một số vấn đề về an ninh lương thực của khu vực asean và việt nam được phản ánh qua báo chí những năm gần đây - Pdf 24

MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống, để có thể tồn tại và phát triển con người không thể
nào sống thiếu lương thực. Việc lo cho mọi người dân có đủ ăn- An ninh
lương thực (ANLT) - đã được các quốc gia quan tâm từ rất lâu. ANLT luôn
được coi là một yếu tố nền tảng để đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã
hội. Thống kê của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực của Liên hợp quốc
(FAO) cho thấy, hiện nay vẫn còn có hơn 1/7 nhân loại (khoảng 800 triệu
người) đang sống trong cảnh thiếu ăn. Điều đó có nghĩa là cứ bẩy người đang
sống thì có một người luôn phải đương đầu với mối lo cái ăn hàng ngày.
Chính vì vậy, vấn đề ANLT ngày nay không chỉ còn là nỗi lo riêng của mỗi
quốc gia mà nó đã trở nên lớn hơn đó là mối lo chung của toàn thế giới.
Với xu hướng đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế, Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập từ tháng 8/1967 cho tới nay (1999)
gồm 10 thành viên: Malaysia, Indonesia, Philippine, Singapore, Thái Lan,
Brunei, Việt Nam, Lào, Mianmar và Campuchia. Hơn 30 năm tồn tại và hoạt
động, ASEAN đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trong các lĩnh vực chính
trị, giải quyết các tranh chấp trong khu vực, dần dần nâng cao vị thế của khu
vực trên trường quốc tế và với mong muốn nơi đây là khu vực của hoà bình
hợp tác hữu nghị và cùng phát triển.
Còng trong mối lo lắng chung của toàn thế giới về tình hình ANLT, các
nước trong khu vực ASEAN đã có sự chú trọng tới vấn đề này từ rất sớm. Với
xu thế đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế, ngày nay trong khu vực không chỉ
có hợp tác về kinh tế - chính trị- văn hoá mà đang diễn ra một lĩnh vực hợp
tác mới đó là: cùng hợp tác để đảm bảo ANLT cho riêng mỗi quốc gia và cho
cả khu vực.
Là một lĩnh vực hợp tác mới : lo ANLT cho toàn khu vực, do đó mỗi
quốc gia trong khu vực ngoài việc phải lo ANLT trong nước thì cần phải có sự
cố gắng phối hợp rất nhiều thì mới có thể thành công trong lĩnh vực hợp tác
mới này. Đối với Việt Nam, một quốc gia có dân số xấp xỉ 80 triệu người với
70- 80% dân số sống bằng nghề nông thì việc đảm bảo ANLT là một vấn đề
cực kì quan trọng. Từ trước những năm 90 nước ta luôn thiếu lương thực,

với sự quản lý điều tiết lúa gạo của chính phủ
Trong phạm vi thời gian và sức lực của một sinh viên tập sự nghiên cứu
khoa học với đề tài “Một số vấn đề về an ninh lương thực của khu vực
ASEAN và Việt Nam được phản ánh qua báo chí những năm gần đây” chúng
tôi không có tham vọng nghiên cứu toàn diện mà chỉ hạn chế ở một số vấn đề
quan trọng sau đây: ANLT với việc xoá đói giảm nghèo, công nghiệp hoá -
hiện đại hoá nông nghiệp, đầu tư vào nông nghiệp, sự quản lý điều tiết lúa gạo
của chính phủ qua sự phản ánh của các tờ báo: Nhân Dân, Nông nghiệp, Việt
Nam - Đông Nam Á ngày nay, Thời báo kinh tế Việt Nam trong cùng một
thời kì từ 1996-1998. Việc người viết lùa chọn bốn tờ báo trên bởi vì: tờ Nhân
Dân “Cơ quan trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam - Tiếng nói của Đảng
Nhà nước và Nhân dân Việt Nam” là tờ báo lớn nhất nước, nơi đăng tải chính
những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi đi đầu trong việc
phản ánh và thực hiện những đường lối chính sách đã được đề ra, tờ Nông
nghiệp là tờ báo chuyên nghành nông nghiệp, tất cả những vấn đề có liên
quan đến nông nghiệp đều được đăng tải ở đây. Hai tờ còn lại là những tờ có
viết nhiều về tình hình kinh tế và tình hình khu vực. Mặt khác, các tờ báo này
đều là những tờ có số lựơng độc giả phong phó.
