thấp hơn bằng cách cắt giảm lượng cung v
ề hàng hoá và dịch vụ.
Lý thuyết tiền lương cứng nhắc. Cách lý giải thứ hai cho đường tổng cung ngắn hạn dốc
lên là lý thuyết tiền lương cứng nhắc. Theo lý thuyết này, đường tổng cung ngắn hạn dốc lên
vì tiền lương danh nghĩa điều chỉnh chậm chạp hay “cứng nhắc” trong ngắn hạn. Trong một

doanh nghiệp trong nền kinh tế thông báo giá cả cho các sản phẩm của họ trước dựa trên
những dự báo về các điều kiện kinh tế. Nhưng sau khi giá cả đã được công bố, n
ền kinh tế
trải qua thời kỳ thu hẹp cung ứng tiền tệ nằm ngoài dự kiến và điều này làm giảm mức giá

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 15
chung trong dài hạn. Mặc dù có thể có một số doanh nghiệp giảm giá ngay để phản ứng lại
những thay đổi trong nền kinh tế, song các doanh nghiệp khác có thể tạm thời không điều
chỉnh gì cả do không muốn chịu thêm chi phí thực đơn. Vì giá của các doanh nghiệp này quá
cao, doanh thu bán của họ giảm xuống. Sự giảm sút doanh thu đến lượt nó lại làm cho các
doanh nghiệp này cắt giảm sản xuất và việc làm. Nói cách khác, do không phải tất cả giá cả

đều điều chỉnh ngay lập tức khi điều kiện kinh tế thay đổi, nên sự giảm sút bất ngờ của trong
mức giá có thể làm cho một số doanh nghiệp có giá bán cao hơn mức mong muốn, và điều
này làm giảm doanh số bán ra và lượng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp sản xuất.
Tóm tắt. Có ba cách lý giải khác nhau về sự dốc lên của đường tổng cung ngắn hạn: (1) nhận
thức sai lầ
m, (2) tiền lương cứng nhắc, (3) giá cả cứng nhắc. Các nhà kinh tế tranh luận với
nhau về việc lý thuyết nào đúng. Để phục vụ cho mục đích của chúng ta trong cuốn sách này,
những mặt giống nhau giữa chúng còn quan trọng hơn là sự khác biệt. Cả ba lý thuyết nói
rằng sản lượng sẽ chệch khỏi mức tự nhiên khi mức giá lệch khỏi mức dự kiến. Chúng ta có
thể biểu thị nh
ận định này bằng công thức toán học như sau:
Sản lượng cung ứng = Mức sản lượng tự nhiên + a (Mức giá thực tế - Mức giá dự kiến)
Trong đó a là con số cho biết sản lượng phản ứng như thế nào trước sự thay đổi ngoài dự
kiến của mức giá.

vọng về mức giá. Cho
nên khi kỳ vọng thay đổi, đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển.

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 16
Để làm cho ý tưởng này cụ thể hơn, chúng ta hãy xem xét một lý thuyết cụ thể về tổng cung -
đó là lý thuyết tiền lương cứng nhắc. Theo lý thuyết này, nếu mọi người dự báo mức giá cao,
họ sẽ quy định tiền lương cao. Tiền lương tăng làm tăng chi phí của doanh nghiệp, và tại mức
giá thực tế bất kỳ cho trước, nó làm giảm lượng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp
cung ứng. Do vậy, khi mức giá d
ự kiến tăng, tiền lương sẽ tăng, chi phí sẽ tăng và các doanh
nghiệp quyết định cung ứng ít hàng hoá và dịch vụ hơn tại bất kỳ mức giá thực tế cho trước
nào. Do vậy, đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang trái. Ngược lại, khi mức giá dự
kiến giảm, tiền lương sẽ giảm, chi phí sẽ giảm, các doanh nghiệp tăng sản lượng và đường
tổng cung ngắ
n hạn dịch sang bên phải.
Lô gích tương tự cũng được áp dụng cho các lý thuyết khác. Bài học chung là: Sự gia tăng
mức giá dự kiến làm giảm lượng cung hàng hoá và dịch vụ. qua đó dịch chuyển đưòng tổng
cung ngắn hạn sang bên trái. Sự giảm sút mức giá dự kiến làm tăng lượng cung về hàng hoá
và dịch vụ, qua đó dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn sang phải. Như chúng ta sẽ thấy
trong phần sau, ảnh hưởng này của kỳ vọng về mức giá đối với vị trí của đường tổng cung
ngắn hạn đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa hành vi của nền kinh tế trong ngắn hạn
và dài hạn. Trong ngắn hạn, kỳ vọng được cố định và nền kinh tế nằm ở giao điểm của đường
tổng cầu và đường tổng cung ngắn hạn. Trong dài hạ
n, kỳ vọng được điều chỉnh và đường
tổng cung ngắn hạn dịch chuyển. Sự dịch chuyển này cuối cùng sẽ đưa nền kinh tế đến giao
điểm của đường tổng cầu và đường tổng cung dài hạn.

