Tiểu luận CÁC VẪN ĐỀ VỀ GIẢI THỂ VÀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
  
TIỂU LUẬN
CÁC VẪN ĐỀ VỀ GIẢI THỂ VÀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
Học viên: Nguyễn Đại Dương
Lê Thị Phương Thảo
Hoàng Thị Quyên
Đặng Thị Hải Hà
Vũ Đình Hải
Lớp Cao học Quản trị Kinh doanh K6B
Khoa Đào tạo Sau Đại học, Trường Đại học Hải Phòng
Giáo viên hướng dẫn
TS. Nguyễn Thái Sơn
Tóm tắt
Nước ta đang trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới, tình hình kinh tế có
nhiều biến động, việc thích nghi với nó để đứng vững trên thương trường là rất khó khăn
đối với các doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) đặc biệt là DN Nhà nước (DNNN). Vì lẽ
những DN, HTX còn chưa quen với môi trường kinh doanh mới, bị cạnh tranh, nguồn vật
tư không ổn định, quản lý kinh doanh kém nên dẫn đến các DN, HTX lâm vào tình trạng
mất khả năng thanh toán nợ đến hạn dẫn đến phá sản. Việc điều chỉnh những quan hệ
này vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính riêng biệt mà không thể sử dụng các văn bản
giải thể để xử lý được, do đó sự ra đời của luật phá sản là một tất yếu khách quan trong
nền kinh tế thị trường. Việc giải thể hay phá sản DN, HTX theo luật hiện hành là những
vấn đề phức tạp đòi hỏi phải được xem xét trên cơ sở thực tiễn và quan điểm lý luận tiến
bộ.
Cũng giống như các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội, DN, HTX có “đời
sống” riêng của nó. DN, HTX ra đời, phát triển, thay đổi và cũng có thể sẽ mất đi ở một
thời điểm nhất định. DN, HTX có thể chấm dứt sự tồn tại dưới hai hình thức giải thể hoặc
phá sản. Việc chấm dứt sự tồn tại bằng hình thức nào được quyết định bởi khả năng thanh
toán nợ của chính DN, HTX. Nếu DN, HTX không có khả năng thanh toán nợ đến hạn thì

Việc giải thể DN phải qua các thủ tục cần thiết nhằm đảm bảo việc rút lui khỏi
thương trường một cách có trật tự và quyền lợi của các đối tác kinh doanh. Cho nên, DN
phải hoàn tất các nghĩa vụ tài chính để giải thể theo thủ tục hành chính của cơ quan hành
chính Nhà nước. Khi tiến hành giải thể DN phải thực hiện các nghĩa vụ về thuế, tài chính,
làm thủ tục xin giải thể tại cơ quan quản lí kinh doanh, tiến hành hủy con dấu, đóng mã số
thuế của công ty. Đăng bố cáo giải thể 03 số báo liên tiếp. Việc giải thể DN làm chấm dứt
tư cách pháp nhân của DN đó.
DN giải thể trong các trường hợp qui định tại khoản 1 Điều 157 Luật DN 2005, bị
thu hồi giấy chứng nhận đầu tư qui định tại Điều 68 Nghị định số 108/2006/NĐ-CP của
Chính phủ hoặc Tòa án tuyên bố giải thể. Phần giải thể DN cũng được quy định cụ thể ở
Điều 40 Nghị định 102/2010/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật DN
2005.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 157 Luật DN năm 2005, DN bị giải thể trong những
trường hợp sau:
- Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;
- Theo quyết định của chủ DN đối với DN tư nhân; của tất cả thành viên hợp danh đối với
công ty hợp danh; của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách
nhiệm hữu hạn; của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần;
- Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời
hạn sáu tháng liên tục;
- Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Hơn nữa, DN chỉ được giải thể sau khi đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác theo khoản 2 Điều 157 Luật DN năm 2005.
1.1.2 Khái niệm về phá sản DN
Phá sản là một hiện tượng tất yếu và bình thường của nền kinh tế thị trường. Trong
quá trình cạnh tranh vô tận và khốc liệt của hoạt động kinh doanh, rủi ro không trảđược
nợ có thểđến với bất cứ chủthể nào. Vấn đề đặt ra là chúng ta nhìn nhận phá sản theo
quan điểm nào để có cách thức tác động nhằm giải quyết phá sản sao cho có lợi nhất đối
với chủnợ, người mắc nợ và đối với toàn bộ nền kinh tế. Có hai quan điểm chính liên
quan đến vấn đề phá sản:

hành DN lâm vào tình trạng phá sản mà là để tái cơ cấu DN nhằm giúp DN thoát khỏi rủi
ro trong kinh doanh.
Khi tình trạng mất khả năng thanh toán được khắc phục thì sẽ mang lại lợi ích cho
tất cả các bên, đó là chủ nợ của DN sẽ nhận được đầy đủ các khoản nợ, người lao động
không bị thất nghiệp, DN mắc nợ tiếp tục được kinh doanh để tạo ra của cải cho bản thân
họ và cho xã hội.
Theo ngôn ngữ chung trong luật phá sản của nhiều nước hiện nay: phá sản là tình
trạng DN (pháp nhân hoặc tư nhân) không có khả năng nộp thuế và thanh toán các khoản nợ trong
thời hạn quy định. Hầu hết pháp luật các nước đều coi tình trạng không có khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn là căn cứ để xác định một DN có thể bị tuyên bố phá sản hay
không.
Điều 3 Luật phá sản năm 2004 không đưa ra khái niệm phá sản một cách trực tiếp
mà chỉ đưa ra khái niệm DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản: “DN, HTX không có khả
năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá
sản”. Như vậy có thể hiểu ở đây là khái niệm dùng để chỉ DN, HTX lâm vào tình trạng
phá sản với dấu hiệu đặc trưng nhất là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Tuy nhiên,
việc lâm vào tình trạng phá sản chưa hẳn là phá sản mà DN, HTX chỉ được coi là phá sản
khi đã tiến hành thủ tục tuyên bố phá sản.
Luật Phá sản DN ngày 15/06/2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/10/2004 có ghi
nhận thủ tục giải quyết việc phá sản DN là thủ tục thanh toán nợ đặc biệt. Tính đặc biệt
của thủ tục này được xác định bởi tính chất của quan hệ chủ nợ với DN lâm vào tình trạng
phá sản và biểu hiện ở chỗ:
- Việc thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở số tài sản còn lại của DN, các chủ
nợ được xếp thứ tự ưu tiên theo quy định của pháp luật trong việc phân chia giá trị tài sản
còn lại của DN.
- Việc đòi nợ và thanh toán các khoản nợ được tiến hành thông qua một cơ quan đại diện có
thẩm quyền. Điều đó có nghĩa là khi cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành thủ tục phá sản
thì mối quan hệ đòi nợ và thanh toán trực tiếp không được diễn ra, các chủ nợ không được
xé lẻ để đòi nợ hoặc thanh toán. Giữa chủ nợ và con nợ tồn tại một cơ quan đại diện (Toà
án kinh tế hoặc cơ quan Thi hành án), cơ quan này sẽ đại diện cho chủ nợ để đòi con nợ.

đăng kí kinh doanh hay đơn giản là do quyết định của chủ DN.
- Phá sản khi DN không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có
yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.
b. Thẩm quyền:
- Việc giải thể do DN tự quyết định; Cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập quyết
định; Người quyết định cho phép thành lập DN nhà nước quyết định.
- Việc phá sản thuộc thẩm quyền của Toà kinh tế - Toà án nhân dân Tỉnh, Toà án nhân dân
tối cao.
c. Thủ tục pháp lý:
- Thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp có tính tố tụng cao.
- Thủ tục giải thể là một thủ tục hành chính.
- Thời gian giải quyết phá sản dài hơn rất nhiều so với giải thể.
d. Cách thức thanh toán tài sản:
- Khi giải thể chủ DN hoặc DN, HTX trực tiếp thanh toán tài sản, giải quyết mối quan hệ nợ
nần với chủ nợ.
- Còn khi phá sản, việc thanh toán tài sản, phân chia giá trị tài sản còn lại của DN, HTX
được thực hiện thông qua một cơ quan trung gian là tổ chức thanh toán tài sản sau khi có
quyết định tuyên bố phá sản.
e. Hậu quả:
- DN giải thể sẽ chấm dứt sự tồn tại vĩnh viễn.
- DN bị phá sản có thể được mua lại (đổi chủ sở hữu) và vẫn có thể tiếp tục hoạt động.
f. Thái độ của Nhà nước:
- Chủ DN sau khi phá sản hầu như không có quyền gì liên quan đến tài sản của DN.
- DN giải thể sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản vẫn có thể chuyển sang một ngành
nghề kinh doanh khác nếu có thể.
- Giám đốc DN giải thể có thể đứng ra thành lập, điều hành công ty mới.
- Giám đốc, chủ tịch Hội đồng Quản trị, thành viên hội đồng quản trị của Công ty bị phá
sản bị hạn chế quyền tự do kinh doanh thể hiện ở chỗ bị cấm giữ chức vụ đó từ 1 đến 3
năm ở bất kỳ DN nào.
1.1.4 Phân loại phá sản DN