Trong công trình nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như: sưu tầm, thống kê, phân loại, khái quát, phân tích,so sánh nội
dung và hình thức của các bài viết trên bốn tờ báo về các vấn đề trên trong
cùng thời kỳ (1996-1998).
Bố cục được chia theo các phần chính như sau:
* Phần mở đầu: Khái quát mục đích, yêu cầu, hạn chế đề tài, phương
pháp nghiên cứu và bố cục chung của luận văn.
- ANLT là một vấn đề lớn có liên qua đến mọi mặt của đời sống, góp
phần sự ổn định xã hội.Tính cấp thiết của đề tài là cơ sở cho việc hình thành
lý do chọn đề tài.
- Những đóng góp của báo chí là vô cùng to lớn trong việc tuyên truyền
và phản ánh tầm quan trọng cuả ANLT của khu vực ASEAN và Việt Nam tới

thực hiện chính sách quốc gia về ANLT.
2 Bốn vấn đề: Xoá đói giảm nghèo, Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
nông nghiệp, Đầu tư vào nông nghiệp, Sự quản lý đIều tiết gạo của Chính
phủ qua sự phản ánh của bốn tờ báo: Nhân dân, Nông nghiệp, Việt Nam
& Đông Nam á ngày nay, Thời báo kinh tế Việt Nam.
a Vấn đề xoá đói giảm nghèo.
b Vấn đề Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn(CNH-
HĐH nông nghiệp, nông thôn).
3 Vấn đề đầu tư vào nông nghiệp.
4 Sự quản lý điều tiết lúa gạo của chính phủ.
* Phần kết luận: Tóm tắt ưu nhược điểm ; kiến nghị.
CHƯƠNG I

BÁO CHÍ VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN PHẢN ÁNH TÌNH HÌNH
ANLT BA NĂM GẦN ĐÂY (1996-1998) TRÊN CÁC BÁO: NHÂN DÂN-
NÔNG NGHIỆP- VIỆT NAM & ĐÔNG NAM Á NGÀY NAY- THỜI
BÁO KINH TẾ VIỆT NAM.
1. Tầm quan trọng của báo chí trong công tác phản ánh tình hình
ANLT.
Ngay từ khi ra đời cho tới nay, nền báo chí cách mạngViệt Nam luôn
luôn được coi là phương tiện đắc lực luôn đi đầu trong việc tuyên truyền chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Từ buổi đầu đất nước đi lên trong
khó khăn bởi nạn xâm lăng, báo chí Việt Nam không những được coi là điểm
tựa tinh thần trong suốt cuộc kháng chiến mà sự đóng góp lớn lao của nó còn
được đánh giá như một vai trò không thể thiếu được trên con đường đưa đất
nước tới hoà bình ổn định hôm nay.
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, báo chí của ta ngày một
trưởng thành luôn xứng đáng với sự tin tưởng là chiếc cầu nối giữa Đảng,
Chính phủ với quần chúng nhân dân. Chiếc cầu nối thông tin luôn giúp cho
mọi đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ đến với người

cũng đưa ra những ý kiến đề xuất với các cấp lãnh đạo để giải quyết các vấn đề
trên nhằm góp phần đảm bảo ANLT và sự phát triển của nông nghiệp nước
nhà.
ANLT ngày nay đã trở thành một vấn đề quan trọng không thể thiếu
được trong đời sống của con người. Để có thể tuyên truyền phản ánh tình hình
ANLT tới từng người dân giúp họ hiểu được tầm quan trọng của ANLT đối
với mình thì không gì có thể thay thế được vai trò của báo chí.
