Trêng §¹i häc kinh tÕ quèc d©n
BÀI TẬP NHÓM
LỊCH SỬ HỌC THUYẾT KINH TẾ
Đề tài:
Sự chống lại quy tắc cứng nhắc
trong chính sách tiền tệ và lý thuyết kinh tế.
Sinh viªn thùc hiÖn
: 1. LÊ THU HIỀN-CQ521191
2. PHÙNG HOÀI THU - CQ523500
3. NGUYỄN THỊ KHANH-CQ521829
4.NGUYỄN NHƯ NGỌC - CQ522542
5.PHẠM THỊ HÀ MY - CQ534678
6. TRƯƠNG THỊ MINH ÁNH- CQ520264
7. PHẠM THỊ THU HÀ - CQ520980
8. LÊ THỊ LAN ANH - CQ520088
Líp
:
LỊCH SỬ HỌC THUYẾT KINH TẾ 21
Hµ Néi - 09/2012
1
Sự chống lại quy tắc cứng nhắc
Xem Chính sách tiền tệ và lý thuyết kinh tế.
Introduction ( Giới thiệu)
Trọng tâm bài luận văn của tôi là để giải thích lý do tại sao học thuyết kinh tế
của Keynes không tương thích với các nguyên tắc cứng nhắc bằng cách phác họa
quan điểm của ông về "quy tắc" trong chính sách tiền tệ và tiền tệ trong quan hệ
quốc tế. Mọi sự dính dáng đến chủ nghĩa mĩ học trang trọng hoặc những quy tắc
được định nghĩa 1 cách cứng nhắc dường như không diễn tả hêt được công việc
của ông. Sự đối lập trong lý thuyết của Keynes về tính thẩm mĩ trang trọng đã dẫn
nhắc về chính sách tiền tệ và hệ thống tiền tệ quốc tế, và những tiêu chuẩn tiền tệ
có thể cân nhắc (Mishkin Năm 2009; Orphanides và Wieland 2008; Issing 2011).
Những quy tắc trong quan hệ tiền tệ quốc tế được xác định để giảm thiểu sự lên
xuống của tỷ giá hối đoái (tiêu chuẩn vàng, tỷ giá hối đoái cố định) và để tránh sự
mất cân bằng cán cân thanh toán (McKinnon 1993).
Việc cân nhắc giữa quy tắc và quyết định cũng dẫn đến công việc của Simon
(1936).Theo lý thuyết số lượng, Simons phản đối rằng số lượng tiền có thể không
được xây dựng như là một số lượng cứng nhắc như những người ủng hộ học thuyết
đã từng nghĩ. Simons chỉ rõ rằng số lượng chính nó đã rất dễ thay đổi, bởi vì nó
phụ thuộc vào vận tốc của tiền bạc, cái mà không thể được dự đoán một cách chắc
chắn. Bất kì 1 quan điểm cố hữu nào, sau đó đều phải thừa nhận rằng thị trường sẽ
không đáp lại 1 số lượng nào chắc chắn, nhưng đối với chính sách của ngân hàng
trung ương, nó lại được nhận thức, tìm hiểu cách ra quyết định và hành động dưới
con mắt của cộng đồng (Muchlinski 2011a). Không có nghi ngờ gì rằng việc giải
thích và ý nghĩa của "quy tắc so với quyết định" đã được thay đổi trong suốt những
thập kỷ qua. Một tiêu chuẩn giải thích sự khác biệt giữa cứng nhắc, tức là quy tắc
không phản ứng, mà được định nghĩa như 1 con đường với những phương tiện
hoặc mục tiêu mà không có bất kỳ 1 sự liên hệ nào đến hiện trạng và những
nguyên tắc phản ứng không cố định, trong đó hàm ý do những sự phản hồi thiếu
của hiện trạng quan sát. Trong khi đó, những quy tắc không có sự phản ứng đó tập
trung vào sự bổ sung vào chính nó, những nguyên tắc có sự phản ứng lại tập trung
vào các mục tiêu đã đc công bố bằng cách sử dụng phương pháp thích nghi.
