Nghiên cứu sản xuất chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ ứng dụng làm phân bón hữu cơ - Pdf 24


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HOÀI PHƯƠNG

NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT CHẾ PHẨM
VI SINH XỬ LÝ RƠM RẠ ỨNG DỤNG LÀM
PHÂN BÓN HỮU CƠ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : Công nghệ sinh học
Mã số: 60 42 80 Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Nguyễn Thế Trang
2. TS. Nguyễn Văn Giang

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… ii

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và
chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn
và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Thị Hoài Phương



Danh mục các hình vẽ, đồ thị viii

I. MỞ ĐẦU 1

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1. Tình hình ô nhiễm rác thải hữu cơ trên thế giới và ở Việt Nam
3

2.1.1. Tình hình ô nhiễm và xử lý rác thải hữu cơ trên thế giới 3

2.1.2. Tình hình nghiên cứu xử lý rác thải hữu cơ ở Việt Nam 5

2.2. Thành phần rác thải hữu cơ và vi sinh vật phân hủy
17

2.2.1. Các hydratcacbon trong rác thải 17

2.2.2. Protein trong rác thải 23

2.2.3. Lipit trong rác thải 23

2.3. Ứng dụng vi sinh vật xử lý phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón
23

2.3.1. Các loại vi sinh vật được chọn để tạo chế phẩm 23

2.3.2. Tiêu chí chọn vi sinh vật phù hợp tạo chế phẩm 25



Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… iv

3.2.3. Ứng dụng chế phẩm trong xử lý rác thải hữu cơ 44

3.2.4. Đánh giá hiệu quả của phân hữu cơ từ rơm rạ đối với cây lúa và cây
cà chua
47

3.2.5. Phương pháp xử lý số liệu 48

IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 49

4.1. Đặc điểm sinh học của các chủng vi sinh vật nghiên cứu
49

4.1.1. Đặc điểm sinh học của các chủng vi khuẩn nghiên cứu 49

4.1.2. Đặc điểm sinh học của các chủng xạ khuẩn nghiên cứu 54

4.1.3. Khả năng đối kháng giữa các chủng nghiên cứu 56

4.2. Tạo chế phẩm vi sinh vật xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ
56

4.2.1. Lên men tạo chế phẩm xử lý rác thải hữu cơ 56


V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV Bảo vệ thực vật
cs Cộng sự
CT Công thức
ĐC Đối chứng
ĐN Đẻ nhánh
HCRR Hữu cơ rơm rạ
KTC Kết thúc chín
KTĐN Kết thúc đẻ nhánh

Thành phần hóa học của rơm rạ 6

2.2
Các nguồn biomass chính ở Việt Nam năm 2000 7

2.3
Ước lượng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng ở các tỉnh vùng ĐBSH năm
2010
11

4.1
Đặc điểm sinh học của các chủng vi khuẩn 50

4.2
Khả năng sử dụng cơ chất theo Kit API 50 CHB của chủng TD02 và
TD04 so sánh với loài trong bảng Index của Kit
52

4.3
Đặc điểm sinh học của các chủng xạ khuẩn 55

4.4
Biến động vi khuẩn và xạ khuẩn trong chế phẩm 57

4.5
Bảng biến động nhiệt độ của đống ủ 59

4.6
Độ giảm chiều cao của đống ủ so với ban đầu 60


Hiệu quả kinh tế của phân hữu cơ từ rơm rạ bón cho cà chua 75
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình Tên hình Trang
2.1
Đốt rơm rạ cạnh đường giao thông 13