và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể, trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản DN, HTX.
Ở Việt Nam, kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận
động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, xuất hiện nhiều loại hình DN
khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế như DN nhà nước, HTX, DN tư nhân, các công ty
cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các DN có vốn đầu tư nước ngoài Chúng cùng
tồn tại, hoạt động sản xuất kinh doanh bình đẳng trước pháp luật và cạnh tranh với nhau
trong khuôn khổ pháp luật.
Bên cạnh việc các DN hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, mang lại những
lợi ích kinh tế, tạo sự ổn định và phát triển cho nền kinh tế đất nước, thì cũng không tránh
khỏi việc các DN do quản lý làm ăn kém, cơ chế lỏng lẻo hoặc do những lý do khác nhau
mà làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất dẫn đến không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn
và lâm vào tình trạng phá sản. Điều này được pháp luật nước ta phản ánh thông qua các
văn bản quy phạm pháp luật (Văn bản luật và dưới luật).
Trước khi có Luật phá sản DN năm 2004, cùng với việc thừa nhận quan niệm DN
và HTX, quan niệm phá sản DN cũng được ghi nhận trong Luật phá sản năm ban hành
ngày 30/12/1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/1994. Tuy nhiên, văn bản này cũng
mới dừng lại ở sự ghi nhận phá sản là một hiện tượng tất yếu của kinh tế thị trường - nêu
ra định nghĩa chung thế nào là DN lâm vào tình trạng phá sản. Pháp luật cũng chưa có
những văn bản cụ thể điều chỉnh vấn đề này. Vì thế gặp nhiều khó khăn trong khi xử lý
những DN lâm vào tình trạng phá sản.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, DN mắc nợ và những người
có liên quan, xác định trách nhiệm của DN mắc nợ khi giải quyết việc phá sản DN, góp
phần thúc đẩy DN hoạt động kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội,
ngày 15/06/2004 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật
phá sản DN - đáp ứng đòi hỏi bức xúc của nền kinh tế thị trường. Luật gồm 9 chương 95
điều, trên cơ sở vừa áp dụng những nguyên tắc quốc tế về phá sản vừa kết hợp tính thời
đại và tính dân tộc nó thực sự là cơ sở pháp lý cần thiết cho các DN đang hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam, kể cả Nhà nước, các DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhắc nhở các DN
thận trọng và kinh doanh có hiệu quả hơn.
1.2.1 Phạm vi điều chỉnh Luật Phá sản DN