2. Nội dung của các tin, bài viết về tình hình ANLT trên các tờ báo:
Nhân Dân- Nông Nghiệp- Việt Nam- Đông Nam Á ngày nay- Thời báo
kinh tế Việt Nam.
Trong mối quan hệ giữa công chúng với báo chí thì sự quan tâm của
công chúng dành cho báo chí và hiệu quả thông tin, tuyên truyền mà báo chí
tác động tới công chúng phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố sau đây:
- Vấn đề báo chí nêu lên có phải là những vấn đề cần thiết cho cuộc
sống, khiến công chúng sẵn sàng quan tâm và chờ đón hay không.
- Hình thức chuyển tải nội dung thông tin trên báo có hấp dẫn người
đọc, người xem và người nghe hay không.
Từ xa xưa khi báo chí mới ra đời con người đã sớm nhận thức được
diều này và rất quan tâm đến mối quan hệ giữa báo chí và người đọc.
Không nằm ngoài phương châm hành động Êy, báo chí của ta cũng
đang ngày một cải tiến nhằm nâng cao chất lượng để phục vụ người đọc được
tốt hơn. Trong hoạt động nghiệp vụ của mình, các nhà báo đã ngày càng tận
dụng được nhiều hơn khả năng hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại
bên cạnh đó là việc lùa chọn những thể loại thích hợp để khai thác triệt để đề
tài phục vụ cuộc sống.
Trong vòng 3 năm qua tình hình ANLT và các vấn đề có liên quan chặt
chẽ tới việc đảm bảo ANLT đã được đề cập khá nhiều trên 4 tờ báo này dưới
nhiều hình thức đa dạng.
a. Tin:
Tin là một thể loại được sử dụng thường xuyên trên các tờ báo để phản

tính hợp lý khó đạt đến mức độ toàn vẹn. Trong khi đó, bổ xung cho nhau, chỉ
riêng phần tin tức trên bốn tờ báo đã có tác dụng hỗ trợ làm phong phú nguồn
tin và có tác dụng khá hiệu quả trong tuyên truyền.
Về cấu trúc của tin mà bốn tờ báo sử dụng để thông tin về các vấn đề
liên quan tới ANLT, chúng tôi nhận thấy có một dạng được sử dụng nhiều hơn
cả đó là cấu trúc “hình tháp ngược”. Trong dạng này tác giả chú ý đưa yếu tố
quan trọng (phần tin cốt lõi ) lên trên cùng nhằm đạt mục đích gây sự chú ý,
quan tâm của người đọc ngay từ khi mới bắt đầu đọc và người đọc có thể nắm
được thông tin chính một cách nhanh nhất, có kết quả nhất. Hiệu quả của cách
viết này luôn được thực tế đánh giá cao vì người đọc dễ dàng nắm bắt được
thông tin khi đọc những dòng đầu tiên của tin. Ví dụ:
-“Indonesia lại phải nhập khẩu gạo trong năm nay”.
(Thời báo kinh tế Việt Nam, trang 15 ,thứ 7 ngày 3/1/98).
-“Giới thiệu hợp tác ASEAN về lương thực, nông và lâm nghiệp”.
(Báo Nông nghiệp, số 26/680 từ 30/3- 1/4/98).
-“Lào tiếp nhận và phân phối 200 tấn thóc giống do chính phủ Việt
Nam tặng”.
(báo Nông nghiệp, số 80/630 từ 6-8/10/97).
-“ Hội nghị ban chấp hành diễn đàn quốc hội Châu Á về an toàn lương
thực và dân số”.
(Nhân dân, trang 4 sè 14928 ngày 4/5/96).
Ngoài việc sử dụng “ hình tháp ngược” để thể hiện tin tức các tác giả
cũng sử dụng cấu trúc “hình chữ nhật”. Mỗi yếu tố thông tin trong đó có tầm
quan trọng tương đương nhau và có thể đứng thành cụm từ độc lập, những tin
được thể hiện dưới hình thức này phần lớn là tin có dung lượng khá dài.