2.2
Hình ảnh hợp chất cao phân tử xenluloza 18

2.3
Sơ đồ thuỷ phân xenluloza bởi phức hệ xenlulaza G- glucoza 19

2.4
Các đơn vị cơ bản của lignin 21

2.5
Cấu tạo pectin 22

4.1
Hình dạng khuẩn lạc và tế bào vi khuẩn để sản xuất chế phẩm 49

4.2

lấy đi của đất nguồn dinh dưỡng rất lớn. Một phần dinh dưỡng đó nằm trong
sản phẩm thu hoạch phục vụ con người, phần không nhỏ còn lại nằm trong
phế thải nông nghiệp. Hiện nay các phế thải nông nghiệp mà chủ yếu là rơm
rạ thường được người nông dân đốt ngay tại đồng ruộng, gây ô nhiễm môi
trường ảnh hưởng đến người, gia súc, gia cầm và các cây trồng khác, làm mất
đi vĩnh viễn nhiều nguyên tố quan trọng mà cây trồng đã lấy đi từ đất, đặc biệt
là cacbon. Tình trạng này tiếp diễn cùng với sự lạm dụng phân hoá học sẽ làm
cho đất ngày càng cằn cỗi và chai cứng.
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Theo thống kê
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2011, diện tích gieo trồng
lúa cả năm ước đạt hơn 7.651,4 nghìn ha, đạt sản lượng 42,3 triệu tấn [4].
Tương ứng với diện tích gieo trồng đó, lượng rơm rạ sản xuất ra hàng năm ít
nhất là 45,6 triệu tấn. Với lượng rơm rạ lớn cần thiết phải có hướng xử lý
thích hợp để vừa tránh gây ô nhiễm môi trường, vừa đem lại lợi ích kinh tế.
Trong nhiều biện pháp xử lý đã được áp dụng thì xử lý rơm rạ làm phân bón
hữu cơ là một biện pháp có nhiều ưu điểm hơn cả.
Việc xử lý rơm rạ sau thu hoạch làm phân bón ngoài tác dụng giảm
thiểu ô nhiễm môi trường do khói bụi đốt rơm còn tạo ra được lượng lớn phân
bón hữu cơ chất lượng tốt để bón cho các loại cây trồng, góp phần hạn chế
việc lạm dụng phân hoá học và thuốc hoá học trên đồng ruộng mà vẫn đảm
bảo được năng suất, nâng cao chất lượng nông sản đồng thời dần lấy lại độ
phì nhiêu cho đất, làm tăng hàm lượng các chất khoáng, tăng độ tơi xốp của
đất, tăng hàm lượng vi sinh vật hữu hiệu trong đất, giảm thiểu các loại vi
khuẩn có hại, các loại mầm mống sâu và bệnh hại. Đây là một giải pháp quan
trọng trong việc tạo nên một nền nông nghiệp sạch và bền vững.
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 2


3

- Tạo được nguồn phân bón hữu cơ tốt cho cây trồng, giải quyết một
phần sự thiếu hụt về phân hữu cơ trong trồng trọt.

Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 4

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. TÌNH HÌNH Ô NHIỄM RÁC THẢI HỮU CƠ TRÊN THẾ GIỚI VÀ
Ở VIỆT NAM
2.1.1. Tình hình ô nhiễm và xử lý rác thải hữu cơ trên thế giới
Ô nhiễm rác thải hữu cơ đang là vấn đề lớn đối với tất cả các nước trên
thế giới. Lượng rác thải hữu cơ phụ thuộc vào mức thu nhập bình quân của
mỗi nước. Ở Mỹ lượng rác thải sinh hoạt mỗi năm khoảng 254 triệu tấn (năm
2007), trong đó chỉ một phần ba lượng rác thải này được tái chế hoặc sử dụng
làm phân bón. Theo thống kê, Hồng Kông nằm trong danh sách các nước có
lượng rác nhiều nhất, trung bình 918kg/người/năm (năm 2010), tương đương
với khoảng 17.000 tấn rác thải mỗi ngày…Với số lượng rác thải lớn như vậy,
việc xử lý rác thải hữu cơ đã trở thành ngành công nghiệp thu hút nhiều công
ty lớn. Ở Mỹ có Công ty Waste Management Inc, ở Anh có Công ty Att wood
PLC, Biffa (BEET PLC), ở Pháp có Công ty Cielyonnaise des Eaxux… Hàng
năm các công ty này có tổng thu nhập lên tới hàng trăm triệu đô la Mỹ.
Tuy nhiên không phải các nước trên đã giải quyết được triệt để vấn đề
xử lý rác thải hữu cơ, mà việc tập trung các bãi rác chưa được xử lý còn rất
nhiều. Ở Trung Quốc lượng rác được ví như cơn lũ, hàng trăm xe rác chờ xếp
hàng để đợi trút rác xuống khu đất rộng chừng 20 sân bóng. Một số chuyên
gia cảnh báo, Trung Quốc có thể lâm vào cuộc khủng hoảng sức khỏe trong