4. Những thay đổi phát sinh từ công nghệ: Tiến bộ trong tri thức công nghệ làm cho đường tổng
cung dịch chuyển sang bên phải. Sự giảm sút của công nghệ (do quy định của chính phủ) làm
cho đường tổng cung dịch sang trái.
5. Những thay đổi phát sinh từ mức giá kỳ vọng: Sự giảm sút của mức giá dự kiến làm dịch
chuyển đường tổng cung sang phải. Sự gia tăng mức giá dự kiến làm dịch chuyể
n đường
tổng cung sang trái.
Bảng 2. Đường tổng cung ngắn hạn: Tóm tắt.
Kiểm tra nhanh: Hãy lý giải tại sao đường tổng cung dài hạn lại thẳng đứng. Hãy giải thích
ba lý thuyết lý giải tại sao đường tổng cung ngắn hạn lại dốc lên.
HAI NGUYÊN NHÂN GÂY RA BIẾN ĐỘNG KINH TẾ
Bây giờ, sau khi đã giới thiệu mô hình tổng cầu và tổng cung, chúng ta đã có những công cụ
cơ bản để phân tích các biến động trong hoạt động kinh tế. Trong chương ti
ếp theo, chúng ta
sẽ học cách sử dụng các công cụ này kỹ hơn. Nhưng ngay lúc này đây, chúng ta có thể vận
dụng những gì đã học về tổng cầu và tổng cung để xem xét hai nguyên nhân cơ bản gây ra
các biến động kinh tế ngắn hạn.


bằng

Mức sản lượng
tự nhiênNGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 18
Những ảnh hưởng do sự thay đổi của tổng cầu
Giả sử rằng vì một lý do nào đó mà một làn sóng bi quan lan ra toàn nền kinh tế. Lý do có
thể là một vụ xì căng đan ở Nhà Trắng, sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán hay sự bùng
nổ một cuộc chiến tranh ở nước ngoài. Do biến cố này, nhiều người mất lòng tin vào
tương lai và thay đổi kế hoạch của họ. Các h
ộ gia đình giảm tiêu dùng, trì hoãn các khoản
mua sắm lớn và các doanh nghiệp tạm ngừng việc mua thiết bị mới.
Làn sóng bi quan này ảnh hưởng đến nền kinh tế như thế nào? Một biến cố như thế sẽ làm
giảm tổng cầu về hàng hoá và dịch vụ. Nghĩa là, tại bất cứ mức giá nào, các hộ gia đình và
các doanh nghiệp giờ đây cũng muốn mua ít hàng hoá và dịch vụ hơn. Như hình 8 cho thấ
y,
đường tổng cầu dịch sang trái và từ AD
1
đến AD
2
.
Trong hình này, chúng ta có thể xem xét các ảnh hưởng của sự suy giảm tổng cầu. Trong
ngắn hạn,


2
. Theo thời gian, nhận thức, tiền lương và giá cả điều chỉnh, đường
tổng cung ngắn hạn dịch chuyển từ AS
1
đến AS
2
, và nền kinh tế đạt tới điểm C, nơi đường
tổng cầu mới cắt đường tổng cung dài hạn. Mức giá giảm xuống P
3
, và sản lượng quay về
mức tự nhiên Y
1
.
nền kinh tế di chuyển dọc từ A đến B theo đường tổng cung ngắn hạn ban đầu AS
1
. Khi nền
kinh tế chuyển từ A dến B, sản lượng giảm từ Y
1
xuống Y
2
và mức giá giảm từ P
1
xuống P
2
.
Sự suy giảm sản lượng cho thấy nền kinh tế rơi vào suy thoái. Mặc dù không được biểu thị
trong hình vẽ, các doanh nghiệp phản ứng lại sự giảm sút doanh số bán ra và sản xuất bằng
cách cắt giảm việc làm. Do vậy, sự bi quan khiến cho đường tổng cầu dịch chuyển, trong một
chừng mực nào đó lại chính là do tự bản thân chúng ta: nghĩa là sự bi quan về tương lai làm
cho thu nhập giảm và thấ