Trong đó vừa có con số vừa có suy nghĩ của tác giả hay nhà chuyên môn nào
đó. Ví dụ trong tin: Hội thảo quốc tế “An ninh lương thực Việt Nam-
ASEAN”- Báo Việt Nam- Đông Nam Á sè 20/10/98 có viết: “hội thảo quốc tế
lần này xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề ANLT trong khu vực và thế
giới hiện nay. Việc đảm bảo an ninh lương thực không chỉ là vấn đề hôm nay

lương thực tại Indonesia”(Phương Anh, Việt Nam- Đông Nam Á ngày nay sè
19 tháng 10/98) phản ánh về tình hình Indonesia trong cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ, những bất ổn về tình hình kinh tế- xã hội đã làm ảnh hưởng trầm
trọng tới tình hình an ninh lương thực của đất nước này. Tác giả cho ta thấy
rõ tầm quan trọng của an ninh lương thực đối với Indonesia, một quốc gia với
dân số lớn nhất khu vực. Những nguyên nhân đe doạ trực tiếp đến an ninh
lương thực và công cuộc đi tìm giải pháp giải quyết các vấn đề về an ninh
lương thực của đất nước này.
Sử dụng dạng bài phản ánh này, các tác giả có lợi thế là ngoài những
con số thông tin, còn có thể đưa ra những ý kiến của chính mình như bài
“Phát triển nông nghiệp bền vững” được đề cập ở trên, hay trong bài “ Việt Nam
thực trạng và triển vọng của sản xuất lúa” (Việt Nam- Đông Nam Á ngày nay, sè
19/ 10/98). Ở bài này giáo sư nông học Bùi Huy Đáp đã đề cập tới sản lượng lương
thực mà Việt Nam đã đạt từ khi thực hiện nghị quyết 10 năm 1987, thực trạng sản
xuất lúa ở các vùng, hai miền nam bắc khi sử dụng các phương pháp mới trong
gieo trồng. Tác giả cũng đưa ra nhận xét ưu điểm của phương pháp mới này.
Một điều có thể dễ dàng nhận thấy người viết sử dụng thể loại này bao
gồm cả nhà báo chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Họ là những nhà
chuyên môn, giáo sư, viện sĩ hay những người đã và đang công tác trong các
ngành khác nhau v.v nhưng họ là những người có tâm huyết đối với nông
nghiệp.
Để các bài viết dạng này thêm phong phú, mỗi tờ báo chắc hẳn phải
rất quan tâm đến mạng lưới cộng tác viên viết báo, tập trung khai thác được
những kinh nghiệm quí báu của các nhà chuyên môn, các thành quả nghiên
cứu cần thiết được đem ra bàn luận hay ứng dụng vào trong cuộc sống. Đây
thường là những điểm mạnh,có tính chuyên môn cao nên bài viết rất có tính
thuyết phục. Thiếu các bài viết của các cộng tác viên có chuyên môn và kinh
nghiệm này thì các nhà báo sẽ rất khó khăn nếu muốn lấp đi lỗ hổng này.
Qua xem xét hơn 200 bài viết dưới dạng bài phản ánh, tờ báo sử dụng
dạng bài này nhiều nhất là tờ Thời báo kinh tế Việt nam chiếm 30-40%, tờ

thấy rằng các tờ báo đã tận dụng được thế mạnh cuả thể loại này và đã phát
huy được những ưu điểm của nó. Đó là thể loại được sử dụng nhiều trên báo,
được cả cây bót chuyên nghiệp lẫn không chuyên sử dụng nhiều. Nếu phát
huy được ưu điểm này thì các tờ báo sẽ có nhiều tiếng nói và ý kiến đóng góp
hơn và điều này rất có lợi cho tuyên truyền. Tuy các tờ sử dụng thể loại này
không đồng đều nhưng cũng có thể thấy rằng các bài viết ở thể loại này được
đăng tải phần lớn là những bài có giá trị. Tuy nhiên tác động của các tin bài
viết về vấn đề ANLT còn thấp chủ yếu ở cấp cao ( Nhà nước, các ban nghành)
mà chưa thực sự chú ý tới vai trò của người nông dân.
c. Xã luận.