2
O do đốt
cháy tàn dư cây trồng sản sinh ra 40 g N
2
O /tấn rơm rạ. Nếu như giả định cả
đồng bằng sông Hằng với 12 triệu ha được đốt cháy thì 2.000 tấn khí N
2
O đã
phóng thích vào bầu khí quyển [22].
Ở Mỹ: Đã ban hành luật cấm đốt rơm rạ trên ruộng lúa. Việc quản lý
rơm rạ được khuyến cáo cho nhiều mục đích sử dụng thay thế có ý nghĩa kinh
tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
Các giải pháp thay thế cho việc không đốt rơm rạ trên đồng ruộng ở
Mỹ: vùi rơm rạ vào đất, làm thức ăn gia súc, sản xuất ethanol từ rơm rạ, sản
xuất giấy từ rơm rạ, chuyển xuống hầm khí biogas.
Từ 1956, Gotaas đã nghiên cứu quá trình ủ nguyên liệu hữu cơ và đưa
ra kết luận: nguyên liệu đầu vào dùng làm phân ủ cần phải có pH từ 5 ÷ 7;
trong quá trình ủ giai đoạn đầu, pH đạt khoảng 6, sau 2 ÷ 4 ngày, pH giảm
xuống chỉ còn 4,5 ÷ 5 do các axit hữu cơ được sinh ra với lượng lớn; nhưng
khi nhiệt độ đống ủ tăng cao thì pH tăng lên theo xu hướng hơi kiềm (7,5 ÷
8,5). Tác giả cũng cho rằng không nên bổ sung thêm tro, cacbonat hoặc vôi
vào đống ủ vì sẽ gây mất đạm dưới dạng NH
3
trong điều kiện pH cao. Trong
quá trình ủ hiếu khí có mặt của vi sinh vật sẽ xảy ra 3 trường hợp sau:
- Khi lượng cacbon trong rác có ít thì một lượng lớn khí N
x
O
y
và NH

Aspergillus niger có hoạt tính xenlulaza khoảng 450.000 đơn vị/g.
- Chế phẩm “Biosin” ở Mỹ được sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy
bề mặt A. oryzae chứa 26 enzym khác nhau trong đó có xenlulaza, amylaza,
proteaza, pectinaza.
- Chế phẩm “Cellolignorin” sản xuất được nuôi cấy từ Trichoderma
lignorum đã sấy khô đến độ ẩm 13 %, chứa 1 ÷ 50 đơn vị xenlulaza/g. Ngoài
ra còn có các hemixenlulaza, pectinaza.
2.1.2. Tình hình nghiên cứu xử lý rác thải hữu cơ ở Việt Nam
2.1.2.1. Khái quát chung về rơm rạ
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 7

Rơm rạ là thành phần dư thừa của cây lúa sau khi thu hoạch, gồm có
thân, bẹ và lá. Tùy vào từng giống lúa, rơm rạ có thể chiếm từ 50 ÷ 70 % tổng
sản lượng sinh khối sản xuất của cây lúa. Các giống lúa cổ truyền có thể tạo
ra đến 70 % sinh khối là rơm rạ và chỉ có 30 % là hạt lúa, còn các giống lúa
cải tiến cho rơm rạ khoảng 50 ÷ 60 % tổng sản lượng chất khô.
Bảng 2.1. Thành phần hóa học của rơm rạ [18]
STT Thành phần Tỉ lệ (%)
1 Độ ẩm 7,08
2 Xenluloza 42,41
3 Hemixenluloza 12,65
4 Lignin 18,62
5 Các hợp chất trích ly 6,48
6 Tro 12,76
Tổng: 100
Thành phần hóa học (tính theo % khối lượng) của rơm rạ gồm chủ yếu
là xenluloza (60 %), lignin (14 %), chất béo (1,9 %) và protein (3,4 %). Thành

