Tiểu luận Lịch Sử Đảng
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ ĐẢNG
Đề tài : Quan điểm về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa của đảng ta qua các thời kì.
____________________________________________________________________________________
_
1
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
PH N IẦ
NH NG V N Đ CHUNG V CÔNG NGHI P HOÁ XÃ H I CH NGHĨAỮ Ấ Ề Ề Ệ Ộ Ủ
1. Khái ni m công nghi p hoá ệ ệ
► Cuối thế kỷ 18 cách mạng công nghiệp được tiến hành ở khu vực Tây Âu, công nghiệp hoá chính là
quá trình trang bị máy móc cho nền kinh tế quốc dân, thay thế lao động thủ công bằng lao động sử
dụng máy móc.
► Theo văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10, công nghiệp hóa là quá trình chuyển
đổi cơ bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, quản lý xã hội từ dựa vào lao
động thủ công là chính sang dựa vào lao động kết hợp cùng với phương tiện, phương pháp, công nghệ,
kỹ thuật, tiên tiến hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao.
► Công nghiệp hoá ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam từ dựa vào nông nghiệp
và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính dựa trên sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công
nghệ cao. Công nghiệp hoá chính là ngưỡng cửa mà bất kỳ quốc gia muốn phát triển đều phải trải qua.
Công nghiệp hoá nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng hay một
nền kinh tế. Đó chính là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng, …công nghiệp hoá là một phần của
quá trình hiện đại hoá, nó còn gắn liền với các hình thái triết học,hoặc sự thay đổi thái độ con người
trong nhận thức về tự nhiên,xã hội.
2. Th c ti n ự ễ
► Mỗi nước, mỗi quốc gia khác nhau với những đặc điểm riêng (điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài
nguyên thiên nhiên,…) của mình và có thời kỳ lịch sử phát triển đất nước khác nhau sẽ có cách thức
tiến hành công nghiệp hoá khác nhau. Do tính chất rất đa dạng của công nghiệp hoá, nó bao hàm cả về
các hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ quản lý kinh tế-xã hội,…nên có rất nhiều các phương
____________________________________________________________________________________
_
3
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
PH N IIẦ
QUAN ĐI M V CÔNG NGHI P HÓA C A Đ NG QUA CÁC KỲ Đ I H IỂ Ề Ệ Ủ Ả Ạ Ộ
Qua các kỳ đại hội quan điểm về công nghiệp hóa của đảng ta có những thay đổi theo tình hình đất nước và tình
hình chung của thế giới, đảng đã đặt ra một số vấn đề về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa như sau:
1. Đ i h i ạ ộ III ( t ngày 5-12/9/1960 – t i Hà N i)ừ ạ ộ
► Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền, thực hiện hai chiến lược
cách mạng khác nhau: Miền Bắc tiến hành khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam
tiếp tục đấu tranh để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
► Nội dung xuyên suốt đại hội III là xây dựng Chủ Nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng
miền Nam. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III diễn ra giữa lúc công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa,
phát triển kinh tế ở miền Bắc đang giành được những kết quả to lớn và Cách mạng ở miền Nam đã tiến
lên một bước nhảy vọt.
► Ở miền Bắc tiến hành khôi phục kinh tế, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
► Con đường công nghiệp hóa mà đại hội III đưa ra là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách
hợp lý đồng thời phát triển công nghiệp và công nghiệp nhẹ. Cho tới năm 1973 đảng ta đã nhận thức
lại điều này và thay chữ ‘’ đồng thời ‘’ bằng từ ‘’ trên cơ sở ‘’. Quan tâm và phát triển công nghiệp
nặng đúng mức, một số nhà máy, xí nghiệp được thành lập như nhà máy gang thép Thái Nguyên, nhà
máy cơ khí Trần Hưng Đạo là một trong những xí nghiệp được thành lập sớm nhất so với các đơn vị
của ngành Công nghiệp. Ngay những năm đầu thành lập,từ xưởng sản xuất này, đã có không biết bao
nhiêu các loại vỏ mìn, vỏ lựu đạn, máy khoan, máy tiện nhỏ, máy xay xát lúa gạo, máy in, dao phát
rừng… được làm ra và toả đi 4 phương phục vụ kháng chiến. Sau ngày thống nhất Bắc -Nam, Cơ khí
Trần Hưng Đạo phát triển mạnh mẽ với những dòng sản phẩm chủ lực phục vụ cho công nghiệp hoá
nông nghiệp, nông thôn. Những sản phẩm máy bơm nước, máy tuốt lúa, máy cày 2 lưỡi, hộp số thuỷ
D12… mang nhãn hiệu “Nhà máy Trần Hưng Đạo” đã chiếm lĩnh và có mặt trên đồng ruộng cả nước,
- Tập trung phát triển nông nghiệp.
- Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu .
- Đưa nông nghiệp bước lên thành ngành sản xuất lớn.
- Ra sức phát triển hàng tiêu dùng hay chính là phát triển ngành công nghiệp nhẹ.
- Phát triển một số ngành công nghiệp nặng để phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp.
- Chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa giai đoạn sau.
4. Đ i h i VI ( t ngày 15-18/12/1986 t i Hà N i)ạ ộ ừ ạ ộ
( Đại hội VI hay còn gọi là đại hội ‘’ đổi mới ‘’ do các quan điểm đổi mới, mục tiêu đổi mới,…)
► Tình hình khủng hoảng kinh tế-xã hội diễn ra theo chiều hướng ngày càng nghiêm trọng và có phần
rất gay gắt. Khủng hoảng biểu hiện rõ nét nhất ở sự mất cân đối giữa sản xuất – tiêu dùng ; sản xuất –
tích lũy; thu-chi; xuất- nhập; …khủng hoảng về kinh tế dẫn đến đời sống xã hội xuống dốc, đạo đức xã
hội, truyền thống đạo đức của dân tộc bị xói mòn. Các bậc ông cha ta đã có câu :’’ đói ăn vụng, túng
làm càn ‘’ quả là không sai.Lương thực thiếu, nạn đói xảy ra ở nhiều tỉnh, lạm phát cao, các tệ nạn xã
hội tăng nhanh chóng, trên lĩnh vực tư tưởng chính trị đã xuất hiện sự dao động về con đường xã hội
chủ nghĩa chính vì vậy mà một vấn đề cấp bách được đặt ra trong đại hội VI là phải đổi mới đất nước,
đổi mới chính là cuộc cách mạng ‘’ phá cũ, xây mới ’’,để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng
hoảng kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị,…
► Như vậy vấn đề được đặt ra là :’ đổi mới cái gì trước ? ‘.
Trước hết, quan trọng hơn hết là đổi mới về tư duy, đúng ! Đó là tư duy, cách nhìn nhận lại vấn đề,
thực chất Chủ nghĩa xã hội thì vẫn chính là nó, cái mà chúng ta muốn nói ở đây đó là ‘’ nhận thức lại ‘’
chủ nghĩa xã hội mà thôi. Sự vật, hiện tượng vẫn chỉ có một, điều cốt yếu là ta nhìn nhận nó từ góc độ
nào, nghĩ về nó như thế nào thì nó như thế đó,…
► Mục tiêu cụ thể về kinh tế và xã hội cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là :
____________________________________________________________________________________
_
5
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ.