2
C
P
3
3. nhưng theo thời
gian, đường tổng cung
ngắn hạn dịch chuyển
4. và sản lượng trở về mức tự nhiên

NGUYÊN LÝ KINH TẾ HỌC
Chương 14 – Tổng cầu và tổng cung 19
Các nhà hoạch định chính sách nên làm gì khi đối mặt với một cuộc suy thoái như vậy? Một
khả năng là thực hiện các biện pháp để kích thích tổng cầu. Như chúng ta đã nhấn mạnh ở
phần trước, sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ hay cung ứng tiền tệ đều làm tăng tổng cầu
về hàng hoá và dịch vụ tại mọi mức giá, làm cho đường tổng cầu dịch chuyển sang phải. Nếu
các nhà ho
ạch định chính sách hành động kịp thời và chính xác, họ có thể triệt tiêu sự dịch
chuyển ban đầu của đường tổng cầu, đẩy nó trở về AD
1
và đưa nền kinh tế về điểm A. Trong
chương tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận kỹ hơn về cách mà chính sách tài khoá và tiền tệ ảnh
hưởng đến tổng cầu và những khó khăn trong việc sử dụng những chính sách này trong thực
tế.
Ngay cả khi các nhà hoạch định chính sách không can thiệp gì cả thì cuộc suy thoái cũng sẽ
tự phục hồi sau một khoảng thời gian. Do tổng cầu giảm, mức giá giả
m xuống. Có thể, kỳ
vọng bắt theo kịp thực tế và mức giá dự kiến cũng giảm. Do sự giảm sút của mức giá dự kiến

ận chuyển dầu, đẩy
chi phí sản xuất các sản phẩm dầu mỏ lên cao. 1. Sự dịch chuyển bất lợi
của đường tổng cung ngăn
h

n

AS
2
Tổng cung
dài hạn
Tổng cung ngắn
hạn, AS
1
Sản lượng
Mức giá
0
Tổng cầu

2
trong khi mức giá tăng từ P
1
lên P
2
.
Ảnh hưởng kinh tế vĩ mô của sự gia tăng chi phí sản xuất là gì? Ở mỗi mức giá bất kỳ cho
trước, các doanh nghiệp muốn cung ứng ra ít hàng hoá và dịch vụ hơn. Như trong hình 10
cho thấy, đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang trái từ AS
1
đến AS
2
. (Tuỳ theo biến cố,
đường tổng cung dài hạn cũng có thể dịch chuyển. Nhưng để giữ cho sự việc đơn giản, chúng
ta giả định nó không dịch chuyển.)
Trong hình này, chúng ta có thể theo dõi những ảnh hưởng của việc đường tổng cung
dịch chuyển sang trái. Trong ngắn hạn, nền kinh tế di chuyển dọc theo đường tổng cầu từ
điểm A đến điểm B. Sản lượng củ
a nền kinh tế giảm từ Y
1
xuống Y
2
trong khi mức giá
tăng từ P
1
lên P
2
. Do nền kinh tế vừa rơi vào suy thoái (sản lượng giảm) và vừa trải qua
lạm phát (mức giá tăng) nên hiện tượng này được gọi là suy thoái đi kèm lạm phát.


và duy trì ở mức đó.
Các nhà hoạch định chính sách nên làm gì khi phải đối mặt với tình trạng suy thoái kèm lạm
phát? Như chúng ta sẽ thảo luận kỹ hơn trong phần sau của cuốn sách này, không có những
lựa chọn dễ dàng. Một khả năng là không làm gì cả. Trong trường hợp này, sản lượng hàng
hoá và dịch vụ tiếp tục ở mức thấp Y
2
trong một thời gian. Nhưng cuối cùng, tình trạng suy
thoái sẽ tự hiệu chỉnh khi nhận thức, tiền lương và giá cả điều chỉnh đối với chi phí sản xuất
cao hơn. Ví dụ, thời kỳ có sản lượng thấp và thất nghiệp cao gây áp lực làm cho tiền lương
công nhân giảm. Đến lượt nó, tiền lương thấp hơn làm tăng sản lượng. Theo thời gian khi mà
đường tổng cung ngắn hạn dị
ch chuyển trở lại AS
1
, mức giá giảm và sản lượng tiến tới mức
A
S
2
1. Khi tổng cung ngắn hạn giảm
Sản lượng
Mức sản lượng tự nhiên
Mức giá
0
Tổng cung ngắn hạn, AS
1