dụng rơm rạ làm thức ăn cho trâu bò, thay vào đó là nguồn thức ăn tinh. Cùng
với quá trình cơ giới hóa trong nông nghiệp, máy cày thay thế cho sức cày
bừa của trâu bò khiến số lượng trâu bò ở nông thôn giảm. Những nguyên
nhân đó dẫn tới sự dư thừa rơm rạ sau thu hoạch. Thường ở những khu vực
này, lượng rơm rạ dư thừa được đốt ngay tại đồng ruộng gây nhiều nguy hại.
Rơm rạ từ sản xuất lúa gạo đã trở thành nguồn sinh khối lớn nhất (Bảng 2.2).
Bảng 2.2. Các nguồn biomass chính ở Việt Nam năm 2000 [1]
STT Biomass Lượng (triệu tấn) Tỉ lệ (%)
1 Gỗ thải từ nhà máy cưa 3,1 2,6
2 Gỗ đốt 12,4 13,4
3 Rác thải rắn 0,015 0
4 Rơm 61,9 62,6
5 Trấu 5,6 4.6
6 Vỏ bắp 4,8 1,3
7 Bã khoai mì 0,6 0,5
8 Phế phẩm cây mía 1,5 1,4
9 Bã mía 5,0 2,6
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 9

10 Vỏ đậu 0,1 0,1
11 Xơ và lá dừa 5,8 7,5
12 Vỏ hạt cafe 0,3 0,3
Tổng 101,1 100
Sử dụng rơm rạ để đun nấu: Theo truyền thống tại nhiều vùng nông
thôn ở Việt Nam, Trung Quốc, Banglades, Nepal, v.v., rơm rạ vẫn được dùng
làm chất đốt, để đun nấu. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, việc sử dụng
rơm rạ để đun nấu tại các hộ gia đình ngày giảm đi nhiều do việc phát triển

dinh dưỡng cho đồng ruộng. Việc vùi rơm rạ vào đất ướt, sẽ gây ra tình trạng
cố định tạm thời của đạm (N) và làm tăng lượng metan (CH
4
) phóng thích
trong đất, gây ra tình trạng tích luỹ khí nhà kính. Khi vùi một lượng lớn rơm
rạ tươi sẽ rất tốn lao động và cần có những máy móc thích hợp cho việc làm
đất cũng như có thể gây ra những vấn đề về bệnh cây. Việc trồng trọt chỉ nên
bắt đầu sau 2 ÷ 3 tuần vùi rơm rạ. Các kết quả nghiên cứu hiện tại cho thấy,
cày khô, nông 5 ÷ 10 cm để vùi rơm rạ và tăng cường sự thoáng khí cho đất
trong thời kỳ bỏ hoá có tác dụng tốt đến độ phì đất trong hệ thống thâm canh
lúa-lúa. Việc cày khô, nông nên tiến hành sau 2 ÷ 3 tuần sau khi thu hoạch ở
những cánh đồng mà thời kỳ bỏ hoá khô-ướt giữa 2 vụ lúa tối thiểu là 30 ngày
[13]. Biện pháp vùi rơm rạ vào đất mang lại nhiều lợi ích như:
Số lượng cacbon quay vòng hoàn toàn sẽ đạt được nhiều hơn nhờ vào
sự phân giải hiếu khí, do đó hạn chế đến mức tối thiểu ảnh hưởng xấu của các
sản phẩm phân giải yếm khí trong giai đoạn sinh trưởng đầu của cây lúa.
Tăng cường sự thoáng khí cho đất.
Tăng cường được sự khoáng hoá nitơ và sự giải phóng phốtpho cho
cây trồng.
Làm giảm được sự phát sinh cỏ dại trong suốt thời kỳ bỏ hoá.
Làm cho quá trình làm đất được dễ dàng hơn (thường không cần cày
đất lần 2).
Sự phóng thích CH
4
sẽ ít hơn so với việc vùi rơm rạ lúc làm đất ngay
trước khi gieo trồng.
Tại các vùng khí hậu nóng ẩm, việc chôn vùi rơm rạ vào đồng ruộng
sau khi thu hoạch có thể làm tăng năng suất lúa vào vụ kế tiếp. Theo tính toán
của các nhà khoa học, cứ vùi 4 ÷ 5 tấn rơm vào ruộng lúa theo cách hợp lý có
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp…………………

