Thực trạng công tác nâng cao chất lượng sản phẩm của công ty
bánh kẹo Hải Hà.
I. Giới thiệu về công ty bánh kẹo Hải Hà
1. Quá trình hình thành phát triển và tổ chức quản lý của công ty.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ
Công nghiệp (trước đây là Bộ Công nghiệp nhẹ). Công ty chuyên sản xuất các
loại bánh kẹo và là đơn vị chuyên ngành có quy mô lớn ở nước ta hiện nay.
Trụ sở của công ty đặt ở số 25 đường Trương Định, Quận Hai Bà Trưng, Hà
Nội. Tên giao dịch HAIHA CONFECTIONARY COMPANY (HAIHACO).
Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể chia thành ba giai đoạn
chính:
Giai đoạn I: Từ năm 1960 – 1970:
Tiền thân của công ty là xưởng miến Hoàng Mai được thành lập từ ngày
25/02/1960. Quy mô lúc đầu rất nhỏ bé, phương tiện thô sơ của nghề miến thủ
công chỉ có trên 10 công nhân.
Những năm sau đó Hải Hà chuyển thành cơ sở sản xuất thực phẩm nh:
miến, cháo, nước chấm, tinh bét, … Tháng 6/1970 được tiếp nhận của xia
nghiệp bánh kẹo Hải Châu một phân xưởng sản xuất kẹo với công suất 9000
tấn/ năm và đổi tên thành “Nhà máy thực phẩm Hải Hà “. Nhà máy mới trang
bị những dây chuyền có tính chất công nghiệp nh: dây chuyền chế biến nha,
dây chuyền kẹo cứng, kẹo mềm, dây chuyền sản xuất giấy tinh bét.
Tình trạng trang bị còn nhỏ bé, lạc hậu, lao động chủ yếu là thủ công.
Song cơ sở vật chất ban đầu tạo tiền đề cho sự đi lên của nhà máy sau này.
Giai đoạn II: Từ năm 1970 – 1988
TRên cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bị, nhà máy tiếp tục phấn đấu
vươn lên, liên tục mở rộng và phát triển sản lượng từ 9000 tấn/năm, 1200
tấn/năm, đến 2000 tấn/năm và 2200 tấn/năm.
Năm 1976 được nhà nước cấp vốn đầu tư mở rộng trang thiết bị. Hệ
thống chảo nấu thủ công được thay thế bằng thiết bị nấu hơi chân không. Với
những thiết bị được trang bị cùng với sự cố gắng tìm tòi, nghiên cứu của nhà
mô trang thiết bị khá nhất trong ngành sản xuất bánh kẹo. Quá trình phát triển
của công ty là sự cố gắng liên tục, là đổi mới trang thiết bị hiện đại, đào tạo
những công nhân lành nghề kỹ thuật cao, là đội ngũ cán bộ có trình độ giàu
kinh nghiệm … Noa được khẳng định bởi các kết quả đạt được trong những
năm vừa qua, bởi chất lượng sản phẩm, uy tín và vị thế của công ty trong và
ngoài nước.
1.2 Tổ chức quản lý của công ty:
Với sự chuyển đổi từ một nhà máy sang hình thức công ty đã giúp cho
công ty thực hiện được dự án liên doanh với Nhật Bản. Sự cải tiến hình thức
tổ chức này góp phần giúp công ty khai thác công nghệ cao, hiện đại, trình độ
quản lý tiên tiến để nâng cao chất lượng quản lý cũng như chất lượng sản
phẩm lên ngang tầm với nước bạn.
Năm 1995, công ty đã mạnh dạn đổi mới mô hình cơ cấu tổ chức sản
xuất nhằm đáp ứng được đòi hỏi của quá trình cạnh tranh trong kinh tế thị
trường, cụ thể là:
- Tập trung 3 phân xưởng sản xuất kẹo thành xí nghiệp kẹo
- Tập trung 2 phân xưởng sản xuất bánh thành xí nghiệp bánh
- Tập trung các bộ phận in hộp, cắt giấy, nề mộc … thành xí nghiệp phụ
trợ.
- Sát nhập nhà máy Việt Trì vào công ty.
- Sát nhập phòng kế hoạch và phòng cung tiêu thành phòng kinh doanh.\
- Sát nhập nhà máy bột ding dưỡng Nam Định vào công ty
- Thực hiện liên doanh với hãng Kotobuti của Nhật.