- Bước đầu tạo một cơ cấu kinh tế hợp lý, chú trọng 3 chương trình kinh tế lớn đó là :
quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào thế kỷ XXI.
6. Đ i h i VIII ( t ngày 22/6 ạ ộ ừ 1/7/1996 t i Hà N i )ạ ộ
► Đại hội VIII đánh dấu bước ngoặt của đất nước ta sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, xây dựng đất nước Việt Nam độc lập dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng văn
minh định hướng xã hội chủ nghĩa.
► Về cơ bản nước ta đã bước ra khỏi tình trạng khủng hoảng, công nghiệp hoá bước sang chặng
đường mới. Các định hướng cơ bản phát triển các lĩnh vực chủ yếu:
- Tiếp tục phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Đổi mới cơ cấu quản lý kinh tế.
- Phát triển khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo. [ coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu
…bởi vì giáo dục và đào tạo góp phần rất lớn trong việc đào tạo các nguồn nhân lực cho quốc gia.
____________________________________________________________________________________
_
6
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
Một trong những nước rất chú trọng đến giáo dục đào tạo đó chính là Nhật Bản ( phần phụ lục ‘’
Giáo d c d y ngh Nh t B n:Chìa khóa đi vào hi n đ i hóa- H ng Lụ ạ ề ở ậ ả ệ ạ ồ ê Thọ)]
7. Đ i h i IX ( tháng 4/2001 t i Hà N i)ạ ộ ạ ộ
► Đất nước bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của khoa học công nghệ và kỹ thuật.Nội dung xuyên suốt đại
hội vẫn là : Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại
hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
► Chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành 1 nước công nghiệp, ưu tiên
phát triển lực lượng sản xuất đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài, chủ động hội nhập quốc tế để
phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững.
Phát triển kinh tế nhiều thành phần gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu thủ, kinh
tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,
► Đường lối đại hội IX :
- Đưa ra chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010;
Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng.
- Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới
từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể
trong từng bộ phận của hệ thống chính trị. Đổi mới tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng
không làm đồng loạt, dàn đều, mà phải có trọng tâm, trọng điểm, có những bước đi thích hợp; bảo
đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa ba nhiệm vụ : phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng
Đảng là then chốt và phát triển văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội.
- Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của
nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới. Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì
nhân dân và do nhân dân. Những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân có vai trò quan
trọng trong việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Dựa vào nhân dân, xuất phát từ thực tiễn
phong phú của nhân dân, thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát hiện nhân tố mới, từng bước tìm ra
quy luật các mặt của cuộc sống để đi lên - đó là chìa khoá của thành công.
- Phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức khai thác ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại trong điều kiện mới. Phát huy nội lực, xem đó là nhân tố quyết định đối với sự phát
triển; đồng thời coi trọng huy động các nguồn ngoại lực, thông qua hội nhập và hợp tác quốc tế,
tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát huy nội lực mạnh hơn, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp
để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Hội nhập và hợp tác quốc tế phải dựa trên các nguyên
tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau, bình đẳng, cùng có lợi; giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và
phát triển nền văn hoá dân tộc.
- Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị,
xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về
nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là khâu then chốt, là nhân tố quyết định thắng
lợi của sự nghiệp đổi mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; Nhà nước phải thể chế hoá và tổ
chức thực hiện có hiệu quả quyền công dân, quyền con người. Phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát huy sức mạnh của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.
dầu khí, lọc dầu và hoá dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng,
xây dựng các kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Tạo bước phát triển vượt bậc của các ngành dịch vụ, nhất
là những ngành có chất lượng cao, tiềm năng lớn và có sức cạnh tranh; đưa tốc độ tăng trưởng của các
ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP.
PH N IIIẦ
CÔNG NGHI P HOÁ & HI N Đ I HOÁ NÔNG NGHI P – NÔNG THÔN Ệ Ệ Ạ Ệ
1. Quan đi m và phể ươ ng h ư ng hành đ ng đ y m nh CNH-HĐH nông nghi p- nông thônớ ộ ẩ ạ ệ
► Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn,chuyển mạng sang
sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; phát triển mạnh chăn nuôi với tốc độ
& chất lượng cao hơn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá tập trung gắn với việc chuyển giao công
nghệ sản xuất; bảo quản; chế biến và khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát. Rà soát, bổ
sung, điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo 2 hướng :
+ phát huy lợi thế từng loại cây trồng, con gia súc, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ.
____________________________________________________________________________________
_
9
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
+ hình thành vùng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường và công nghiệp chế biến, bảo đảm hiệu quả
bền vững và an ninh lương thực quốc gia,…
► Phát triển và mở rộng thị trường, coi trọng phát triển thị trường trong nước, tổ chức tốt việc tiêu thụ
nông lâm sản, thuỷ sản cho nông dân.
► Đưa nhanh khoa học công nghệ vô sản xuất, nhất là việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công
nghệ, nâng cao chất lượng giống cây trồng, giống vật nuôi, kỹ thuật canh tác và môi trường, công nghệ
sau thu hoạch, ứng dụng mạnh công nghệ sinh học và xây dựng các khu công nghiệp cao; nâng cao khả
năng phòng ngừa khắc phục dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi…khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi để các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp bảo quản chế biến nông, lâm
thuỷ sản,…
► Tăng đầu tư ngân sách nhà nước, đa dạng hoá các nguồn vốn để tiếp tục đầu tư phát triển mạnh hơn
cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Ưu tiên nâng cấp xây dựng mới các hệ thống thuỷ lợi đồng bộ,
Nam đã chuyển từ an ninh lương thực, thiếu đói sang dư thừa lao động, chia cắt và tụt hậu với khu vực
công nghiệp và bộ toàn nền kinh tế. Đây là nguy cơ của một nền kinh tế có hai bộ mặt - “dualism”,
____________________________________________________________________________________
_
10
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
khác nhau về năng suất, thu nhập và trình độ phát triển. Vấn đề đặt ra là phải duy trì tăng trưởng nông
nghiệp, trong những giới hạn về vốn, đất đai, tài nguyên. Nếu công nghiệp tạo việc làm không rút lao
động ra khỏi nông thôn để tạo điều kiện cho nông nghiệp tăng năng suất lao động và thu nhập thì khu
vực nông nghiệp, nông thôn sẽ là gánh nặng và trở ngại cho tiến trình công nghiệp hoá.
► Vấn đề rút lao động ra khỏi sản xuất nông nghiệp là vấn đề cơ bản đối với công cuộc công nghiệp
hoá, chuyển đổi nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp. Kịch bản tương lai cho tăng trưởng
nông nghiệp và tiến trình công nghiệp hoá đất nước sẽ phụ thuộc vào việc triển khai một chiến lược
công nghiệp hoá như thế nào để vừa đẩy mạnh công nghiệp tăng trưởng, thúc đẩy năng suất và tăng
thu nhập, trong khi vẫn vực dậy và kết nối nông thôn vào tiến trình phát triển của cả nền kinh tế.