Trong Những điểm mới về kinh tế vĩ mô cổ điển (NCM), có thể lấy ví dụ, thị
trường quen thuộc với nhiều kiểu phản ứng, do đó những cách phản ứng đó được
định nghĩa như là "quy tắc phản hồi ". Quy tắc trong chính sách tiền tệ được hiểu
như một phương pháp để hạn chế sự tùy ý ra quyết định của ngân hàng trung ương
và sự hỗ trợ của họ để đánh lừa công chúng bởi "lạm phát sai lệch". Blinder chỉ ra
rằng:
Trong những cuộc tranh cãi hiện tại về “Quy tắc so với quyết định”, dựa trên thời
gian không thống nhất, tôi đã tin rằng mọi thứ đã khác hẳn. Theo quan điểm của
hành động linh hoạt nhưng điều này không ngụ ý hành động mà không có cam kết
với chính nó. Tự cam kết là liên quan đến tính minh bạch, độc lập, và trách nhiệm.
Minh bạch có nghĩa sự hiểu biết về những gì một ngân hàng trung ương, trên thực
tế, những gì ngân hàng đó đang làm (Issing 1999). Ngân hàng trung ương phải tập
trung vào quá trình xây dựng kì vọng để tác động đến những mục tiêu dài hạn và
để "mỏ neo kỳ vọng ở một mức độ phù hợp với nhiệm vụ của việc duy trì ổn định
giá cả "(2009 Issing, 7).
4
Bernanke (2004) cho rằng sự quan tâm rất lớn tới vấn đề liệu một quy tắc cứng
nhắc có hàm ý một hiệu quả cao hơn của chính sách tiền tệ:
Vấn đề chính là số tình huống bất ngờ mà chính sách có thể trả lời là có hiệu quả
vô tận (và, thật sự là, không thể lường trước được). Trong khi chỉ định một quy tắc
chính sách hoàn chỉnh là không khả thi, thì, một ngân hàng trung ương có thể làm
nhiều hơn thế - bằng cả hành động và lời nói của mình - để tăng cường khả năng
của thị trường tài chính để có thể dự đoán các hành động chính sách tiền tệ. Với sự
tôn trọng đến hành động, các ngân hàng trung ương nên cư xử càng có hệ thống và
dễ hiểu càng tốt, cung cấp cho nền kinh tế vĩ mô 1 môi trường tài chính tốt. Đó là,
mặc dù chính sách tiền tệ không thể được thực hiện bằng những quy tắc máy móc,
chính sách có thể và cần phải có chức năng của " những thứ giống như nguyên
tắc". Rõ ràng, chính sác tiền tệ càng hệ thống hơn và phù hợp hơn với một vài
nguyên tắc cơ bản, thì sẽ càng dễ dàng hơn cho cộng đồng để có thể hiểu và tự
đoán được hành động của Fed ???? Ngôn từ cũng rất cần thiết trong trường hợp
này.
Những sự tranh cãi dựa trên những giả thuyết cứng nhắc mà không được kết nối tới
thế giới đương thời này đều sẽ không bao giờ chạm đến được phạm vi hoạt động
của ngân hàng trung ương, điều mà luôn tập trung vào tính phi hiệu quả của chính
sách tiền tệ trong thực tế. Tất cả “số bằng cách vẽ hoặc vẽ bằng số” (Vickers 1998)
đều có liên hệ đến hiện tại, nghĩa là, thế giới nhận thức. Tại sao, sau đó, chúng ta
bàn luận về các quy tắc cứng nhắc hoặc một sự phân đôi "quy tắc so với sự tự do
cân nhắc"? Lý thuyết kinh tế và mô hình hóa thường cố gắng để làm cho những sự
Chỉ ở trong 1 phép loại suy máy móc, thì sự mong đợi của những người tham gia
thị trường mới được mô hình hóa như đang được thúc đẩy bởi các quy tắc cố định.
Tính hiệu quả của chính sách tiền tệ không phải là một hậu quả của một lập luận
suy diễn dựa trên phản ứng kích thích kinh tế của một thế giới kiểu mẫu, mà dựa
trên cơ sở xác định cứng nhắc.