S c cu t chc ca cụng ty
(trang bờn)
Qua s ta thy cụng ty sp xp ban lónh o theo hng gn nh
nhm gim chi phớ giỏn tip, iu hnh quỏ trỡnh sn xut kinh doanh cú hiu
qu hn. B mỏy t chc ca cụng ty c xõy dng theo kiu trc tuyn
chc nng, thi hnh ch th trng tt c cỏc khõu. Mi cụng nhõn viờn
v cỏc phũng ban trong cụng ty u chp hnh ch th, mnh lnh ca Tng
cơ bản
Điều
hành
sản
xuất
Kho Vận tải
Bốc
vác
CTLD Hải
Hà
Kotobuki
CTLD
Miwon
Việt Trì
Xí
nghiệp
bánh
Xí
nghiệp
kẹo
Xí
nghiệp
phụ trợ
Nhà
máy
Việt Trì
bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm hơn nữa.
2. chức năng và nhiệm vụ của công ty.
Thực hiện nghị quyết 7 của BCHTW Đảng về Công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước đến năm 2000, công ty bánh kẹo Hải Hà xác định mục tiêu và
nhiệm vụ chủ yếu của mình trong thời kỳ này:
- Tăng cường chiều sâu với mục đích không ngừng nâng cao chất lượng
sản phẩm, tăng năng suất lao động, đa dạng hoá chủng laọi sản phẩm nhằm
mở rộng thị trường từ nông thôn đến thành thị, từ trong các nước đến ngoài
nước. Đủ sức cạnh tranh với các đối thủ trong và ngoài nước, phát triển mặt
hàng mới cùng với các loại bánh kẹo truyền thống.
- Đi sâu nghiên cứu thị trường, ổn định và không ngừng nâng cao hiệu
quả ở các thị trường cũ, mở rộng thị trường mới, nhất là thị trường miền trung
và miền Nam tiến tơí thị trường nước ngoài. Để thực hiện điều này Công TY
phải giải quyết 2 vấn đề lớn:
+ Nghiên cứu và đưa ra sản phẩm có kiểu vị phù hợp với người miền
trung và miền Nam. Tìm những sản phẩm có chất lượng cao cho thị trường
xuất khẩu.
+ Chấp nhận giảm bớt lợi nhuận đeer tăng cường chi phí vận chuyển,
đảm bảo giá ở mọi thị trường đều nh nhau.
- Ngoài việc sản xuất kinh doanh bánh kẹo, công ty còn kinh doanh các
mặt hàng khác để không ngừng nâng cao đời sống và thúc đẩy sự phát triển
ngày một mạnh của công ty. Bảo toàn và thúc đẩy đồng vốn được giao. Thực
hiện tốt các nhiệm vụ và nghĩa vụ đối với nhà nước. Thực hiện phân phối theo
lao động. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên,
nâng cao trình độ chuyên môn…
Nh vậy mục tieu chung của công ty là đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản
xuất kinh doanh, thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước, đồng thời không
ngừng mở rộng và phát triển quy mô của doanh nghiệp, nâng cao uy tín trên
thị trường.
3. Chiến lược kinh doanh của công ty.
doanh tuân theo hành lanh pháp lý của nhà nước.
II. Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của
công ty bánh kẹo Hải Hà.
1. Đội ngũ lao động của công ty.
Là một nhà máy có quy mô lớn và có uy tín trong cả nước về sản phẩm
bánh kẹo. Công ty bánh kẹo Hải Hà có một đopopị ngũ cán bộ cônh nhân viên
mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng.
Đặc điểm sản xuất công ty đòi hỏi sự khéo léo của người lao động, do
vậy lao động nữ chiếm tỷ lệ lớn trong công ty. Hiện nay lao động hjữ chiếm
80% soó lao động trong công ty. Lao động nữ có đặc điểm là cần cù, khéo
léo,… rất thích hợp với công việc gói kẹo, đóng gói. Tuy nhiên bên cạnh đó
cũng có hạn chế : thường hay đau ốm, thai sản, nuôi con ốm dẫn đến hoạt
động bị ảnh hưởng có khi gián đoạn sản xuất. Đặc biệt vào dịp lễ tết hay lúc
yêu cầu tiêu thụ cao sẽ ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của công ty. Lực
lượng lao động nam chủ yếu làm việc ở các khâu bốc xếp kẹo xuất nhập kho
ở tổ cơ khí, nấu kẹo. Họ làm việc rất tích cực và nhiệt tình.