Xã luận là bài báo trung tâm của một số báo trình bày thái độ chủ
trương của toà soạn về một vấn đề thời sự và và nó thường được đăng ở trang
nhất. Qua bài xã luận tập thể toà báo nêu ra những việc cần làm ngay cho số
báo của mình. Bài xã luân rất dễ nhận biết bằng những đặc điểm: được in
trong khung viền đen, hàng tít được chạy bằng chữ to, bên trên hàng tít là
một dòng kẻ mầu đỏ. Được in đè lên trên dòng kẻ mầu đỏ đó là hai chữ xã
luận. Bài xã luận được coi là một thể loại quan trọng trong việc định hướng tư
tưởng của xã hội theo đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Qua
khảo sát bốn tờ báo, chúng tôI thấy tờ Nhân Dân thực sự được coi là tờ báo
quan trọng luôn đi sâu đi sát phản ánh những vấn đề nổi bật quan trọng đăc
biệt là vấn đề lương thực của người dân. Duy nhất trên tờ này có thể loại xã
luận và tuỳ theo đặc điểm của từng thời kỳ mà tờ báo cho ra những bài quan
trọng mang tính chất định hướng cho thời kỳ tiếp theo. Ví dụ: bài xã luận “
Khẩn trương làm vụ đông kịp thời vụ” (Nhân dân, số 15788 ngày 23/9/98), bài
“ Đảm bảo an toàn lương thực quốc gia” (Nhân dân, số 15811 ngày 16/10/98)
hay bài “Huy động tốt nhất các nguồn lực vào đầu tư phát triển sản xuất”
(Nhân dân, số 15821 ngày 26/10/98).
Thể loại xã luận là một thể loại quan trọng, tuy xuất hiện không thường
xuyên trên mặt báo như những thể loại khác nhưng nó góp phần đặc biệt vào
việc định hướng người dân theo chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

đói nghèo ?” (Đào Công Tâm- chủ tịch hội nông dân tỉnh Bạc Liêu, Nhân Dân
số 15775 ngày 10/9/98).
-Ghi chép: “Người vùng cao tìm cách thoát nghèo” (Nguyễn Thị Thuý,
Nhân dân cuối tuần, số 28(493) ngày 12/7/98).
Bên cạnh việc phản ánh các vấn đề liên quan tới ANLT của khu vực và
Việt Nam bằng các thể loại: tin, bài phản ánh, xã luận v.v thì việc hình
thành một chuyên mục cụ thể trên một trang báo nhất định gây tâm lý ổn định
và tiện lợi cho người xem khi quan tâm đến một vấn đề nào đó là một điều rất
cần thiết. Và đó là mục tiêu mà mỗi tờ báo đều mong muốn đạt tới. Việc hình
thành một chuyên mục mang mét ý nghĩa vô cùng quan trọng và tiện lợi. Bởi
công chúng khi muốn tìm hiểu một vấn đề gì đó mà mình quan tâm thì chỉ cần
mở trang báo nhất định ra là có thể tìm thấy ngay vấn đề mình quan tâm. Tuy
nhiên, để có thể hình thành được một chuyên mục để phục vụ độc giả của
mình đối với cơ quan báo chí là một điều khá khó khăn, bởi điều này còn liên
quan tới nhiều yếu tố: đội ngò phóng viên, đội ngò cộng tác viên chuyên sâu,
số lượng bài vở .v.v
Việc tuyên truyền phản ánh tình hình ANLT của khu vực ASEAN và
một số vấn đề về ANLT của Việt Nam được các tờ: Nhân Dân- Nông nghiệp-
Việt Nam- Đông Nam Á ngày nay- Thời báo kinh tế Việt Nam phản ánh khá
đầy đủ. Bốn tờ báo đã bằng nội lực cố gắng đã tạo ra một sự ổn định cho sù
theo dõi của độc giả bằng cách đăng tải những thông tin về các vấn đề trên
trên một số trang báo và vào một chuyên mục cụ thể. Ở đây cần phải ghi nhận
sự cố gắng của cả bốn tờ báo.