Tổn
g
cầu, AD
1
Tổng cung dài

cung ngắn hạn bằng cách làm dịch chuyển đường tổng cầu. Khả năng này được bi
ểu diễn
trong hình 11. Trong trường hợp này, những thay đổi trong chính sách làm đường tổng cầu
dịch chuyển từ AD
1
đến AD
2
, vừa đủ để ngăn chặn không cho sự dịch chuyển đường tổng
cung tác động đến sản lượng. Nền kinh tế di chuyển trực tiếp từ điểm A đến điểm C. Sản
lượng duy trì ở mức tự nhiên và mức giá tăng từ P
1
đến P
3
. Trong trường hợp này, các nhà
hoạch định chính sách đã thích ứng với sự dịch chuyển của đường tổng cung, bởi vì họ cho
phép sự gia tăng chi phí ảnh hưởng lâu dài tới mức giá.
Tóm lại, sự dịch chuyển của đường tổng cung có hai hàm ý quan trọng:
 Sự dịch chuyển của đường tổng cung có thể gây ra lạm phát đi kèm suy thoái, tức là kết
hợp giữa suy thoái (sản lượng giảm) và lạm phát (mức giá tăng).
 Các nhà hoạch định chính sách, những người có thể ảnh hưởng đến tổng cầu, không thể
đồng thời làm triệt tiêu cả hai ảnh hưởng bất lợi này.
NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG: DẦU MỎ VÀ NỀN KINH TẾ
Một số biến động kinh tế lớn nhất ở Mỹ từ năm 1970 có nguồn gốc ở các mỏ dầu ở Trung
Đông. Dầu thô là một đầu vào rất quan trọng trong quá trình sản xuất của nhiều hàng hoá
và dịch vụ, và phần lớn dầu mỏ của thế giới được khai thác ở Ảrập Xêút, Cô oét và các
nước Trung Đông khác. Khi một biến cố nào đó (thường là có nguồn gốc chính tr
ị) làm
giảm lượng dầu được cung ứng từ khu vực này, giá dầu trên toàn thế giới sẽ tăng. Các
doanh nghiệp của Mỹ sản xuất ra xăng, săm lốp và nhiều sản phẩm khác phải chịu chi phí
cao hơn. Kết quả là sự dịch chuyển sang trái của đường tổng cung và điều này dẫn đến hiện

thác. Trên thị trường dầu thế giới, giá dầu giảm khoảng một nửa. Sự giảm giá dầu này làm
giảm chi phí cho các doanh nghiệp của Mỹ và làm cho đường tổng cung dịch chuyển sang
phải. Kết quả là, nền kinh tế Mỹ trải qua trạng thái ngược lại của lạm phát kèm suy thoái: Sản
lượng tăng nhanh, thất nghiệp giảm và tỷ lệ lạm phát đạt mức thấp nhất sau nhiều năm.
Trong nh
ững năm gần đây, thị trường dầu mỏ thế giới tương đối yên tĩnh. Ngoại lệ duy
nhất là một thời kỳ ngắn trong những năm 1990, ngay trước Cuộc chiến tranh vùng Vịnh,
khi mà giá dầu tạm thời tăng vì người ta lo sợ rằng cuộc xung đột quân sự kéo dài có thể
làm ngừng trệ sản xuất dầu. Tuy nhiên, sự yên tĩnh này không có nghĩa là nước Mỹ
không cần phả
i lo đến giá dầu nữa. Những rắc rối chính trị ở Trung Đông (hay sự hợp tác
chặt chẽ hơn giữa các thành viên OPEC) luôn có thể đẩy giá dầu lên cao. Kết quả kinh tế
vĩ mô của sự gia tăng mạnh trong giá dầu có thể dễ dàng giống với tình trạng lạm phát
kèm suy thoái của những năm 1970. KẾT LUẬN: NGUỒN GỐC CỦA TỔNG CẦU VÀ TỔNG CUNG
Chương này đã đạt được hai mục tiêu chính. Thứ nhất, chúng ta đã thảo luận một số đặc
điểm quan trọng về các biến động kinh tế ngắn hạn. Thứ hai, chúng ta đã giới thiệu mô hình
cơ bản để giải thích những biến động kinh tế, gọi là mô hình tổng cầu và tổng cung. Trong
hai chương tiếp theo, chúng ta sẽ
xem xét từng mảng của mô hình này chi tiết hơn để hiểu rõ
hơn các yếu tố nào gây ra những biến động trong nền kinh tế và các nhà hoạch định chính
sách đối phó với chúng ra sao.
Bây giờ chúng ta đã có những hiểu biết sơ bộ về mô hình này và cũng nên nhìn lại lịch sử của
nó. Mô hình về các biến động kinh tế ngắn hạn hình thành như thế nào? Câu trả lời là, về cơ
bản nó là sản phẩm phụ
của cuộc Đại suy khủng hoảng kinh tế trong những năm 1930. Các
nhà kinh tế và hoạch định chính sách vào thời gian này rất bối rối, không hiểu được nguyên
nhân của thảm họa này và không biết đối phó với nó như thế nào.