phương pháp chuyển rơm rạ thành nhiên liệu nữa là áp dụng phân giải kị khí
nhờ vi sinh vật. Với biện pháp này, người ta chuyển rơm rạ xuống hầm khí
sinh học (biogas). Qua sự phân giải và tổng hợp của các vi sinh vật thì toàn bộ
chất hữu cơ trong rơm rạ sẽ biến thành khí đốt (chủ yếu là khí mêtan) dùng để
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 12

đun nấu, thắp sáng… Phần dịch trong bể là nguồn phân bón rất tốt và rất sạch,
còn có thể dùng để đưa vào các ao nuôi thủy sản để tăng năng suất vật nuôi.
Sản xuất protein: Các nguồn xenluloza thực vật (gỗ, rơm rạ, bã mía, lõi
ngô, ) được chú ý nhiều trong sản xuất protein đơn bào. Với biện pháp thủy
phân xenluloza bằng axit hoặc bằng enzym tạo dịch thủy phân để nuôi cấy vi
sinh vật thu sinh khối.
Sử dụng rơm rạ trong sản xuất nấm: Trồng nấm được coi là một trong
những biện pháp sinh học tận dụng nguồn rơm rạ có hiệu quả. Việc trồng nấm
từ rơm rạ đã được thế giới khuyến cáo như một trong những phương pháp
thay thế để giảm nhẹ các vấn đề ô nhiễm môi trường liên quan đến các
phương pháp xử lý hiện nay như đốt ngoài trời hay xử lý với đất. Trồng nấm
trên nền rơm rạ còn mang lại những biện pháp khuyến khích kinh tế đối với
nghề nông, coi nguồn phế thải như một nguồn nguyên liệu có giá trị và có thể
phát triển các cơ sở kinh doanh sử dụng chúng để sản xuất các loại nấm giàu
chất dinh dưỡng và giúp xử lý loại phế thải này theo cách thân thiện môi
trường. Do vậy tăng cường sử dụng nguồn rơm rạ để phát triển ngành trồng
nấm là hướng đi thích hợp để góp phần giảm thiểu tình trạng đốt rơm rạ ngoài
đồng ruộng.
Bảng 2.3. Ước lượng rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng ở các tỉnh vùng
đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) năm 2010 [8]
Đơn vị: ngàn tấn

80%
Hà Nội
1154,5

865,9 173,2 259,8 346,4 432,9 519,5 606,1 692,7
Vĩnh Phúc
323,2 242,4 48,5 72,7 97,0 121,2 145,4 169,7 193,9
Bắc Ninh
438,5 328,8 65,8 98,7 131,6 164,4 197,3 230,2 263,1
Quảng Ninh
205,9 154,4 30,9 46,3 61,8 77,2 92,7 108,1 123,5
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 13

Hải Dương
771,4 578,6 115,7 173,6 231,4 289,3 347,1 405,0 462,8
Hải Phòng
488,3 366,2 73,2 109,9 146,5 183,1 219,7 256,4 293,0
Hưng Yên
511,0 383,3 76,7 115,0 153,3 191,6 230,0 268,3 306,6
Thái Bình
1110,0

832,5 166,5 249,8 333,0 416,3 499,5 582,8 666,0
Hà Nam
420,3 315,2 63,0 94,6 126,1 157,6 189,1 220,7 252,2
Nam Định
889,1 666,8 133,4 200,0 266,7 333,4 400,1 466,8 533,5

rơm rạ đốt ngoài đồng ruộng có thể đạt tới 60 ÷ 90 %. Hơn nữa, nhiều hộ
nông dân còn gom rơm rạ vẫn còn tươi thành những đống lớn rồi đốt ngay tại
đồng ruộng. Rơm rạ đốt tạo thành những đám khói đặc quánh bao trùm cả
vùng rộng lớn, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân sống quanh khu vực
đó và là nguy cơ gây mất an toàn giao thông. Đốt rơm rạ được cho là nguyên
nhân gây ra tình trạng khói mù dày đặc bao quanh thành phố Hà Nội, Nam
Định… Khói rơm rạ cũng được cho là nguyên nhân gây ra rất nhiều bệnh tật
liên quan đến hô hấp do gây ra tình trạng ngột ngạt, khó chịu, đặc biệt là vào
những ngày nắng nóng oi bức [10].
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 14