Những bài viết về tình hình ANLT của ASEAN và một số vấn đề về
ANLT của Việt Nam đã được báo Việt Nam- Đông Nam Á ngày nay đăng tải
ở chuyên mục “Vấn đề và Sự kiện”, mục “Kinh tế- chiến lược và phát triển”
hoặc ở trong mục “Tin tức ASEAN”. Tuy nhiên, các chuyên mục trong tờ báo
này vẫn còn chưa được đăng tải ở những trang cố định ví dô: chuyên mục
“Vấn đề và sự kiện” lúc được đăng ở những trang 4-7 lúc lại được đăng ở các
trang 16-18.v.v Hay chuyên mục “chiến lược và phát triển” lúc được đăng ở

hót được sù chú ý quan tâm của công chúng tới vấn đề nàycác tờ báo cần phải có
những biện pháp tuyên truyền phù hợp với đặc trưng của tờ báo và đôí tượng
tiếp nhận của mình. Qua thống kê và xem xét bốn tờ báo có thể thấy rằng các tờ
báo đã có sự cố gắng rất tích cực trong việc phản ánh tình hình ANLT và các
vấn đề liên quan tới việc đảm bảo ANLT của khu vực ASEAN và của Việt Nam
Qua khảo sát trên bốn tờ báo Nhân Dân- Nông Nghiệp- Việt Nam-
Đông Nam Á ngày nay- Thời báo kinh tế Việt Nam chúng tôi có thể rót ra
một số kết luận sau:
1. Việc tuyên truyền phản ánh tình hình ANLT và các vấn đề liên quan
tới việc đảm bảo ANLT của khu vực và Việt Nam là một việc làm hết sức
quan trọng. Bởi qua đó những người dân có thể hiểu rõ được sự cần thiêt của
lương thực không chỉ đối với riêng bản thân mình, đất nước mình mà còn hiểu
rõ hơn tầm quan trọng của ANLT đối với toàn bộ khu vực ASEAN. Chính vì
vậy việc đưa nhiều thể loại làm phong phú hơn việc phản ánh và tuyên truyền
tình hình ANLT là một điều lên làm.
2. Mỗi thể loại có một ưu thế riêng và ý nghĩa riêng trong việc tuyên
truyền. Do đó, không nên xem nhẹ hay coi trọng quá một thể loại nào cả bởi
chúng có thể hỗ trợ nhau, làm cho thông tin được đưa tới độc giả dưới nhiều
thể loại và kiến thức trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn.
3. Về nội dung tin- bài các tờ báo đã có những cố gắng trong việc phản
ánh, các tin- bài đều có chất lượng cao nhưng khối lượng bài giữa tin trong
nước với tin về tình hình của khu vực còn chưa có sự cân đối. Mức tác động
của các bài viết về tình hình ANLT và nông nghiệp còn hạn chế chỉ dừng lại ở
cấp cao mà chưa thực sự chú ý tới người nông dân.
3. Nhận xét chung về hình thức chuyền tải của bốn tờ báo Nhân
dân- Nông nghiệp - Việt Nam- Đông Nam Á ngày nay- Thời báo kinh tế
Việt Nam về nội dung phản ánh tình hình các vấn đề liên quan đến ANLT
của ASEAN và Việt Nam.
Trong vòng ba năm qua, các tờ báo trên đã có rất nhiều bài viết, tin tức
về các vấn đề liên quan đến tình hình ANLT của khu vực và Việt Nam và tỉ lệ

điều chỉnh thích hợp việc dự trữ, lưu thông nhằm đảm bảo ANLT trong nước
và phục vụ xuất khẩu.