Hình I: Việt Nam và khu vực -
Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm chậm trong khi
tỷ trọng GDP nông nghiệp trong nền kinh tế giảm mạnh
-
Ghi chú: Xu hướng theo mốc thời gian 1981-1991-2002.
Nguồn: ADB các năm 1999 và 2004; Niên giám Thống kê các năm.
► So với những nền kinh tế ở trình độ công nghiệp cao như Đài Loan hay những nước có nền nông
nghiệp phát triển như Thái Lan thì mức độ rút lao động ra khỏi nông thôn của Việt Nam rất đáng lo
ngại. Ngay cả Trung Quốc, một nước đông dân có số lượng nông dân khổng lồ và chênh lệch thu nhập
nông thôn thành thị rất cao, cũng đang nỗ lực thu hút lao động vào công nghiệp. Triệu chứng tắc nghẽn
lao động ở Việt Nam thể hiện một tiến trình phát triển công nghiệp và đô thị không gắn kết với phát
triển nông thôn. Kinh tế nông thôn phải đảm nhiệm một nhiệm vụ khó khăn là tiếp tục tạo thêm việc
làm cho khối lượng lao động đang tăng nhanh hàng năm để duy trì sự ổn định xã hội và môi trường
cho đất nước trong một thời gian khá dài.
Ti n đ n chi n lế ế ế ư c công nghi p lan to .ợ ệ ả
Trong điều kiện của Việt Nam, nếu chỉ phát triển công nghiệp ở một vài đô thị lớn sẽ gây ra
những hậu quả nghiêm trọng về sự tụt hậu của nông thôn, và nếu cũng chỉ tập trung công
nghiệp hoá nông thôn cũng khó giải quyết được vấn đề của bản thân khu vực nông thôn mà
cần phải có một hướng đi mang tính toàn diện trên bình diện tổng thể nền kinh tế. Theo như
các nghiên cứu của Phương Tây đối với các vùng ngoại vi của Thái Lan, Trung Quốc hay
Philipin thì vùng ngoại vi cách trung tâm ước chừng 100 đến 200 km, tuỳ theo mức độ lan toả
của các hoạt động công nghiệp và tiến trình đô thị hoá. Đối với Việt Nam mức độ công nghiệp
____________________________________________________________________________________
_
12
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
hoá và đô thị hoá còn chưa cao thì vùng ngoại vi không thể có khoảng cách xa như các nước
khác. Trong một vài năm gần đây, những khu vực vành đai của hai trung tâm kinh tế của đất
nước là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã mọc lên những khu công nghiệp, giúp thúc đẩy kinh tế
của các địa phương theo hướng công nghiệp hoá và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh tiến
trình đô thị hoá. Như vậy, nếu xét theo tiến trình của các nước Đông Á đi trước thì ở Việt
Nam cũng đang diễn ra những dấu hiệu manh nha cho một xu hướng công nghiệp hoá, đô thị
hoá vùng biên. Có một số vấn đề được xem xét và định hướng dựa trên những bài học của các
nước Đông Á như sau:
► Đối với Việt Nam, nếu quá trình công nghiệp hoá ngoại vi không tiến triển mạnh sẽ chuyển
sang nguy cơ về một xu thế công nghiệp hoá co cụm, và những tình trạng ùn tắc. Ùn tắc về vốn
đầu tư không chạy vào sản xuất kinh doanh mà vào các hoạt động đầu cơ, địa ốc, đẩy giá nhà đất
đô thị lên cao, trong khi ngoại vi có những cơ hội đầu tư lại không được khai thông để thu hút vốn.
Ùn tắc về lao động nông thôn không thoát ra khỏi sản xuất nông nghiệp. Ùn tắc về đất đai, khi đa
số dân cư chen chúc vào sống và làm việc ở nội đô chật hẹp, dẫn đến quá tải về giao thông, dịch
vụ, cơ sở hạ tầng …
► Ở những khu vực ngoại vi của Việt Nam đã hội tụ đủ các yếu tố "kéo" và "đẩy" để hình thành
nên tiến trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhưng rất cần những "cú huých" của Nhà nước trong
_
13
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
► Một điểm quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá ngoại vi là việc thu hút vốn đầu tư chỉ là
phương tiện. Vấn đề chính nằm ở chỗ làm sao để "địa phương" có thể thụ hưởng tiến trình này để
tạo ra được thay đổi về cơ cấu kinh tế và lao động. Một số nơi của Thái Lan đã diễn ra tình trạng
nguy cơ "ốc đảo", đó là các khu công nghiệp không tạo được liên kết và thúc đẩy phát triển vùng,
không chuyển đổi cơ cấu kinh tế, những người kỹ sư và công nhân làm việc cho khu công nghiệp
là những người nơi khác đến làm chứ không phải dân địa phương. Trong tình trạng này, sẽ không
tạo nên chuyển biến cơ cấu kinh tế và quá trình công nghiệp hoá sẽ không dẫn đến đô thị hoá.
► Trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá ngoại vi, luồng vồn đầu tư thường tạo ra quá
trình chuyển đổi sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị hoá làm phá vỡ những "cấu
trúc" cũ của địa phương và phát sinh những thách thức mới về môi trường, và các vấn đề xã
hội Cho nên Chính quyền địa phương không chỉ quan tâm đến những khía cạnh kinh tế mà phải
chú ý cả các vấn đề xã hội và có định hướng đối phó với thách thức mới nảy sinh.
► Về chiến lược đầu tư, cần tránh chỉ chú trọng đầu tư xây dựng cơ bản mà không chú ý đến các
vấn đề con người, an sinh xã hội. Công tác đào tạo và dạy nghề, phát triển nguồn lao động có ý
nghĩa quyết định để địa phương có thể hưởng lợi thực sự từ quá trình công nghiệp hoá vùng biên,
giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế, và đô thị hoá địa bàn địa phương.
► Trong tiến trình công nghiệp hoá ngoại vi, tránh tình trạng cạnh tranh ngoại vi và "khoảng
trống" tại trung tâm đô thị do dịch chuyển công nghiệp ra ngoại vi. Các trung tâm đô thị cần phải
có những chiến lược phát triển chủ động, tạo ra những thay đổi nội tại, chuyển biến về chất để
phát triển lên tầng nấc cao hơnNhư vậy, thành phố cần lựa chọn ưu thế, các hướng phát triển mới,
xây dựng đội ngũ lao động tay nghề cao, các tầng lớp kinh doanh, dịch vụ phát triển và ứng dụng
khoa học công nghệ
K T LU NẾ Ậ
- Chính vì vai trò rất quan trọng của công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước trong việc phát triển nền
kinh tế quốc dân nên đảng và nhà nước rất chú trọng đến vấn đề này. Cụ thể qua các kỳ đại hội ta đều
nhận thấy được các định hướng và chủ trương của đảng ta đối với công nghiệp hoá và hiện đại hoá .