Do đặc điểm của sản phẩm bánh kẹo lượng tiêu thụ thường không đồng
đều giữa các mùa trong một năm. Lượng tiêu thụ thường lớn vào mùa cưới, lễ
tết nên số lượng lao động của công ty thường thay đỏi theo mùa vụ. Đay là
một khó khăn lớn của công ty trong nghành sản xuất bánh kẹo nói chung và
của công ty banhs kẹo nói chung và của công ty bánh kẹo Hải Hà nói riêng.
Việc bố trí lao động phải hợp lí, tránh tình trạng dư thừa và thiếu hụt. Chính
vì vậy, công ty đã bố trí một lượng lao động sản xuất theo mùa vụ. Vấn đề dặt
ra là hiệu lựơng lao động mùa vụ này có đáp ứng được về khả năng và trình
độ chuyên môn hay không? Đó là bài toán khó đối với các cấp lãnh đạo của
công ty và nó cũng ảnh hưởng tới công tác nâng cao chất lượng sản phẩm.
Bảng cơ cấu lao động theo thời hạn sử dụng.
Loại lao động Hành
chính
XN
chiếm 23,5% trong tổng số lao động. Trong đó trình độ đại học chiếm 9,84%,
cao đẳng chiếm 22,65% và trình độ trung cấp chiếm 10,55%. Đốivới đặc
điểm của nghành sản xuất bánh kẹo thì đây là một tỷ lệ cao, tạo thuận lợi cho
công việc xây dựng chiến lược kinh doanh nói chung và chiến lược sản phẩm nói
riêng.
Vơí cơ cấu lao động tương đối hoàn chỉnh, nhưng do yếu tố cạnh tranh
nên công ty luôn luôn chú ý không ngừng nâng cao kiến thức chuyên môn cho
công nhân, thường xuyên mở các lớp đầo tạo tạo doanh nghiệp và gửi đi học
quản lý kinh tế và an toàn lao động ở bên ngoài. Do đó công tác tổ chức của
công ty ngày một hoàn thiện hơn.
2. Khả năng công nghệ và máy móc thiết bị của công ty.
Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định: “ áp dụng các
biện pháp khoa học công nghệ và đổi mới thể chế, chính sách quản lý nhằm
nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong và
ngoài nước”. Nhận thức được điều này nhiều doanh nghiệp đã xác định các
biện pháp chủ yếu của quản lý chất lượng nhằm nâng cao chatá lượng sản
phẩm: “ Đổi mới công nghệ là khâu đột phá, xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn
chất lượng là cơ sở, kiểm tra, kiểm soát chất lượng là việc làm thường xuyên.
(3)
.
Công ty bánh kẹo Hải Hà trên cơ sở nắm bắt được nhu cầu về số lượng
và chất lượng bánh kẹo trên thị trường đã chuyển hướng sản xuất kinh doanh,
đa dạng hoá sản phẩm với mẫu mã đẹp, giá thành hạ và chất lượng cao. Công
ty đã tự thiết kế xây dựng, mở rộng, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất với
công nghệ hiện đại được nhập từ Đức, Italia, Đan Mạch…nh dây truyền Telly
đổ khuôn, Telly đổ cốc, dây chuyền kẹo Caramel….
Bảng : Danh mục máy móc thiết bị được trang bị từ năm 1990 đến nay
Tên thiết bị Nước sản
xuất
Năm sử
Tên công ty Giá bán
Kẹo cốm 2500 đồng/ gói
125g
Tràng An 3000đ/gói 125
g
500
Bánh kem
xốp
2300đ/ gãi/ kg Hải Châu 21890đ/ kg 1110
Kem xốp
Socola
3200đ/kg Hải Châu 30380đ/kg 1620
Kủo me cứng 2100đ/gói 175g Biên Hoà 2500đ/gói 175
g
- 400
Bánh quy xốp 4700đ/gói 200g Quảng
Ngãi
5000đ/gói 200g - 300
Kủo sữa dừa 2500đ/gói 125g Biên Hoà 3000đ/gói 125g - 500
Bánh cẩm
chướng
12000đ/kg Hữu Nghị 11300đ/ kg 700
Bánh bông
lúa
18500đ/ kg Hữu Nghị 17700đ/kg 800
Kẹo mềm
Socola
3000đ/gói/ 175g Hải Châu 2800đ/gói 175g 200
Tuy nhiên, do sự phát triển nhanh của sản xuất, nguồn vốn còn hạn hẹp
nên việc đầu tư vào máy móc thiết bị của Công ty chưa được đồng bộ. Công
+ Dầu bơ
+ Magazin chủ yếu nhập ngoại
- Sữa :
+ Sữa bột
+ Váng sữa chủ yếu nhập của Hà Lan, Ba Lan, Óc
+ Sữa đặc có đường chủ yếu ở Công ty VINAMIA.