Ngoài nội dung phản ánh đa dạng, tờ Thời báo kinh tế Việt Nam và tờ
Việt Nam - Đông Nam Á ngày nay có những hình thức phong phó trong phản
ánh tin tức. Hai tờ báo đã sử dụng các loại bảng biểu đồ thống kê số liệu được
vẽ bằng mầu hoặc đen trắng rất gây Ên tượng đối với người đọc, bên cạnh đó
hai tờ báo còn đưa phần tóm tắt lên đầu bài viết. Chính hai điều này đã đem
lại sự thành công cho hai tờ báo, bởi chỉ cần xem phần tóm tắt và phần bảng
biểu đồ người đọc có thể hiểu rõ được nội dung của vấn đề mà mình quan tâm
rồi từ đó có thể đưa ra những nhận xét đánh giá so sánh cho riêng mình.
Qua nghiên cứu và xem xét cả về hình thức và nội dung của bốn tờ báo:
Nhân dân, Nông nghiệp, Việt Nam - Đông Nam Á ngày nay, Thời báo kinh tế
Việt Nam viết về những vấn đề liên quan tới ANLT của ASEAN và Việt
Nam, chúng tôi thấy rằng: các tờ báo đã có sự cố gắng trong việc phản ánh
vấn đề quan trọng này, mặc dù mỗi tờ báo đều có những độc giả và thể loại
thông tin được coi là thế mạnh của mình. Nếu tính tổng thể số lượng tin bài
viết về tình hình ANLT và những vấn đề về nông nghiệp trên 4 tờ báo chúng
tôi thấy rằng tỉ lệ là khá ngang bằng, phần tin hơi nhỉnh hơn một chút, tỉ lệ
giữa tin viết về tình hình trong nước và tin viết về tình hình khu vực còn chưa
cân đối, các bài viết về tình hình ANLT và những vấn đề có liên quan đến
nụng nghip ca khu vc cũn ít ch chim khong 20%. Nhng tu trung li
thỡ cỏc th loi c ng ti trờn cỏc t cú kh nng h tr nhau tt lm cho
thụng tin c chuyờn ch nhiu hn di nhiu kin thc phong phỳ n vi
c gi. Bờn cnh ú gúp phn quan trng vo h thng phn ỏnh nhng vn
liờn quan n ANLT ca bỏo chớ.
chở nhiều hơn dới nhiều kiến thức phong phú đến với độc giả. Bên cạnh đó
góp phần quan trọng vào hệ thống phản ánh những vấn đề liên quan đến
ANLT của báo chí.
Túm li: Bỏo chớ l phng tin truyn thụng cú hiu qu trong cụng
tỏc giỏo dc tuyờn truyn cỏc vn quan trng trong i sng xó hi. Vn

viên đều là các nước nông nghiệp, có khả năng sản xuất lương thực cung cấp
cho nước mình.
Xác định được tầm quan trọng của ANLT đối với con người, các nước
thành viên của hiệp hội tuỳ thuộc vào hoàn cảnh riêng của mình có thể có
những cách lùa chọn khác nhau. Trong khi Việt Nam, Thái Lan, Philippin,
Indonesia, Myanmar.v.v cố gắng giải quyết các vấn đề lương thực của mình
thông qua việc đẩy mạnh phát triển nền nông nghiệp của nước mình ( trong
nhóm này có ba nước thành công trong việc đảm bảo ANLT cho bản thân
mình đồng thời cũng trở thànhnhững nước xuất khẩu gạo lớn trong khu vực
và trên thế giới) thì những nước còn lại lại tìm cách đáp ứng nhu cầu lương
thực trong nước bằng cách vừa khuyến khích phát triển nông nghiệp trong
nước vừa nhập khẩu lương thực từ bên ngoài.