1. Giáo d c d y ngh Nh t B n – Chìa khóa đi vào hi n đ i hoá. Kinh ụ ạ ề ở ậ ả ệ ạ
nghi m đào t o k thu t c p giáo d c ph c p – H ng Lê Thệ ạ ỹ ậ ở ấ ụ ổ ậ ồ ọ
[Lê Hồng Thọ : TS.Sử Học – Đang làm việc và sinh sống tại Tokyo ]
(bài này đã được đăng trên các trang nghiên cứu và thảo luận uy tín tại Việt Nam và
nước ngoài như http:// www.vietsciences. org , tạp chí Thời Đại Mới)
thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN
Số 13 - Tháng 3/2008Giáo dục dạy nghề ở Nhật Bản:
Chìa khóa đi vào hiện đại hóa
Kinh nghiệm đào tạo kỹ thuật
ở cấp giáo dục phổ cập
Hồng Lê Thọ
A. Bắt đầu từ Minh Trị Duy Tân…
Từ khi chiến hạm của Mỹ do đô đốc Commodore Perry dẫn đầu kéo đến cảng Uraga thuộc Edo (Tokyo) gây sức ép, Nhật bản buộc phải
mở cửa, bãi bỏ chính sách bế quan tỏa cảng kéo dài suốt 200 năm để giao thương. Ngày 31/3/1854 sau kí kết hoà ước với Mỹ, lịch sử nước
Nhật đã chuyển sang một thời kỳ mới, đó là công cuộc cải cách Minh trị Duy Tân bắt đầu vào năm 1868 sau khi Thiên hoàng Komei
(Mutsuhito) thâu tóm quyền lực nội trị về một mối. Với tư duy mới để cải cách toàn diện chính trị, xã hội, giáo dục… chính quyền Minh Trị ra
____________________________________________________________________________________
_
16
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
sức “hiện đại hóa” đất nước theo tư tưởng “thoát á nhập âu”—cách hội nhập vào trào lưu của giới thống trị trong đó tổ chức lại xã hội, cải
cách nền giáo dục khoa bảng từ chương theo lối Khổng-Mạnh sang nền giáo dục tiên tiến lấy kinh nghiệm của Hoa kỳ và các nước phát triển
Châu âu (Đức, Pháp, Hòa Lan…) để xây dựng một mô hình giáo dục quốc gia phù hợp với chủ trương “Khai hoá văn minh” (Bunmei Kaika):
phó, tách mình ra khỏi ảnh hưởng cũng như số phận như Trung Quốc và Triều Tiên, cướp thời cơ mở cửa với các liệt cường phương tây để
nhanh chóng đưa Nhật bản phát triển thành một cường quốc ngang ngửa trên vũ đài quốc tế như chúng ta đã thấy qua hai cuộc chiến tranh
Nhật – Thanh (1894) và chiến tranh Nhật – Nga (1905) trong chiến lược “Phú quốc Cường binh” kéo dài cho đến hai trận thế chiến I(1914-
1918) và II (1939-1945) bùng nổ sau nầy!
Với tư tưởng và chủ trương đầy tham vọng nêu trên, ngay từ đầu Nhà nước Minh Trị đã “quản lý” chặt chẽ, theo sát mọi chính sách và
biện pháp cải cách giáo dục (với mục đích nhanh chóng sản sinh ra một lớp công nhân có tay nghề thích hợp và cần thiết cho phát triển với một
tinh thần “trách nhiệm” trong thái độ lao động triệt để mà chúng ta đã thấy qua những thành công to lớn và cơ bản trong việc quản lý chất
lượng hàng hóa trong sản xuất sau này) đưa Nhật Bản từ vị trí một nước nông nghiệp, lạc hậu về kỹ thuật từ cuối thế kỷ 19 sang thành một
nước có nền công nghiệp phát triển rực rỡ từ những năm 60 của thế kỷ trước mặc dù là kẻ bại trận liên tiếp trong hai cuộc chiến tranh thế giới,
phải tháo bỏ chế độ quân phiệt và trả lại những “tô giới” ở Triều Tiên, Trung quốc, Đài loan và căn cứ quân sự và chế độ thực dân tại các nước
Đông nam Á.
Có người cho rằng hệ thống giáo dục của Nhật Bản thời Minh Trị mô phỏng theo hệ thống quản lý giáo dục của Pháp khi thiết lập
“Trường Chuyên Môn” (như là những Grandes Ecoles ở Pháp) tiền thân của hệ thống đại học sau này. Nhưng khi xét về phần “Tư thục” thì có
ý kiến mạnh mẽ kết luận rằng Nhật bản chịu nhiều ảnh hưởng của Mỹ khi nhìn vào sự thành công rực rỡ của quá trình hình thành hệ thống
Trường tư thục qua mô hình “Lan học” (1858) đầu tiên theo giáo dục phương tây (người Nhật gọi là “Lan học” tức học theo Hoà Lan thay vì
gọi là Tây học như ở VN) sau này phát triển thành Đại Học Keio (1920) do Fukuzawa Yukichi (1835-1901), một nhà tư tưởng và giáo dục nổi
tiếng khởi xướng và sáng lập với sự hợp tác chặt chẽ của Hoa Kỳ.
Thực tế cho thấy vào cuối hậu bán thế kỷ 19 đã có nhiều đoàn chuyên gia cấp cao của Nhật Bản, tổng cộng 48 người ( đặc biệt là Iwakura
Tomomi , đại sứ từng làm việc ở Mỹ 1860, Châu Âu lần 1 vào năm 1862 và lần 2 vào năm 1863) lặn lội đi các nước từ Mỹ sang Châu Âu từ
tháng 12/1871 đến tháng 9/1872 để tìm kiếm phương cách đổi mới qua việc học tập kinh nghiệm của Mỹ về y khoa, luật (tuy có phần lạc hậu
so với Châu âu), kỹ thuật quân sự; sang Châu âu để học công nghiệp và giáo dục kỹ thuật của nước Anh, y tế của Hòa Lan, tổ chức chính
quyền theo kiểu Đức… Trong số nầy có người đã trở thành thủ tướng, bộ trưởng quan trọng sau nầy của chính quyền Minh trị như Ito
Hirobumi, Okubo Toshimichi, Kido Takayoshi… cho nên kết luận rằng Nhật Bản hấp thu kinh nghiệm của nhiều nước Âu-Mỹ để xây dựng cho
mình một chế độ giáo dục hiện đại là điều không thể chối cãi (Wataru Hasegawa tlđd). Tuy nhiên cũng phải khách quan thừa nhận rằng Nhật
bản đã dần dà hình thành một nền giáo dục tiên tiến cho bản thân mình trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống kết hợp với những tư
tưởng tiên tiến của nước ngoài thời bấy giờ một cách hiệu quả, trong đó vai trò lãnh đạo tuyệt đối và cương quyết của chính quyền Minh Trị đã
trở thành nhân tố quyết định dẫn đến thành công trong công cuộc cải cách. Vì vậy hai chữ “thoát Á” của Fukuzawa Yukichi hàm ý nghĩa là
Nhật bản phải rời bỏ tư tưởng hủ lậu và lỗi thời của triết học phương đông, mặc cho mình chiếc áo mới tây phương phù hợp với thời đại của
cuộc cách mạng kỹ nghệ, rằng “chúng ta không những có thể thoát ra khỏi sự trì trệ lạc hậu cũ kĩ của nước Nhật Bản mà còn có thể đặt lại
được một trật tự mới trên toàn Châu Á” (Fukuzawa Yukichi), mà vẫn giữ những giá trị văn hóa truyền thống, tôn thờ nhà vua, lễ giáo phong
trường đào tạo ngành nghề phù hợp với điều kiện và nhu cầu của mình. Trường dạy nghề tư thục cũng có điều kiện phát triển không kém, thậm
chí có nơi trường dạy nghề do người nước ngoài xây dựng cũng đã trở nên phổ biến, lấn át cả hệ thống đào tạo nghề công lập với tỷ lệ công-tư
4/6 hay 3/7.