 Các nhà kinh tế phân tích biến động kinh tế ngắn hạn bằng cách sử dụng mô hình tổng cầu
và tổng cung. Theo mô hình này, sản lượng hàng hoá và dịch vụ, cũng như mức giá chung
điều chỉnh để cân bằng tổng cầu và tổng cung.
 Đường tổng cầu dốc xuống vì ba lý do. Thứ nhất, mức giá thấp hơn làm tăng giá trị thực
tế của số tiền mà các hộ gia đình nắm giữ và điều này kích thích chi cho tiêu dùng. Thứ
hai, mức giá thấp hơn làm giảm lượng tiền mà các hộ muốn nắm giữ và do các hộ gia
đình tìm cách đổi từ tiền mặt sang các tài sản đem lại lãi suất, lãi suất sẽ giảm và điều
này khuy
ến khích chi cho đầu tư. Thứ ba, vì mức giá thấp hơn làm giảm lãi suất, đồng
đô la mất giá trên thị trường ngoại tệ, điều này kích thích xuất khẩu ròng.
 Bất cứ biến cố hay chính sách nào làm tăng tiêu dùng, đầu tư, mua sắm của chính phủ, hay
xuất khẩu ròng tại một mức giá bất kỳ cho trước, đều làm tăng tổng cầu. Bất cứ biến cố
hay chính sách nào làm giảm tiêu dùng, đầu tư, mua sắm của chính phủ, hay xuất khẩu
ròng tại một mức giá cho trước, đều làm giảm tổng cầu.
 Đường tổng cung dài hạn nằm thẳng đứng. Trong dài hạn, lượng hàng hoá và dịch vụ
cung ứng ra phụ thuộc vào lao động, tư bản, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ của nền
kinh tế, chứ không phụ thuộc vào mức giá chung.
 Có ba lý thuyết được đưa ra để lý giải tại sao đường tổng cung ngắn hạn lại dốc lên.
Theo lý thuyết nhận thức sai lầm, sự suy giảm ngoài dự kiến của mức giá làm cho các
nhà cung cấp tin một cách lầm lẫn rằng giá tương đối của họ đã giảm, điều khiến họ cắt
giảm sản lượng. Theo lý thuyết tiền lương cứng nhắc, sự giảm sút mứ
c giá ngoài dự kiến
tạm thời làm tăng tiền lương thực tế, điều khiến các doanh nghiệp thuê ít lao động hơn,
và cắt giảm sản lượng. Theo lý thuyết giá cả cứng nhắc, sự giảm sút mức giá ngoài dự
kiến làm cho một số doanh nghiệp có giá tạm thời quá cao, nó làm giảm doanh số bán ra
và làm các doanh nghiệp cắt giảm sản lượng. Cả ba lý thuyết này đều hàm ý rằng sản
lượng lệch khỏ
i mức tự nhiên của nó khi mức giá lệch khỏi mức giá mà mọi người dự
kiến.
 Các biến cố làm thay đổi năng lực sản xuất của nền kinh tế, như thay đổi trong lao động,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status