Một vấn đề mà tác động đặc biệt mạnh mẽ đến thị trường đó chính là là do sự
không đồng bộ của thời gian. Trong khi đó, những hành động của ngân hàng trung
ương đều được thực hiện trong một thời gian cụ thể, mà những câu trả lời của
người tham gia thị trường lại được thực hiện với thời gian có độ trễ khác nhau. Sự
không đồng bộ về thời gian này, về cơ bản liên quan đến cấu trúc dài hạn của lãi
suất tại các thị trường khác nhau. Sự hình thành các cấu trúc kỳ hạn lãi suất là do
"kinh nghiệm quá khứ và kỳ vọng hiện tại của chính sách tiền tệ trong tương lai,
(mà) được coi là không an toàn bởi ý kiến đại diện "(Keynes (1973-1989), CW,
Vol. VII, 203). 4. Keynes nhấn mạnh về việc thiếu tự tin và không chắc chắn là
không tương thíchvới mô hình của giả thuyết kỳ vọng hợp lý, cái mà duy trì sự
chắc chắn các kết quả trong tương lai. Khái niệm của ông thể hiện tính không ổn
định và sự mong manh của kiến thức.
6
Vì vậy, những quy tắc cứng nhắc, máy móc, độc lập của nền kinh tế đương thời
không còn thích hợp cho chính sách tiền tệ. Keynes chỉ ra theo sự tự do cân nhắc
chứ không phải là quy tắc cứng nhắc:
Chúng ta có thể và nên cam kết (i) để duy trì sự ổn định ngắn hạn trong một số
phạm vi; (ii) không phải viện đến sự giảm giá đơn thuần để có được lợi thế cạnh
tranh trong thương mại quốc tế Nhưng chúng ta phải duy trì một sự cân nhắc cơ
bản để làm bất cứ điều gì là cần thiết để làm dịu đi những đột biến hoặc sự căng
thằng mãnh liệt hay nhẹ nhàng, mà không đặt mình vào bất cứ sự chỉ trích nào .
Với thiện chí và sự hợp tác thực sự giữa các ngân hàng trung ương, tỉ giá hối đoái
cố định là không cần thiết cho thương mại quốc tế, và trong trường hợp không có
những điều kiện như vậy, chúng không chỉ nguy hiểm, mà hoàn toàn không đáng
tin cậy. Chúng ta sẽ có được sự hợp tác tốt hơn nếu chúng ta không tạo ra 1 sự
thể chấp nhận được nếu khác với Keynes (1973-1989), CW, IX, 62).
Sự trở về với tiêu chuẩn vàng là một giải pháp thực tế, không phải là sự chấp nhận
của những "Quy tắc của trò chơi" (C.W., XXI, 361). Keynes đã đề xuất “tỉ giá hối
đoái thả nổi” như là một sự thay đổi tỉ giá hối đoái theo hoàn cảnh kinh tế, bởi vì
nó "được mong muốn duy trì vĩnh viễn một số quyền lực dần dần được điều chỉnh
giữa các quốc gia và trong những điều kiện quốc tế "(C.W., IX, 362). Chúng tôi
tìm thấy 1 số văn bản trong” Những bản viết được thu thập” chứng minh rằng
chính sự lưỡng lự này đã xác định từng loại tiền tệ trong mối quan hệ với vàng
giống như 1 quy tắc cố định dựa trên những chỉ số. Ông cũng tránh bất kỳ định
nghĩa chính xác nào của một trạng thái cân bằng hợp lý về tỷ giá hối đoái (ibid).
Để thuận tiện hơn, ông đề xuất điều phối những sự thay đổi tỷ giá hối đoái.
Tỉ giá hối đoái có thể được thiết lập khi không có căng thẳng quá mức nào ở hai
bên và không có sự dịch chuyển lớn về khối lượng vàng (dựa trên trên sự cân bằng
cán cân thanh toán), sẽ đáp ứng điều kiện của chúng ta về trạng thái cân bằng. Nó
sẽ là đủ nếu các ngân hàng trung ương khác nhau có thể chấp nhận mà không cần
lo lắng nghiêm trọng nào về thời gian, quy định rằng sẽ không có sự thay đổi đáng
kể thay đổi nào trong các điều kiện cơ bản (CW, XXI, 361-362).
Trong "Con đường để cải cách tiền tệ" (1924), Keynes đã giải thích rằng cả những
quy tắc cứng nhắc hay niềm tin vào một sự ổn định của bất kỳ tiêu chuẩn kim loại
nào đều là những phương pháp hợp lý để thành công. Để giải thích quan điểm của
ông, tôi muốn nói thêm rằng, lý thuyết thuần túy sẽ không có cách nào để có được
sự rõ ràng nếu như những tiên đề đó không liên quan gì đến thế giới đương đại.