C. Cải cách giáo dục lần 2
Nhật Bản thực hiện cải cách giáo dục lần thứ hai dưới dự kiếm soát của G.H.Q (Tổng hành dinh chỉ huy quân đội đồng minh, do tướng
Mac Arthur của Mỹ làm tư lệnh) sau khi Hiến pháp “dân chủ” mới, loại bỏ quyền lực tuyệt đối của Thiên Hoàng, được ban hành vào ngày
3/11/1946.
Cải cách lần này qui định áp dụng chế độ giáo dục cưỡng bách 9 năm tại Nhật bản, nâng cấp khả năng đào tạo của những cơ sở dạy nghề
cũng như hoàn thiện hệ thống giáo dục đại học theo khuyến cáo của phía Hoa kỳ. Từ thời điểm nầy, chúng ta thấy con số thống kê về trường
trung học cơ sở (cấp 2) hay trung học phổ thông (cấp 3) tăng nhanh một cách đáng kể. Các “trường chuyên môn” thời quân phiệt trước đây bị
huỷ bỏ thay thế bằng “trường dạy nghề” hoặc được nâng cấp trở thành những trường đại học mới lập.
Năm 1961, Nhật Bản thay đổi qui định hệ thống giáo dục dạy nghề trong Luật giáo dục, cho phép lập “trường cao đẳng chuyên nghiệp”
với học trình 5 năm (gồm 3 năm trung học phổ thông và 2 năm chuyên tu) cùng tồn tại song song với trường dạy nghề đã có. Năm 1975, để
đáp ứng yêu cầu nhân lực, Bộ Giáo dục Nhật Bản cho phép thành lập trường “chuyên tu kỹ thuật” gọn nhẹ và tập trung đào tạo cán sự kỹ thuật
nhằm bổ sung cho hệ thống “đại học ngắn hạn”(2-3 năm) hay hệ thống đại học chính qui với học trình 4 năm. Mục đích là để giảm bớt sức ép
tranh nhau thi vào cửa hẹp của đại học do nhân khẩu trưởng thành tăng đột biến (“baby boom” sau thế chiến thứ hai), và tạo cơ hội cho những
học sinh bị rớt trong các kỳ thi tuyển vào đại học vào trường dạy nghề với thời gian học ngắn hơn.
Như vậy, có thể hiểu, trước khi nền kinh tế tri thức được xác lập vào những năm cuối thập kỷ 1990, học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở
(cưỡng bách) có thể vào đi vào học trường “cao đẳng kỹ thuật ”(5 năm), trong khi học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông (cấp 3) có thể theo
học trường “chuyên tu ”(1-2 năm) hay liên thông, chuyển qua học 2 năm cuối cùng của “Cao đẳng kỹ thuật” hay đi vào “Cao đẳng chuyên
nghiệp”(2-3 năm) với khả năng tìm được việc làm dễ dàng hơn vì có nghề và kỹ năng hơn người có trình độ 4 năm ở đại học hay đại học “ngắn
hạn” 2, 3 năm (Tanki Daigaku với giáo trình chung chung không hiệu quả, chủ yếu là lớp học ban đêm hay lớp dành cho phụ nữ với môn nữ
công gia chánh, giáo viên tiểu học, máy móc cơ khí đơn giản…).
Tỷ lệ học sinh phổ thông và học sinh học nghề (1937-1952)
Năm Phổ thông Tỷ lệ(%) Thực Nghiệp(học nghề) Tỷ lệ
(%)
Tổng cộng
1937 780.053 65,2 416.949 34,8 1.197.002
1938 818.796 64,8 443.947 35,2 1.262.743
trên giấy!
D. Khái quát về hệ thống giáo dục hiện nay tại Nhật Bản
Trong những năm gần đây, những thành tựu rực rỡ về công nghiệp và phát triển kinh tế của Nhật Bản đã gây được nhiều sự chú ý trên thế
giới. Mặc dù có nhiều sự quan tâm dành cho nền công nghiệp và giáo dục, nhưng vẫn còn rất ít những nghiên cứu có liên quan về việc đào tạo
kỹ thuật cấp giáo dục phổ cập tại Nhật Bản. Vì vậy ngoài phần miêu tả lịch sử dạy nghề hình thành trong thời kỳ Minh Trị Duy Tân, phần tiếp
theo sẽ nêu rõ tình trạng hiện nay và những thách thức trong tương lai của việc đào tạo kỹ thuật ở Nhật Bản. Sở dĩ như vậy là vì có mối quan hệ
rất khắng khít giữa các vấn đề đào tạo kỹ thuật ở trường cấp 2 cơ sở với các môn Kỹ thuật và đào tạo kỹ năng (lý thuyết) ở trường trung học
phổ thông và sự liên thông với Cao đẳng chuyên nghiệp sau khi tốt nghiệp ở cấp phổ thông.
Chú thích bổ sung bảng 1:
Trong mục các loại trường kỹ thuật, có loại đào tạo sau:
Loại chỉ đào tạo trong 3 năm cho các em tốt nghiệp Trung học cơ sở (gọi
là Trung học Kỹ thuật hay Trung học Chuyên nghiệp, kết hợp giữa
giáo dục phổ cập và dạy nghề) và
Loại 5 năm (THKT + 2 năm) gọi là Cao đẳng kỹ thuật), khác với trường
Cao Đẳng ở Việt Nam, chỉ mở cho học sinh sau THPT mà thôi.
Trường đào tạo chuyên ngành như y tế cộng đồng, y tá, dược tá, chăm
sóc người già…của nhà nước (2-3 năm theo yêu cầu của bộ môn)
Trường chuyên tu (tư nhân) là những cơ sở dạy nghề cụ thể như Hớt tóc,
Cắm hoa, dạy tiếng nước ngoài, thư đạo, văn hóa đời sống, đầu bếp…
____________________________________________________________________________________
_
19
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
Thường là 1-2 năm , nằm ngoài hệ thống đào tạo của giáo dục của
nhà nước.
Ngoài ra còn có Trung tâm Huấn luyện Nghề (của quận huyện thành
phố…) công lập là cơ sở đào tạo nghề mới(hoàn toàn miễn phí) cho
những người muốn đổi nghề, về hưu…không giới hạn tuổi tác để giải
5-Thời kỳ “Kinh tế tri thức” (1995-thế kỷ 21)
Bảng 2 dưới đây cho thấy các điều kiện kinh tế-xã hội với đặc tính của từng thời kỳ, và tỷ lệ phần trăm tốt nghiệp phổ thông trung học và
số người đi học cấp cao hơn.