Các loại khí thải chủ yếu từ đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng: Theo nhiều
nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới thì đốt rơm rạ bừa bãi ngoài
đồng ruộng sẽ tạo ra nhiều khí thải độc hại vào môi trường [39, 49]. Những
loại khí thải chủ yếu được tạo ra khi đốt rơm rạ ngoài đồng ruộng bao gồm
khí CO
2
, CO, CH
4
, các oxit nitơ (NO
x
, N
2
O), oxit sulfua (SO
x
), non-methan
hydrocarbon (NMHC), bụi hay vật chất dạng hạt (như TPM, PM

gây ra các bệnh liên quan đến đường hô hấp như khó thở, hen suyễn, viêm
phế quản [53]. Chính vì vậy hạn chế tình trạng đốt rơm rạ bừa bãi sẽ đóng
góp vai trò quan trọng trong việc giảm lượng khí thải độc hại, hạn chế tình
trạng ô nhiễm môi trường, tình trạng biến đối khí hậu cũng như giảm thiểu
những tác động tiêu cực đến sức khỏe người dân.
Hình 2.1. Đốt rơm rạ cạnh đường giao thông
Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp………………… 15

Đốt rơm rạ gây ra sự mất mát gần như hoàn toàn N. Lượng P mất đi
khoảng 25 %, K mất đi khoảng 20 % và S mất từ 5 ÷ 60 % [56]. Lượng dinh
dưỡng mất mát tuỳ thuộc vào cách thức đốt rơm rạ. Ơ những vùng mà thu
hoạch đã được cơ giới hoá, hầu như tất cả rơm rạ được để lại trên đồng và
được đốt nhanh chóng tại chỗ, vì thế sự mất mát S, P và K là nhỏ. Một số nơi
khác rơm rạ được để thành đống ở chỗ tuốt lúa và được đốt sau khi thu hoạch,
vì thế tro không được rải đều trên đồng, nên gây ra sự mất mát khoáng chất
rất lớn. Các nguyên tố K, Si, Ca, Mg dễ bị rửa trôi từ đống tro. Hơn nữa, việc
làm như vậy sẽ gây nên sự chuyển dịch dinh dưỡng rất lớn từ ngoại vi vào
giữa ruộng, và đôi khi là từ những thửa ruộng xung quanh vào ruộng trung
tâm, làm cho hiệu quả sử dụng chúng bị giảm đi rất nhiều, vì nơi quá thừa,
nơi quá thiếu.
Sử dụng rơm rạ làm phân bón hữu cơ: Hiện nay, tại nhiều nước trên thế
giới đã tập trung nghiên cứu biện pháp sử dụng vi sinh vật bổ sung vào quá
trình ủ nhằm rút ngắn thời gian ủ rơm rạ làm phân bón hữu cơ [42, 44, 45, 52,
54]. Ở nước ta, người nông dân đã sử dụng các chế phẩm sinh học để ủ rơm rạ
làm phân hữu cơ. Ví dụ tại Bình Giang, huyện trọng điểm lúa của Hải Dương,
lượng rơm, rạ sau thu hoạch rất lớn. Người ta dùng men vi sinh bổ sung vào
quá trình ủ, tạo ra nguồn phân bón có chất lượng tốt, giảm được một nửa chi

Trích đoạn Đặc điểm sinh học của các chủng vi khuẩn nghiên cứu Đặc điểm sinh học của các chủng xạ khuẩn nghiên cứu Biến động vi khuẩn và xạ khuẩn trong chế phẩm theo thời gian Đống ủ ngoài đồng ruộng; b/ Đống ủ đã hoai mục Ứng dụng phân hữu cơ từ rơm rạ bón cho cây lúa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status