Những lý thuyết thuần túy được xây dựng hướng tới mục đích của của sự đơn giản
hay chủ nghĩa thẩm mĩ trang trọng đều là 1 một khái niệm mù mờ. "Các tiêu chuẩn
không sử dụng kim loại, cái thứ mà chúng tôi có kinh nghiệm, đã là 1 thứ gì đó
hơn là thí nghiệm lạnh lùng "(Keynes (1973-1989), CW, Vol. IV, 170). Lập luận
này là rất quan trọng. Những quy tắc không còn hoạt động của tiêu chuẩn kim loại
"đã trở nên bấp bênh bởi những lý do giả tạo của nó "- một thời gian dài trước
chiến tranh (1924, 171).
8
chiến lược như phá giá cạnh tranh (CW, XXI, 368). Không có "bàn tay vô hình"
nào kết hợp quyết định của các nước với kết quả của một trạng thái cân bằng quốc
tế. Điều này cũng đúng đối với chính sách ngân hàng trung ương trong lý thuyết
hiện đại:
9
Trong thế giới hiện đại của tiền giấy và tín dụng ngân hàng không có lối thoát nào
từ việc tiề n tệ 'được quản lý', cho dù chúng ta muốn hay không; chuyển đổi thành
vàng sẽ không làm thay đổi thực tế là chính giá trị của vàng phụ thuộc vào chính
sách của Ngân hàng Trung ương. ( ) Nó sẽ là vô lý để điều chỉnh tỷ giá của ngân
hàng bằng cách tham chiếu đến một tỷ lệ đã mất tất cả ý nghĩa của nó. ( )Tỷ giá
của ngân hàng hiện đang được sử dụng, tuy nhiên không đầy đủ và thực nghiệm,
điều chỉnh việc mở rộng và giảm phát của tín dụng trong lợi ích của sự ổn định của
kinh doanh và sự vững chắc giá cả.
Keynes nhìn nhận ngân hàng trung ương là tương thích với quan điểm hiện đại.
Một người có thể có được khuynh hướng tranh luận như của ông không chỉ vượt ra
ngoài quy tắc cứng nhắc, mà còn vượt ra ngoài các quy tắc so với sự tự do cân
nhắc, bởi vì ông đã không giải thích lý thuyết của ông trong vòng một sự phân đôi
hoặc các thuật ngữ kép.
Định hình quan hệ tiền tệ quốc tế
Tôi muốn tiến gần hơn tới quan điểm của Keynes về việc hình thành tiền tệ quốc tế
dựa trên mối quan hệ cơ bản của hệ thống đa phương tiện. Keynes đã thay đổi quan
điểm của mình về cơ chế quốc tế của các phương pháp đã được điều chỉnh vài lần,
nhưng một trong những đề xuất chi phối là: Ông đã không thể hiện một sự thay đổi
trong tỷ giá hối đoái như là một phương pháp của quá trình thanh toán bù trừ thị
trường. Theo quan hệ tiền tệ quốc tế, ông chỉ ra quy tắc điều chỉnh luôn chú ý đến
tình hình hiện đại của đất nước. Điều này không bao gồm một chiến lược đề phòng
giảm giá cạnh tranh của bất kỳ quốc gia riêng biệt nào.
Moggridge đã phác thảo trong công việc tiên phong của ông, rằng Keynes đã từ
chối quy tắc cứng nhắc của Kế hoạch trắng bởi vì : “Nó giống nmột sự đầu hàng
của chủ quyền và cứng nhắc như vậy là không thể chấp nhận được đối với người
Cơ chế điều chỉnh mà Keynes đã giải thích là vượt ra ngoài phạm vi của phương
pháp tự do kinh tế. Hơn nữa, nó đã vượt ra ngoài sự phân đôi "quy tắc so với quyết
định" bởi vì ông đã thu hút sự chú ý đến tình hình hiện đại như một toàn thể, trong
đó mỗi nước sẽ sở hữu một vị trí tạm thời. Một sự thay đổi vị trí của một cá nhân
cũng sẽ thay đổi kết quả của toàn bộ, nhưng không phải trong một phương thức bổ
sung, bởi vì toàn bộ không phải đơn giản là tổng của các bộ phận của nó. Nếu một
thứ thay đổi hoàn toàn thì không phải là một thực thể cố định, việc điều tra của các
bộ phận của nó đòi hỏi phải có phương pháp riêng biệt và các phương tiện phân
tích. Chúng được giải thích dựa trên mối tương quan hữu cơ và không phải là một
sự bổ sung tuyến tính của các thành phần của nó. Tóm lại, chúng tôi đã xem xét
một số bằng chứng văn bản công việc của Keynes. Tiếp theo điểm tôi muốn thực
hiện là giới thiệu một số khía cạnh của phương pháp luận.