Bảng 2. Phát triển kinh tế xã hội và đào tạo dạy nghề
(1950-1990)
Thời kỳ Các điều kiện kinh tế xã hội Số học sinh lên
cấp 3
Vào caođẳng chuyên nghiệp /đại học
Tái thiết
kinh tế (1)
Thiếu thốn về nhà ở và thức ăn 43.0%(1950)
51.5%(1955)
10.1%(1955)
Phát triển
cao về kinh
tế (2)
Tăng trưởng về khoa học và kỹ thuật
Tăng trưởng nhanh về kinh tế
(khoảng 10%).
57.7%(1960)
70.7%(1965)
82.1%(1970)
10.3%(1960)
17.1%(1965)
24.0%(1970)
Kinh tế ổn
định (3)
Khủng hoảng dầu (1971 & 74).
Kinh tế phát triển chậm và ổn định (3-5%).
91.9%(1975)
• Từ năm 1958, giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề đã được đưa vào cả những trường phổ thông trung học phổ thông và lẫn trường cấp
2. Mặc dù khái niệm hướng nghiệp trong trường trung học phổ cập hỗn hợp (vừa dạy chữ vừa dạy nghề) là một trong những mục
tiêu của cải cách giáo dục dạy nghề ở Hoa Kỳ, nhưng nó chưa bao giờ trở thành mẫu hình chiếm ưu thế tại Nhật Bản.
• Khoảng hơn phân nửa các trường phổ thông trung học tại Nhật Bản chỉ cung cấp các chương trình lý thuyết, những trường còn lại
chia đều ra 2 loại: trường hỗn hợp (vừa dạy chữ vừa dạy nghề) và trường dạy nghề (phỏng theo mô hành của Bộ Giáo dục Hoa Kỳ,
1987). Nói một cách khác, hầu hết các trường phổ thông trung học tại Nhật Bản cung cấp các chương trình lý thuyết nhằm chuẩn bị
cho học sinh bước lên bậc học cao hơn mà không có các khoá học hướng nghiệp hay dạy nghề cụ thể. Vì thế, hầu hết các học sinh
Nhật Bản tham gia vào các khoá học hướng nghiệp dạy nghề cụ thể đều không đủ trình độ nghề nghiệp nên phải theo học tiếp một
số môn ở các trường dạy nghề như cao đẳng chuyên nghiệp kỹ thuật hay trường chuyên tu kỹ thuật. Thí dụ trong năm học 1990, có
khoảng 26% học sinh trung học phổ thông tham gia vào các lớp học hướng nghiệp, dạy nghề tức khoảng ¼ số học sinh rời ghế nhà
trường phổ thông để đi vào trường cao đẳng chuyên nghiệp kỹ thuật (hoặc chuyên tu kỹ thuật) và tỷ lệ nầy có khuynh hướng tăng
lên 30% vào những năm kế tiếp.
• Theo Bảng 2, trong suốt thời kỳ tái thiết kinh tế sau thế chiến thứ hai, khoảng phân nửa học sinh cấp 2 (phổ thông cơ sở) bắt đầu ra
xã hội làm việc ngay sau khi tốt nghiệp. Ở giai đoạn nầy, môn học giáo dục hướng nghiệp-dạy nghề là một trong những môn học
bắt buộc đối với tất cả học sinh nam và học sinh nữ tại các trường cấp 2 cơ sở, bao gồm các môn học liên quan đến nông nghiệp,
công nghiệp, thương mại và kinh tế gia đình. Chương trình giảng dạy đa dạng tuỳ theo qui mô của trường và phụ thuộc vào từng địa
phương. Một trong những mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp dạy nghề là đào tạo tay nghề thông qua học tập (lý thuyết) từ những
kinh nghiệm thực tế.
3. Việc đưa vào các môn đào tạo kỹ thuật
Sự kiện Liên Xô phóng thành công vệ tinh “Sputnik” vào quỹ đạo, đánh dấu bước ngoặt về khoa học-kỹ thuật của loài người trong việc
chinh phục không gian, cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, Nhật Bản đã ý thức được tầm quan trọng của việc đẩy mạnh sự phát
triển các chương trình giáo dục khoa học và kỹ thuật. Một trong những chính sách được chính phủ Nhật Bản áp dụng vào cuối năm 1957 là
việc đưa các môn kỹ thuật thành môn bắt buộc tại tất cả các trường cấp 2 cơ sở bắt đầu vào năm 1958.[5] Với việc đưa chương trình đào tạo kỹ
thuật vào các trường cấp 2 cơ sở, môn giáo dục hướng nghiệp dạy nghề đã có trước đây được chuyển sang các trường phổ thông trung học (cấp
3) như là một môn học tự chọn.
Vào năm 1958, mục tiêu chủ yếu của môn đào tạo kỹ thuật ở trường cấp 2 cơ sở là nhằm giúp học sinh nắm các kỹ năng cơ bản thông
qua kinh nghiệm sáng tạo/sản xuất, am hiểu công nghệ hiện đại, và thúc đẩy những hiểu biết và thái độ cần thiết để ứng dụng:
• thông qua kinh nghiệm về thiết kế và thực hành, nuôi dưỡng các kỹ năng thuyết trình, sáng tạo, và những thái độ hợp lý trong khi
giải quyết sự việc.
• thông qua kinh nghiệm sản xuất/điều hành máy móc/thiết bị, giúp học sinh hiểu mối quan hệ mật thiết giữa công nghệ và cuộc sống,
bắt buộc phải học các môn cơ sở như “cơ sở kỹ thuật”, “toán kỹ thuật”, và “thực hành”. Mục đích của những môn học này là nhằm tăng cường
kiến thức và kỹ năng cơ bản của học sinh, cũng như sử dụng tài liệu và phương pháp giảng dạy mới và cập nhật trong giáo trình.[8] Đồng thời
môn học về các kỹ năng và kinh nghiệm làm việc được đưa vào các khoá học tổng quát cho tất cả học sinh các cấp phổ cập.
5. Việc đưa môn “Cơ bản của công nghệ thông tin” vào trường cấp 2 và “Dự án nghiên cứu độc lập” vào trường phổ thông trung học
Để đáp ứng những sự thay đổi tại nơi làm việc và ngoài xã hội, Bộ Giáo dục đã khởi xướng một vài thay đổi vào cuối những năm 1980.
Một trong những thay đổi chủ yếu là đưa một môn học lý thuyết máy tính mới vào chương trình giáo dục kỹ thuật tại trường cấp 2 (không phải
cấp 1 như ở VN). Mục tiêu chính của môn học mới này là nhằm giúp học sinh hiểu được vai trò và chức năng của máy tính, và phát triển năng
lực sử dụng máy tính và thông tin. Nội dung chủ yếu bao gồm máy tính và xã hội, phần cứng máy tính, và các ứng dụng phần mềm máy tính.
Dù môn tin học không phải là một trong bốn môn học bắt buộc (chế biến gỗ, điện tử, thực phẩm, đời sống gia đình) nhưng nó là một
trong những môn được các em chọn nhiều nhất. Theo kết quả một nghiên cứu của Bộ Giáo dục Nhật bản (1991), có 76% sinh viên muốn học
lớp tin học mới này.