- Bột mỳ : Nguyên liệu chính của sản xuất bánh
- Chất phụ gia thực ơhẩm : chủ yếu được nhập ở các Công ty nổi tiếng
trên thế giới theo tiêu chuẩn EEC nh chất tạo xốp màu, hương, bảo quản.
Đặc điểm của nguồn nguyên vật liệu này là dễ bị hỏng theo thời gian,
khó bảo quản, giá cả không ổn định. Để đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu
bên cạnh vấn đề giá cả hợp lý, nó còn phải đảm bảo chất lượng tốt, dễ baỏ quản.
Phần lớn nguyên vật liệu của Công ty đều phải nhập từ nước ngoài nh :
Bột mù, hương liệu, túi nhãn cao cấp…còn lại là mua ở các Công ty trong
nước nh đường kính dầu thực vật. Như vậy có sự biến động nào từ phía
người cung cấp cũng như sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của chính phủ
trong việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái đều ảnh hưởng đến sản xuất của Công ty,
đặc biệt là các nguồn cung cấp ở nước ngoài. Tránh tình trạng này công ty đã
một mặt tính toán mua sắm nguyên vật liệu để luôn luôn có một lượng dự trữ
nhất định đảm bảo sản xuất được tiến hành liên tục và phòng khi có sự cố xảy
ra từ nguồn nhập. Một mặt Công ty cố gắng tìm nguồn hàng với chất lượng
cao mà giá thành hạ để tăng hiệu quả, và tăng cường nghiên cứu sử dụng
nguyên liệu thay thế để giảm bớt chi phí sản xuất và chất lượng vẫn đảm bảo.
Bảng : Nguồn cung ứng chính của Công ty
(Số liệu năm 2000)
ST
T
Tên bạn hàng Tên nguyên
liệu
Hợp
Đó là quản lý sản xuất, đảm bảo chất lượng thông qua kiểm tra và tổ chức
theo 2.
Cấp Công ty : Phòng kỹ thuật đầu tư phát triển quản lý quá trình công
nghệ sản xuất sản phẩm của xí nghiệp, quản lý chất lượng nguyên vật liệu
nhập kho và sản phẩm của các xí nghiệp thưởng phạt hàng tháng của các xí nghiệp.
* Cấp xí nghiệp : Các kỹ sư đi theo ca sản xuất có nhiệm vụ quản lý việc
thực hiện quy trình công nghệ và quản lý chất lượng sản phẩm theo ca, từ đó
có thể thưởng phạt việc thực hiện quy trình công nghệ hàng tháng đối với các
tổ và cá nhân.
Để đảm bảo chất lượng Công ty đã tổ chức một mạng lưới kiểm tra
thống nhất từ Công ty cho đến xí nghiệp cơ sở theo chế độ năm kiểm tra :
- Cá nhân tự kiểm tra
- Tổ sản xuất tự kiểm tra
- Ca sản xuất tự kiểm tra
- Phân xưởng tự kiểm tra
- Công ty kiểm tra và cho xuất xưởng
Nguyên tắc kiểm tra của Công ty được thực hiện dựa trên việc lấy xác
suất các mẫu trên dây chuyền của từng lô sản phẩm hay nguyên liệu trước khi
mua về hoặc chuẩn bị nhập kho. Tuỳ thuộc vào độ lớn của từng lô sản phẩm
hay khối lượng nguyên vật liệu để lấy mẫu. Sau đó các mẫu này được chuyển
đến phòng KCS để phân tích đánh giá. Cán bộ KCS ghi rõ ngày sản xuất,
ngày nhập, ca sản xuất trên mỗi mẫu để tiện theo dõi, đối chiếu và quy trách
nhiệm cho bộ phận thực hiện.