Một số quan điểm theo triết học
Đối với Keynes,sự cần thiết của việc hình thành các quan hệ tiền tệ quốc tế có liên
quan với sự cần thiết phát triển các điều khoản và khái niệm mới. Nó không thể
giải thích những vấn đề kinh tế theo thuật ngữ mà không loại trừ vấn đề gì cả. Sự
11
cần thiết của một tư duy mới yêu cầu phạm trù mới và các điều khoản mới bước
vượt ra ngoài niềm tin trong quan niệm ảo tưởng hoặc những mệnh đề cứng nhắc,
được đề xuất chắc chắn và hoàn thành phạm vi kiến thức. Keynes đã sử dụng các
đề xuất hạn trong ý nghĩa của phán xét và thuyết phục (Xem Muchlinski 2003a).
Bởi vậy, đề xuất được liên kết với thế giới đương đại, với kinh nghiệm và cả
những kỳ vọng.
Đó là nhu cầu của Keyne khi muốn rời bỏ các yếu tố được xây dựng vì lợi ích của
hình thức chính thức và không chính thức, được xác định bởi những lý thuyết
chính thống trong quá khứ để giới thiệu một cái nhìn hiện đại của tư duy kinh tế.
Lý thuyết chính thống đã đánh đồng 1 cách lỏng lẻo với lý thuyết cổ điển, tân cổ
điển lý thuyết và các tiên đề tiềm ẩn cùng những giả định được xác định nghiêm
túc. Cốt lõi của nó là lý thuyết cân bằng, giả định hợp lý tối ưu hành vi và mô hình
cách tiếp cận chính thức để xây dựng kỳ vọng,vì thế việc suy diễn những tiên đề là
hơn: Một tài sản hay nguyên tắc là hợp lý nếu nó là một phần của chất (chính nó).
Do đó, tài sản hoặc nguyên tắc là vốn có đối tượng. Kant cũng như New-Kant đã
bị đối lập với bản thể học.
Câu hỏi là, liệu bản thể học của chủ nghĩa hiện thực có bất kỳ sự liên quan nào đến
khoa học kinh tế.Tôi sẽ hoài nghi thêm bởi vì cơ cấu kinh tế và các đối tượng
không phải đã được đưa ra. Sự thực về kinh tế được tạo ra hoặc tạo ra các sự thật.
Chúng được dựa trên sự định nghĩa và các khái niệm để mô tả các quyết định kinh
tế và hành động thị trường. Như Keynes giải thích quyết định và hành động kinh tế
dựa trên sự dự tính xây dựng trong ánh sáng của sự không chắc chắn và sự phán
đoán thông thường hoặc ý kiến trung bình bởi vì " với một người đàn ông trong
một trạng thái của sự thiếu hiểu biết " không có" cách giải thoát "(Muchlinski
2011b). Hơn nữa, sự thật kinh tế không phải độc lập với sự nhận thức hoặc sự công
nhận của mỗi cá nhân. Theo công việc của Keynes, tôi đề nghị phải giải thích rằng
quan điểm của ông không dựa trên chủ nghĩa hiện thực bản thể học.
Tôi quay về quan điểm truyền thống về chủ nghĩa kinh nghiệm. Đây là chi nhánh
của chủ nghĩa kinh nghiệm tập trung vào sự tương ứng giữa sự thật và thực tế. Hai
giả thuyết cơ bản được đề cập: Một cho rằng không có vai trò cho một nguyên tắc
ưu tiên. Giả thuyết thứ 2 nói về bất kỳ đề xuất nào về các sự kiện hoặc các sự kiện
cơ bản gốc rễ trong kinh nghiệm. Đề xuất này hoặc là một mô tả về kinh nghiệm
hoặc sở hữu một mối quan hệ hợp lý mô tả kinh nghiệm dựa trên một kết luận quy
nạp.Quan điểm của Hume cho rằng kinh nghiệm là sự tích lũy kinh nghiệm chủ
quan gây ra vấn đề của biện minh cho mục tiêu hiểu biết.