Đối với cấp phổ thông trung học, Bộ Giáo dục đã điều chỉnh lại các lớp kỹ thuật để khuyến khích phát triển các kỹ năng cơ bản và sự linh
động trong ứng dụng. Trong các môn học cơ bản, Bộ Giáo dục khuyến khích sử dụng máy vi tính cho bộ môn khoa học và toán học. Tất cả các
sinh viên học nghề đều phải học một môn công nghệ thông tin có liên quan đến chuyên ngành của họ như xử lý thông tin nông nghiệp và xử lý
thông tin kinh tế gia đình. Một trong những nội dung chấn chỉnh quan trọng nhất của các lớp kỹ thuật ở cấp phổ thông trung học là phần giới
thiệu các lớp giải quyết vấn đề phức hợp như “cơ điện tử”, “ứng dụng cơ điện tử” và nghiên cứu dự án độc lập/ bắt buộc.
Mục tiêu chính yếu của lớp cơ điện tử mới là để nâng cao hiểu biết về các kiến thức và kỹ năng cơ bản về cơ điện tử (cơ học và điện tử).
Bảng 2 trình bày các công cụ và máy móc cơ bản, máy cảm biến, máy chuyển A/D, mạch logic, thiết bị truyền động, cơ học và dụng cụ dẫn
lực.
Mục tiêu Nội dung
Cơ học: đạt được các kiến thức và kỹ năng cơ
bản về cơ học, đào tạo kỹ năng ứng dụng vào
thực tiễn.
1) Sự kết hợp cơ học và điện tử trong các máy móc và dụng cụ.
2) Các nguyên lý và đặc điểm của thiết bị cảm biến 3) Thiết bị cảm biến và máy
vi tính; đổi tương tự; mạch logic, tín hiệu.
4) Đặc điểm và các dạng cơ cấu truyền động.
5) Điều khiển cơ cấu truyền động.
6) Cơ học và dụng cụ dẫn lực.
Nói chung, tại Nhật đã có xu hướng ngày càng nghiêng về đào tạo kỹ thuật và đào tạo nghề. Tuy nhiên, do phương pháp rộng và kém
nghệ thông tin). Đây là không kể loại trường chuyên tu/chuyên môn dạy nghề của tư nhân chiếm tỷ lệ 80%-90% trong tổng số trường dạy nghề
trên cả nước, trong đó ngành công nghệ thông tin chiếm đa số tuyệt đối. Ở một vài tỉnh lớn có các trung tâm đào tạo công nghệ thông tin và kỹ
thuật hoạt động độc lập. Các trung tâm này có chức năng đào tạo giáo viên đang giảng dạy, hoàn thiện tài liệu giảng dạy và nghiên cứu phương
____________________________________________________________________________________
_
22
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
pháp giảng dạy. Để sử dụng hiệu quả các nguồn ngân sách của nhà nước, các trung tâm đào tạo các tỉnh được trang bị các trang thíêt bị đắt tiền
như các hệ thống máy vi tính quy mô lớn và các trung tâm cơ khí hiện đại.
Duyệt sách và những trợ cấp cho sách giáo khoa bắt buộc
Các loại sách giáo khoa sử dụng trong các trường giáo dục bắt buộc và các trường phổ thông trung học đều được các công ty xuất bản tư
nhân biên soạn và phát hành theo sự kiểm định và chấp thuận của Bộ Giáo dục. Tất cả các sách giáo khoa bắt buộc, cả sách giảng dạy kỹ thuật,
đều được phát miễn phí cho học sinh. Ví dụ như một văn bản về cơ khí đã được duyệt phải có nội dung liên quan trực tiếp tới nội dung Bảng 3.
8. Những thách thức của đào tạo công nghệ tại Nhật hiện nay
GS Musuda (Nhật) và GS Sterm (Mỹ) cho rằng Nhật Bản hiện đang đứng trước 4 thách thức lớn trong việc đào tạo công nghệ, khả năng
giải quyết được những thách thức đó sẽ là nhân tố quyết định bản chất và hiệu quả của việc đào tạo công nghệ trong tương lai.[11] Đó là:
(a) Áp lực kiểm tra đầu vào
Tại Nhật bản, các kỳ thi kiểm tra đầu vào gắt gao có ý nghĩa rất quan trọng trong nền giáo dục, nhất là các kỳ thi tuyển sinh vào học tại
các trường đại học có uy tín. Chính vì việc thi đậu vào các trường đại học có uy tín sẽ đem lại nhiều thuận lợi sau này mà các bậc cha mẹ đều
khuyến khích con em mình chuẩn bị học tập tốt từ khi còn rất nhỏ. Các kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia có 5 môn chính: toán, tiếng Anh,
tiếng Nhật, khoa học tự nhiên, khoa học nhân văn, không có nội dung về công nghệ, kinh tế gia đình, mỹ thuật hoặc giáo dục y tế. Vì vậy, các
bậc cha mẹ có khuynh hướng xem đấy là những môn phụ so với các môn có trong nội dung thi của các kỳ thi tuyển sinh. Điều nầy vô hình
trung phủ nhận giá trị của việc học môn kỹ thuật hay môn mỹ thuật…ở bậc trung học cơ sở, dẫn đến việc các em học sinh xem nhẹ những môn
học này trong giáo trình.
(b) Khó khăn trong thay đổi chương trình
Quãng thời gian 10 năm để thay đổi chương trình cho phù hợp với những thay đổi trong kỹ thuật và môi trường làm việc là quá dài. Đây
là một thách thức đặc biệt quan trọng trong đào tạo kỹ thuật do nội dung đào tạo kỹ thuật luôn có quan hệ mật thiết với thế giới kỹ thuật và môi
trường (kỹ thuật) nơi làm việc. Bắt được nhịp tăng trưởng trong cải tiến và phát minh trong công nghệ thông tin, trong các ngành sản xuất chế
biến hay phương thức quản lý là một thách đố, buộc các nhà giáo dục phải có chính sách ứng phó linh hoạt hơn, nhất là khi nền kinh tế tri thức
Đại học 4 năm 489.848 (41,8 %)
Đại học ngắn hạn (2-3 năm) 83.217 (7,1 %)
(Thống kê năm 1989, Niên giám Giáo dục, Bộ GD NB)
Mặt khác trong tổng số 3.441 trường cao đẳng/chuyên tu thì 93,9% thuộc hệ dân lập trong khi trường của nhà nước chỉ có 11 trường
(0,3%) và số trường công lập (của tỉnh, thành, quận huyện) cũng chỉ có 199 trường (0,58%). Đây là con số phản ánh xu hướng học nghề,
chuyên tu ngày càng được tư nhân hoá rất cao đáp ứng sự đa dạng của việc đào tạo nghề cho thanh niên. Số học sinh trung học cơ sở (cấp 2)
tiến thẳng lên cấp 3 phổ thông rồi mới học nghề thay vì chuyển hướng học nghề từ trung học cơ sở (cấp 2) như những năm 1960. Hơn thế nữa
nếu nhìn vào ngành nghề cụ thể thì các ngành công nghiệp và văn hoá-giáo dưỡng là những bộ môn chiểm tý lệ cao hơn cả, từ 15-17% không
kể ngành y tế chiếm tỷ lệ vượt trội 31-34%, ngoài ra ngành vệ sinh công cộng cũng đạt 12-14% trong khi ngành nông nghiệp chỉ còn 0,5 %,
phản ánh khuynh hướng “ly nông” rất rõ rệt.