DN gửi quyết định giải thể đến Phòng Đăng ký Kinh doanh, chủ nợ, người lao động, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan + Niêm yết công khai + Đăng báo
DN tiến hành thanh lý tài sản + Thanh toán hết nợ (nợ thuế …)DN gửi Hồ sơ giải thể đến Phòng Đăng ký Kinh doanhPhòng Đăng ký Kinh doanh thực hiện xóa tên DN trong sổ đăng ký kinh doanh
CHƯƠNG II: TRÌNH TỰ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ GIẢI THỂ,
PHÁ SẢN DN
2.1 Trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố giải thể DN
Dù là giải thể tự nguyện hay bắt buộc thì DN cũng phải tuân theo thủ tục như luật
định. Theo pháp luật hiện hành thủ tục giải thể DN được quy định tại Điều 158 Luật DN
2005, khoản 2 Điều 40 Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010.
2.1.1 Thủ tục giải thể DN
Việc giải thể DN được thực hiện theo Điều 158 Luật DN 2005:
a. Thông qua quyết định giải thể DN. Quyết định giải thể DN phải có các nội dung chủ yếu
sau đây:
- Tên, địa chỉ trụ sở chính của DN;
- Lý do giải thể;
- Thời hạn, thủ tục thanh lý hợp đồng và thanh toán các khoản nợ của DN; thời hạn thanh
toán nợ, thanh lý hợp đồng không được vượt quá sáu tháng, kể từ ngày thông qua quyết
định giải thể;
- Phương án xử lý các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động;
- Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của DN.
b. Chủ DN tư nhân, Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty, Hội đồng quản trị trực
tiếp tổ chức thanh lý tài sản DN, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định thành lập tổ
chức thanh lý riêng.
c. Trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể phải được gửi
đến cơ quan đăng ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích
liên quan, người lao động trong DN và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính và
chi nhánh của DN.
Đối với trường hợp mà pháp luật yêu cầu phải đăng báo thì quyết định giải thể DN
phải được đăng ít nhất trên một tờ báo viết hoặc báo điện tử trong ba số liên tiếp.
Quyết định giải thể phải được gửi cho các chủ nợ kèm theo thông báo về phương
án giải quyết nợ. Thông báo phải có tên, địa chỉ của chủ nợ; số nợ, thời hạn, địa điểm và

- Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản;
- Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
- Huy động vốn dưới mọi hình thức khác.
2.2 Trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản DN
Theo Điều 5 Luật Phá sản năm 2004, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
DN được thực hiện theo trình tự sau:
- Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;
- Phục hồi hoạt động kinh doanh;
- Thanh lý tài sản, các khoản nợ;
- Tuyên bố DN, HTX bị phá sản.
DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản (Điều 3 Luật PS)

Trả lại đơn
(Điều 24 Luật PS)

Thụ lý đơn kể từ ngày nộp lệ phí phá sản
(Điều 22 Luật PS)

Tuyên bố DN, HTX bị phá sản trong trường hợp đặc biệt (Điều 87 Luật PS)

Hội nghị chủ nợ
(Điều 61 Luật PS)

Mở thủ tục thanh lý trong trường hợp đặc biệt (Điều 78 Luật PS)

Thông báo quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 29 Luật PS)

30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản (Điều 28 Luật PS)

Kiểm kê tài sản (Điều 50 Luật PS), Lập danh sách chủ nợ (Điều 51 và Điều 52 Luật PS). Lập danh sách người mắc nợ (Điều 53 Luật PS)

- Chủ nợ có bảo đảm: là chủ nợ có khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản của DN mắc nợ.
Đây là chủ nợ mà quyền đòi nợ của họ được đảm bảo bằng tài sản, đến hạn trả mà DN
mắc nợ không thanh toán thì chủ nợ này có quyền yêu cầu bán tài sản bảo đảm đó theo sự
thoả thuận trước để trang trải nợ. Loại chủ nợ này không có quyền đệ đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản DN. Nói chung các chủ nợ có bảo đảm là người chịu rủi ro ít hơn so với chủ nợ
khác trong mọi trường hợp. Việc Luật phá sản không quy định quyền nộp đơn của họ
không có nghĩa là họ không được tham gia việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Tuy
nhiên quyền tham gia của họ bị hạn chế bởi sự thoả thuận về việc xử lý giá trị tài sản đem
ra bảo đảm giữa họ và con nợ.
- Chủ nợ có bảo đảm một phần, mặc dù khoản nợ của họ được bảo đảm bằng tài sản của
DN mắc nợ nhưng quyền đòi nợ của họ vẫn bị hạn chế do giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn
giá trị khoản nợ. Họ là người chịu rủi ro nhiều hơn so với các chủ nợ có bảo đảm nếu DN
bị phá sản. Vì vậy quyền lợi của họ cần được pháp luật phá sản bảo vệ.
- Chủ nợ không có bảo đảm, họ là người chịu nhiều rủi ro hơn cả vì các khoản nợ không
được bảo đảm bằng tài sản của DN. Nếu như DN bị tuyên bố phá sản thì khoản nợ của họ
còn có thể bị mất trằng bởi DN không đủ tài sản để trang trải nợ không có bảo đảm.
Đối với người lao động làm công ăn lương trong DN.
Đây là loạt chủ nợ đặc biệt mà luật quy định cũng có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên
bố phá sản. Khác với các dạng chủ nợ khác, quan hệ chủ nợ- con nợ, giữa họ và DN mắc
nợ phát sinh không phải từ quan hệ mua bán thông thường mà trong quá trình các bên
tham gia quan hệ lao động. Khoản nợ của DN đối với họ chính là tiền lương hoặc tiền
công lao động.
Pháp luật lao động nước ta quy định: Công đoàn là người đại diện đứng ra bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Trong thủ tục tố tụng phá sản thì quyền và
lợi ích hợp pháp cho người lao động. Trong thủ tục tố tụng phá sản thì quyền nộp đơn của
người lao động được thực hiện thông qua đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao
động nơi chưa có tổ chức công đoàn, và như vậy việc tham gia quá trình giải quyết yêu
cầu tuyên bố phá sản của người lao động cũng được thực hiện thông qua những người đại
diện này.
Đối với bản thân DN mắc nợ:

- Tên, địa chỉ của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản;
- Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn mà không được DN,
HTX thanh toán;
- Quá trình đòi nợ;
- Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Tòa án phúc có thẩm quyền quy
định tại Điều 7 Luật Phá sản:
- Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án
nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với HTX đã đăng ký
kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện đó.
- Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án nhân
dân cấp tỉnh) có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với DN, HTX đã đăng ký kinh
doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh đó. Trong trường hợp cần thiết Toà án
nhân dân cấp tỉnh lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với HTX thuộc thẩm quyền của
Toà án nhân dân cấp huyện.
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài đó.
Ngoài ra, đối với từng loại chủ thể khác nhau, pháp luật phá sản còn quy định
trong hồ sơ kèm theo đơn là những văn bản giấy tờ cần thiết khác.
a. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động được quy định tại khoản 2 Điều 14
Luật Phá sản gồm những thông tin sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn;
- Tên, địa chỉ của người làm đơn;
- Tên, địa chỉ của DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản;
- Số tháng nợ tiền lương, tổng số tiền lương và các khoản nợ khác mà DN, HTX không trả
được cho người lao động;
- Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.
b. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của bản thân DN, HTX lầm vào tình trạng phá sản được
quy định tại khoản 4 Điều 15 Luật Phá sản bao gồm những nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm làm đơn;

ứng phí phá sản thì ngày thụ lý đơn là ngày Tòa án nhận được đơn. Tòa án cấp cho người
nộp đơn giấy báo đã thụ lý đơn.
Trường hợp người nộp đơn không phải là chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN,
HTX lâm vào tình trạng phá sản thì trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án
thông báo cho DN, HTX biết. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo
của Tòa án, DN, HTX phải xuất trình cho Tòa án các giấy tờ, tài liệu như trường hợp DN
xin tuyên bố phá sản. Nếu DN, HTX lâm vào tình trạng phá sản là người bảo lãnh cho
người khác thì trong thời gian 5 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, DN,
HTX phải thông báo việc mình bị yêu cầu mở thủ tục phá sản cho những người có liên
quan biết.
Nếu Tòa án thấy DN, HTX không đủ điều kiện để giải quyết phá sản thì Toàn án sẽ
ra Quyết định trả lại đơn yêu cầu thủ tục giải quyết phá sản. Trong trường hợp này, ngườ
làm đơn (yêu cầu giải quyết phá sản DN, HTX có quyền khiếu nại đến Chánh án Toàn án
đó trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định và Chánh án phải giải quyết
trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
2.2.4 Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án
phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.
Toàn án quyết định không mở thủ tục phá sản nếu xét thấy DN, HTX chưa lâm vào
tình trạng phá sản. Trong trường hợp này, người làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có
quyền khiếu nại như trường hợp Tòa án ra quyết định trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản.
Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có các căn cứ chứng minh DN, HTX
lâm vào tình trạng phá sản. Trong trường hợp cần thiết, trước khi ra quyết định mở thủ
tục phá sản, Tòa án có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản, chủ DN hoặc đại diện hợp pháp của DN, HTX bị yêu cầu mở thủ tục
phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh DN,
HTX lâm vào tình trạng phá sản.
Quyết định mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:
- Ngày, tháng, năm ra quyết định;