Đây là điểm khởi đầu cho triết học của Kant, một quan điểm siêu việt. Kant phê
bình Lý luận thuần túy (CPR). Đó là gì? Ông trả lời bằng cách liên kết những câu
hỏi để suy nghĩ. Trên phương diện khoa học, ông đã vạch ra với Copernican “chỉ
thể hiện một mối quan hệ với những khả năng của kiến thức”( Phê bình lý tính
thuần túy (1781/1965), phần B 266). Kiến thức là một kết quả của sự tương tác
giữa trực giác và khái niệm. Trong tất cả những điều này, không chắc chắn nó vẫn
13
còn tồn tại vì trực giác chỉ là một điều kiện tiên quyết của kiến thức, không phải là
cho chúng ta một tiêu chuẩn để đánh giá liệu bằng chứng đã cho xác suất của hai
mệnh đề có bằng nhau hay không ( Keynes (1973–1989).
Cách tiếp cận siêu việt này của Kant nhấn mạnh kinh nghiệm nhưng cũng không
bỏ qua giới hạn của nó (Parsons 1992). Những tinh hoa của nó là tất cả đối tượng
nào được đưa ra nhận thức. Nó không bao gồm khả năng xác định các đối tượng
14
nhận thức với bản thân của đối tượng này. Đối với Kant ngôn ngữ không chỉ là
một phương tiện truyền thông nhưng cũng là một yếu tố cấu thành của tri thức.
Trong khi đó, triết học của Kant là một chuyển đổi của siêu hình học; triết học
phân tích – sau Ludwig Wittgenstein (công việc của ông kể từ năm 1929 ) và
Gilbert Ryle ( 1966) trong số những người khác lần lượt đưa ra những bản thể học.
Wittgenstein vàRyle đã đưa ra ý tưởng chính xác hơn (Muchlinski 2011c).
Có bất cứ sự liên quan đến công việc của Kenyes ở đây không? Lý thuyết kinh tế
của ông không xây dựng dựa trên truyền thống chủ nghĩa kinh nghiệm như đã giới
thiệu trước đó. Lý thuyết Kenyes về kiến thức bao hàm ý không chắc chắn và
không thể lý giải được sự mỏng manh của kiến thức. Ông phản đối chủ nghĩa kinh
nghiệm trong những nghiên cứu về xác suất. Ông giải thích xác suất từ một cái
nhìn của nhận thức luận quan điểm trên. Một xác suất chứa đựng nhận thức thực tế
của một cá nhân và một nguyên tắc ưu tiên.
Điểm tiếp theo, tôi muốn giải quyết với xu hướng kiến tạo mà không đi sâu hơn về
nguồn gốc và sự phát triển. Kiến tạo duy trì kiến thức khoa học là kết quả của công
trình khoa học tiến bộ hay suy nghĩ. Do đó, sự thật không được tiết lộ cho các nhà
khoa học nhưng được xây dựng bởi họ. Tri thức khoa học được thành lập. Đương
nhiên, có sự khác nhau giữa diễn giải và tạo dựng. Mặc dù có sự khác biệt, một
trong những tính năng đặc biệt của kiến tạo có thể được xác định là : Khoa học
không phát minh một cơ cấu xác định của thực tại. Theo cách hiểu này có 2 kết
luận đưa ra: Một dẫn đến ý tưởng rằng bất kỳ quá trình khoa học nào cũng để giải
quyết các công trình xã hội vì lợi ích của sự hiểu biết. Cách hiểu thứ hai về cơ bản
là bi quan hơn bởi vì nó nói rằng không thực tế xã hội cũng như xã hội nào có thể
hiểu hơn so với thế giới tự nhiên. Trong hướng nhìn kiên quyết của mình,xu hướng
Đối với Keynes, điều quan trọng là phải đưa ra khái niệm cũng như sự phân loại về
thế giới nhận thức . Cách tiếp cận này không tính đến sự cống hiến của ông đối với
chủ nghĩa hiện thực tạo nên ý nghĩa của bản thể học hiện thực. Bằng chứng cho
giả thuyết của tôi được cung cấp bởi quan điểm của Keynes về hệ thống tiền tệ
quốc tế. Sự điều phối tiền tệ quốc tế nên tránh một sự hợp tác ảo tưởng của các chủ
thể. Nó dựa trên ý kiến của các cá nhân hoặc các quốc gia- phải chịu trách nhiệm
đối với lợi ích riêng của họ cũng như hậu quả 1 cách thống nhất với nhau .