Điểm đáng chú ý là lượng học sinh vào học các trường đại học ngắn hạn (2-3 năm) đã giảm sút so với số học sinh lên chuyên tu/cao
____________________________________________________________________________________
_
23
Tiểu luận Lịch Sử Đảng
đẳng chuyên nghiệp. Ở đại học ngắn hạn,học sinh nữ chiếm 70% vì các môn học như nữ công gia chính, kế toán, quản lý nghiệp vụ văn phòng,
sinh ngữ…là môn học chủ yếu. Dù có sự thay đổi này, nhưng chúng ta vẫn có thể kết luận được rằng việc đào tạo nghề qua các trường chuyên
tu hay cao đẳng vẫn còn chiếm một tỷ lệ khá lớn 18-19%. Nếu so với những năm 1975-85, với tỷ lệ là 30-32%, thì tỷ lệ này có sụt giảm
nhưng việc giảm này chủ yếu là do nền kinh tế Nhật Bản đã chuyển sang sản xuất ở nước ngoài, đặc biệt các dây chuyền công nghệ lắp ráp kim
khí điện máy, cơ khí, hoá chất…, qua con đường xuất khẩu kỹ thuật hay đầu tư ra nước ngoài,tăng nhanh trong hơn 20 năm qua (xem bảng
thống kê 2006).
Tổng cộng Nhà nước (BGD) Công lập (địa phương) Dân lập
Số trường* 3.441
100%
11
0,3%
199
0,58%
3.231
Qua phân tích khái quát trên, chúng ta có thể nhận thức được mối quan tâm của các nhà xây dựng chính sách giáo dục ở Nhật Bản. Họ
tìm cách đẩy mạnh việc hướng nghiệp-đào tạo dạy nghề cho lứa tuổi trung học cơ sở lẫn trung học phổ thông với nhiều phương cách linh hoạt
nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội Nhật Bản một cách hợp lý nhất trong đường lối chiến lược “Kỹ thuật Lập quốc”, nghĩa
là dùng khoa học kỹ thuật để vươn tới, xây dựng một đất nước Nhật bản hùng mạnh về Kỹ thuật thay vì đường lối “Phú quốc Cường Binh” như
thời “công nghiệp hoá” của Minh Trị Duy Tân.
Tất nhiên, việc cải cách giáo dục là một lộ trình không có điểm dừng chân, phát triển từng nấc theo yêu cầu và đặc điểm phát triển của
từng giai đoạn vì vậy khả năng “tự làm mới” nền giáo dục chính là chìa khoá mở ra những khả năng phát triển cho tương lai, vực dậy những
tiềm năng sáng tạo của con người—thế hệ mới—không những ngăn chận khả năng tụt hậu của quốc gia như chúng ta thấy kinh nghiệm đau
đớn và chua xót của các nước Tây âu đã thua kém Nhật Bản, Đức hay Hoa Kỳ… như thế nào trong hơn hai thập kỷ qua khi nền giáo dục-phát
triển kỹ thuật của những nước này không bắt kịp thời đại “vi tính hoá”(IT) và “rô bô hoá” trong khoa học kỹ thuật. Lối giáo dục “nhân văn” cũ
xưa đã trở thành lạc hậu trước những bước tiến đột phá trong công nghệ về mọi mặt trên thế giới, đòi hỏi phải xây dựng hệ thống giáo dục theo
một nền văn hoá-nhân văn mới phù hợp với “thế giới phẳng” ngày nay. Nhịp bước “10 năm cải tiến giáo dục” một lần của Nhật bản (có nghĩa
là sách giáo khoa có giá trị sử dụng 10 năm mới thay đổi nhằm bắt kịp tốc độ phát triển, định hướng và dự báo nguồn nhân lực của xã hội
trong tương lai) đã bị các nhà nghiên cứu trong nước phê phán phát xuất từ tấm gương thất bại nầy của Châu âu, luôn đòi hỏi chính phủ, cụ thể
là Bộ Giáo dục-Văn hoá-Khoa học ngày nay phải dốc sức duyệt lại với một chu kỳ ngắn hơn cho phù hợp và cập nhật. Trong khi đó ở VN,
sách giáo khoa thay đổi xoành xoạch bị phê phán là dường như chỉ nhằm mục đích tăng nguồn thu bán sách của nhà xuất bản độc quyền nhà
nước chứ không vì mục đích cải tiến chương trình.
Thế giới đã có nhiều thay đổi khi bước vào thế kỷ 21, mối quan hệ quốc tế ngày nay cũng đang trong một trật tự và hệ thống mới trong
đó Việt nam đã là thành viên của nhiều tổ chức và cơ cấu quốc tế. Thiết nghĩ những ý kiến và kinh nghiệm của Nhật bản trong việc đào tạo một
tầng lớp công nhân có kỹ năng thích ứng được với tốc độ phát triển nêu trên hi vọng sẽ đem lại một cách nhìn mới cho nền giáo dục của nước
ta ở giai đoạn hội nhập và cạnh tranh gay gắt. Một thời kỳ mà nhu cầu lao động có kỹ năng và kỹ thuật cao đang trở thành một đòi hỏi bức
thiết, mang tính sống còn đối với một nước có nền kinh tế vốn không được bền vững (nhập siêu liên tục trong những năm vừa qua là một thí
dụ), chưa bắt kịp nhịp điệu tăng tốc của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như trong nước khi Việt nam đang có cơ hội để ra biển lớn.
2/2008
Phụ lục thống kê
Bảng 1. Số lượng và chủng loại trường học, 1873 – 1962
Trung
học cấp
1
Trung
học cấp
2
Trung
học cấp
3
Cao
đẳng
dạy
nghề
Đại học
(theo hệ
thống
cũ)
Cao
đẳng sư
phạm
Trường
đào tạo
giáo viên
Đại học
(hệ
thống
mới)
Đại học
ngắn kỳ
Trường
Niên
khóaMẫu
giáoTiểu
học(gi
áo dục
thường
xuyên)
Trườn
g dạy
nghề
sau
tiểu
học
Trung
học cơ
sở
Trung
học
phổ
thông
Nữ
Trườn
g trung
học
tạo
giáo
viên
Đại
học
(hệ
thống
mới)
Đại
học
ngắn
kỳ
Trườn
g đặc
biệt
Trườn
g
chuyên
tu
1893 186 23.960 - 74 28 37 47 - - 7 41 1 2 - 2 1.406
1894 197 24.548 19 82 14 33 47 - - 7 35 1 2 1- - 2 1.360
1895 219 26.631 55 96 15 56 47 - - 7 52 1 2 1- - 4 1.220
1896 223 26.835 56 121 19 77 47 - - 6 50 1 2 1- - 4 1.181
1897 222 26.860 103 157 26 90 47 - - 6 51 2 2 1- - 4 1.083
1898 229 26.824 113 169 34 109 47 - - 6 48 2 2 1- - 7 1.064
1899 229 25.597 108 190 37 121 49 - - 6 49 2 1 3- - 7 1.143