thanh lý;
- Thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định của Thẩm phán;
- Phát hiện và đề nghị Thẩm phán ra quyết định thu hồi lại tài sản, giá trị tài sản hay phần
chênh lệch giá trị tài sản của DN, HTX bị áp dụng thủ tục thanh lý đã bán hoặc chuyển
giao bất hợp pháp trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này;
- Thi hành quyết định của Thẩm phán về việc bán đấu giá tài sản của DN, HTX bị áp dụng
thủ tục thanh lý theo đúng quy định của pháp luật về bán đấu giá;
- Gửi các khoản tiền thu được từ những người mắc nợ và từ việc bán đấu giá tài sản của
DN, HTX vào tài khoản mở tại ngân hàng;
- Thi hành các quyết định khác của Thẩm phán trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.
Khi có quyết định mở thủ tục phá sản, mọi hoạt động kinh doanh của DN, HTX
vẫn tiến hành bình thường, nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán và Tổ
quản lý, thanh lý tài sản. Kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt
động của DN, HTX bị cấm theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Phá sản:
- Cất giấu, tẩu tán tài sản;
- Thanh toán nợ không có bảo đảm;
- Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ;
- Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của DN.
Sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, các hoạt động sau đây của DN,
HTX phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán trước khi thực hiện:
- Cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng, bán, tặng cho, cho thuê tài sản;
- Nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;
- Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực;
- Vay tiền;
- Bán, chuyển đổi cổ phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản;
- Thanh toán các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của DN, HTX và trả
lương cho người lao động trong DN, HTX.
2.2.5 Kiểm kê tài sản của DN, HTX, lập danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ
a. Kiểm kê tài sản của DN, HTX
Theo điều 50, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục

Danh sách chủ nợ phải được niêm yết công khai tại trụ sở của Tòa án và trụ sở của
chính DN, HTX trong thời hạn 10 ngày. Trong thời hạn này, các chủ nợ và DN, HTX lâm
vào tình trạng phá sản, có quyền khiếu nại với Tòa án về danh sách chủ nợ. Trường hợp
gặp sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì không tín vào thời hạn 10 ngày
quy định.
Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Tòa án phải xem xét, giải
quyết khiếu nại. Nếu thấy khiếu nại có căn cứ thì sửa đổi, bổ sung vào danh sách chủ nợ.
Đối với người mắc nợ DN, HTX, Tổ quản lý, thanh lý tài sản cũng phải lập danh
sách và niêm yết như trong trường hợp đối với các chủ nợ.
2.2.6 Tổ chức hội nghị chủ nợ
Theo điều 61, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hoàn tất việc kiểm kê tài sản và lập
danh sách chủ nợ, Thẩm phán phải triệu tập Hội nghị chủ nợ. Giấy triệu tập Hội nghị chủ
nợ cũng như chương trình, nội dung của Hội nghị và các tài liệu khác phải được gửi cho
người có quyền, những người có nghĩ vụ tham gia Hội nghị chủ nợ chậm nhất là 15 ngày
trước ngày khai mạc Hội nghị.
Các Hội nghị tiếp theo có thể được Thẩm phán triệu tập vào bất kỳ ngày làm việc
nào trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lý tài sản
hoặc của các chủ nợ đại diện cho ít nhất một phần ba tổng số nợ không có bảo đảm.
a. Thành phần tham dự
Những người có quyền tham gia:
- Các chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ hoặc người được ủy quyền.
- Đai diện cho người lao động, đại diện công đoàn.
- Người bảo lãnh sau khi đã trả nợ thay cho DN, HTX.
Người có nghĩa vụ tham gia:
- Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Trích đoạn Thủ tục phục hồi kinh doanh Thủ tục thanh lý tài sản Về tiêu chí doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản 1 Về việc thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Tăng cường kỷ luật tài chính kế toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status