Keynes giải thích sự suy luận sai lầm đó là : sự hợp lý riêng lẻ của một cá nhân
không cần thiết bao hàm sự hợp lý của toàn bộ nền kinh tế thị trường bởi vì nó
không đơn thuần là việc gộp các phần lại với nhau .
Việc chống lại những quy tắc cứng nhắc cố định nhưbộ xương khô
Đâu là những gốc rễ quan điểm của ông cho rằng những quy tắc cứng nhắc cố
định độc lập với các quy tắc của kinh tế đương đại không thích ứng với quan hệ
giữa chính sách tiền tệ và tiền tệ quốc tế? Nó được phản ánh trong sự phản bác 1
cách rõ ràng của ông về cơ sở của lý thuyết cổ điển (GT, xxi, 33, 192, 371, CW
XIII, 488).
Cách tiếp cận của ông là cách tiếp cận logic, nhưng không phải loại logic lưỡng trị.
Ông không chỉ trích những kinh nghiệm không thể chấp nhận được của những kết
16
luận hay sự mâu thuẫn logic giữa tiền đề và kết luận, nhưng khá ngụ ý của tiền đề
chính thống. Như Keynes đã nói: "Nếu theo quan điểm này , tất cả các phần còn
lại sẽ dựa trên nó" (GT, 1936, 21) Phần bên trên của lý thuyết cổ điển được xây
dựng 1 cách cẩn thận để đạt được " tính nhất quán hợp lý " ( Keynes ( 1973-1989 ),
c. W ., Vol. VII, xxi ). Keynes định nghĩa lôgíc cổ điển ( nghĩa là, logic của Aristot
) như1 bộ xương khô. Do đó, ông mô tả tiền đề của lý thuyết kinh tế tân cổ điển
cũng cứng nhắc như là 1 bộ xương khô vậy.
Ông phản đối quy tắc cứng nhắc cố định được thiết kế vì lợi ích của chủ nghĩa mỹ
học trang trọng cái mà được hiểu như là bộ xương khô. Keynes bác bỏ giả định có
tính (tân) cổ điển vì sự phổ thông được vin vào không gian và thời gian. Theo ông
một tiêu chí quan trọng trong việc xác định tính hợp lệ của một mô hình là sự liên
này của Wittgenstein, Wittgenstein (Muchlinski 2011b).Việc trích dẫn cho những
quan điểm này là rất quan trọng ,là bắt nguồn từ quan điểm của lịch sử tư tưởng
kinh tế. Sự chuyển đổi của các khái niệm và các phân loại được dẫn chứng tài liệu
từ chủ nghĩa kinh nghiệm anh cũng như chủ nghĩa hiện thực và kiến tạo bản thể
học.
Keynes mô tả xác suất như là một mối quan hệ logic giữa hai mệnh đề: tiền đề và
kết luận (Keynes (1973-1989), CW, Vol. VIII, 11). Không chỉ trong hai mệnh đề,
mà sự quen thuộc đã cho phép thể hiện vấn đề xác suất. (Keynes1973-1989), C.W.,
Vol. VIII, 19). Keyne giải thích cặn kẽ vì sao có các phân bố xác suất đều .Ông
nhắc đến sự kém hiểu biết trong khi nhiều người coi chuyện đó như là hiển nhiên,
không giải thích được tại sao, dẫn đến tính toán sai lầm vì khi phân bố không đều
vẫn cứ coi là đều). (Keynes (1973-1989), CW, Vol. VIII, 356). Do đó, ý nghĩa của
xác suất tùy theo đánh giá riêng với sự không chắc chắn để nhận thấy quan hệ
giữa định đề với " hợp lý mức độ niềm tin”
Lý thuyết xác suất là hợp lý, do đó, bởi vì nó liên quan với mức độ tin tưởng mà nó
minh họa trong những điều kiện nhất định, và không chỉ với thực tế niềm tin của
các cá nhân cụ thể, mà có thể hoặc không là hợp lý (Keynes (1973-1989),C.W.,
Vol. VIII, 4).