Tuy nhiên, dù sự lùa chọn nào đi nữa thì các nước thành viên không thể
không nghĩ tới việc phát triển hay Ýt nhất là tăng cường đến mức có thể, tiềm
năng nông nghiệp của nước mình. Vào năm 1996 nông nghiệp đóng góp
16,3% GDP của Indonesia, 53% của Lào, 12,67% của Malaysia, 60,3%của
Myanmar, 21,5% của Philippin, 16,4% của Thái Lan và khoảng 27,2% của
Việt Nam. Chỉ có Singapore và Brunây do điều kiện riêng mà phần đóng góp
của nông nghiệp trong GDP không đáng kể, chỉ khoảng 1%.
Nền nông nghiệp của khu vực thu hót khá nhiều nhân lực: 35.233.000
người trong tổng số 80.110.000 người lao động có việc làm ở Indonesia,
1.378.000/ 8.182.000 đối với Malaysia; 11.3880.000/17.960.000 đối với
Myanmar; 12.476.000/30.099.000 đối với Thái Lan
(1)
.
Những con số trên cho ta thấy nông nghiệp vẫn chiếm một phần quan
trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của các nước thành viên trong khu vực.
Trong vòng ba năm trở lại đây 1996- 1998 tình hình ANLT của khu vực
đã được quan tâm chú ý tới khá nhiều. Nhiều cuộc họp, hội nghị bàn về nông
nghiệp và tầm quan trọng của ANLT của khu vực đã được tổ chức, thu hót sự

2. Vài nét về tình hình ANLT của các nước Indonesia, Malaysia,
Philipin và Thái Lan qua sự phản ánh của báo chí.
Indonesia một quốc gia hải đảo là thành viên của tổ chức ASEAN có
dân số đông nhất trong khu vực 198.34 triệu người (1996). Với số dân lớn
nhất trong khu vực Indonesia đã sớm ý thức được tầm quan trọng của ANLT
đối với đất nước mình và luôn coi trọng phát triển nông nghiệp.
Sau khi giành độc lập vào năm 1945, trong một thời gian khá dài do nền
kinh tế phát triển chậm chạp nên hàng năm Indonesia phải nhập khẩu thêm 1-2
triệu tấn lương thực. Từ những năm 70, Indonesia đã tập trung cao độ vào phát
triển nông nghiệpbằng các chính sách khuyến khích nông dân sản xuất, đầu tư
những khoản ngân sách lớn để phát triển giống, cung cấp phân bón, hoá chất
phòng trừ sâu bệnh cho nông dân nên đến năm 1984,về cơ bản Indonesia đã tự
túc được lương thực. Từ cuối những năm 60 tới đầu những năm 90 đất nước này
đã thành công trong việc nâng tổng số calori/đầu người/ngày từ 2.000 lên tới
2.700.
Tuy nhiên, trong vòng ba năm trở lại đây tình hình ANLT của
Indonesia trở nên trầm trọng do tình hình không thuận lợi của thời tiết và
khủng hoảng kinh tế tài chính của khu vực. Theo số liệu thống kê của tổ chức
FAO, năm 97, Indonesia đẵ phải nhập khẩu 3 triệu tấn gạo, xấp xỉ 1/4 tổng
khối lượng buôn bán gạo trên thế giới, “dự kiến năm 98 này Indonesia phải
nhập khẩu 3.5 triệu tấn gạo,1.3 triệu tấn đường, 1.12 triệu tấn đậu tương và
nửa triệu tấn ngô”. Cuộc khủng hoảng đã làm “hàng chục triệu người bị mất
việc làm, nạn đói nghèo gia tăng nhanh chóng. Hiện nay, Indonesia có khoảng
1.5 triệu hộ đói và suy dinh dưỡng, tháng 7/98 hơn 4.6 triệu người phải cứu
trợ khẩn cấp”
(2)
. Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính kéo theo việc mất ổn
định ANLT của đất nước, việc không đảm bảo ANLT cho người dân đã kéo
theo sự mất ổn định về mặt chính trị xã hội, nhiều cuộc biểu tình cướp phá cửa
hàng, xe chở gạo thậm chí còn cướp phá cả kho dự trữ lương thực diễn ra ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status