Ông đưa ra khái niệm lý thuyết xác suất như là một lý thuyết về các loại kiến thức
chung khác . Điều này cung cấp 1 cơ cấu chắc chắn nào đó được tìm thấy trong lý
thuyết kinh tế của ông,ví dụ, sự chắc chắn , tính thanh khoản cao, kỳ vọng và đánh
giá thông thường. quan điểm của Vị trí của Keynes có thể được mô tả như là một
cách tiếp nhận thực tế xa hơn sự chấp nhận một thế giới bên ngoài của cá nhân.
Trong công việc sau này của mình, Wittgenstein nghĩ đến việc xem xét rằng đó là
cách biểu hiện mà kỳ vọng và sự hoàn thành tạo ra sự liên quan đến nhau
(Muchlinski 2006). Cách tiếp cận hiện thực không nên nhầm lẫn với cái được gọi
là chủ nghĩa hiện thực "phê phán”. Theo quan điểm của Keynes, có người cũng đã
tìm thấy các yếu tố duy lý(O'Donnell 1989). Quan điểm của người này trái ngược
với chủ nghĩa lý tưởng, tức là, ông loại bỏ những khái niệm vô nghĩa, và chủ nghĩa
18
từ khi ông phản đối sự tính toán của Benthamine. Ông xem logic lưỡng giá trị
không đầy đủ cho mục đích của mình để tìm giải pháp cho các khó khăn về kinh
tế . Những gì cần phải được thảo luận là làm thế nào để giải quyết một cách đơn
giản hơn các vấn đề kinh tế (Duménil và Lévy năm 1997; D'Autume và Cartelier
1997).
19
Một điểm quan trọng là, mặc dù bản chất của quy tắc trong các mô hình là một bản
mô tả cụ thể hóa, quy tắc chính nó thường được hiểu là các bản hướng dẫn quy
chuẩn mà không ảnh hưởng sâu hơn trên phạm vi của nó,về ý nghĩa quy
chuẩn.Hơn nữa, chúng được nhìn nhân như các quy tắc phổ quát hoặc pháp luật
phổ quát. Như Keynes nói, "cho nó là điều hiển nhiên " tất cả các phần còn lại sẽ
được suy luận theo . Quy tắc hay sự phân đôi "quy tắc so với quyết định" như đã
giới thiệu trước đó không phải là do định luật hấp dẫn. Kinh tế và lý thuyết kinh tế
không được hướng dẫn bởi các điều khoản cứng nhắc hay là pháp luật phổ quát.
Ngược lại, điều khoản, quy định và pháp luật có liên quan đến hành động kinh tế,
nhận thức, kinh nghiệm và quyết định. Quan hệ được coi là hiện tượng tự nhiên
như định luật hấp dẫn là không thuyết phục. Hành động và quyết định kinh tế
không được điều khiển bởi quyền lực phổ cập hoặc các cơ chế ẩn sau nó.
Các thông số kinh tế như lãi suất ngắn hạn và dài hạn và giá cả được hiểu như là
kết quả của quá trình ra quyết định theo sự không chắc chắn. Đáng ngạc nhiên hay
không, cộng đồng khoa học đã không thành công trong việc xác định các quy tắc ,
không có ai đã từng viết ra một quy tắc thỏa đáng cho đến bây giờ.
Nói về chính sách tiền tệ được xây dựng bởi một sự phân đôi sai, tức là "quy tắc so
với quyết định", sự tín nhiệm giả dối có vẻ là một mâu thuẫn. Hiệu quả của chính
sách tiền tệ không phải là một kết quả của một sự liên tục đánh lừa công chúng về
mục tiêu, chiến lược, và dự báo được thực hiện bởi các ngân hàng trung ương. Một
kết quả của sự nghiên cứu của tôi là sự phân đôi nổi tiếng "quy tắc đối với quyết
định " là không có liên quan đến Keynes,bởi vì ông đã sử dụng thuật ngữ "quy tắc"
không phải trong ý nghĩa của khái niệm thực tế trang trọng . Ông thực hiện một
sự phân biệt rõ ràng giữa những quy tắc không cố định 1 cách cứng nhắc và quyết