Nhìn chung các thiết bị này còn thô sơ và thời gian sử dụng đã khá lâu
và nhiều thiết bị còn thiêú. Do đó gây khó khăn nhiều cho việc kiểm tra chất
lượng của Công ty. Tuy nhiên bộ phận KCS đã biết khai thác triệt để những
thiết bị hiện có để theo sát tình hình chất lượng của Công ty.
Kiểm tra chất lượng sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất,
nhất là sản phẩm thực phẩm của Công ty. Nếu chỉ phát hiện ra sản phẩm cuối
cùng bị hỏng thì thiệt hại rất lớn. Vì vậy công ty đã xây dựng kế hoạch theo
- Bộ phận KCS còng tham gia cùng bộ phận nghiên cứu thị trường sản
xuất thử nghiệm và bộ phận nghiên cưú sản phẩm mới vào công việc thiết kế
và giới thiệu sản phẩm của Công ty để xây dựng mức chất lượng phù hợp với
nhu cầu của khách hàng. Nhờ việc bám sát vào nhu cầu của khách hàng trong
công việc thiết kế và sản xuất các sản phẩm bánh kẹo của Công ty đã đáp ứng
được nhu cầu khá đa dạng của thị trường từ nhu cầu bình dân đến nhu cầu cấp
cao.
4.2. Kiểm tra chất lượng trong khâu cung ứng
Những thông tin về số lượng và chủng loại nguyên vật liệu sẽ được cung
cấp cho phòng kinh doanh. Phòng kinh doanh có trách nhiệm tìm đối tác, thoả
thuận và ký hợp đồng mua nguyên liệu theo đúng thành phần số lượng và chỉ
tiêu chất lượng.
Bộ phận KCS có trách nhiệm ghi sõ ngày sản xuất, ngày nhập ca sản
xuất trên mỗi mẫu để tiện theo dõi, đối chiếu và quy trách nhiệm cho bộ phận
thực hiện, kiểm tra khâu cung ứng.
Hiện nay công ty có một mạng lưới cung cấp nguyên vật liệu cho sản
xuất, bảo đảm giao hàng đúng thời hạn, chất lượng đúng theo yêu cầu. Công
ty đã tạo mối quan hệ lâu dài với bên cung ứng để đảm bảo cho quá trình sản
xuất như nhà máy đường Gluco 19/5 Hà Tây, nhà máy đường Minh Dương
Hà Tây, đường kính nhập từ nhà máy lớn Biên Hoà, Vạn Phúc…Các nguyên
liệu khác như bơ, sữa, bột mỳ, phụ gia, phẩm màu từ các nước Tây Âu, Óc….
Để đảm bảo cho nhập hàng đúng yêu cầu chất lượng, bộ phận kiểm tra
chất lượng sản phẩm (KCS) và bộ phận nghiên cứu sản phẩm đều kiểm tra
qua bước phân tích nguyên liệu và nấu thử sản phẩm trước khi nhập lô hàng.
Công ty có biện pháp kết hợp với nhà cung ứng nh sau :
- Công ty yêu cầu bên cung ứng gửi mẫu giới thiệu sản phẩm và các
thông tin về đặc tính sản phẩm kèm theo.
- Bộ phận thí nghiệm thử mẫu trên sản phẩm của bánh kẹo.
- Bộ phận KCS nhận xét, đánh giá
- Nếu NVL đạt yêu cầu cả hai về chỉ tiêu lý hoá và sản phẩm nấu thử, bộ
rõ hình không, trọng lượng viên kẹo, bánh có đúng không?), trạng thái, mùi
vị, màu sắc… Sau đó cho điểm và ghi vào sổ để theo dõi. Sản phẩm đạt 16
điểm trở lên thì đạt tiêu chuẩn chất lượng và người thực hiện sản phẩm đó sẽ
được thưởng hay ngược lại, sản phẩm không đủ điểm sẽ được xem xét, sửa
chữa và người thực hiện sẽ bị phạt vào thu nhập hàng tháng. Sau đó các mẫu
sẽ được phân tích theo các chỉ tiêu lý hoá, vệ sinh thực phẩm nh quy định
trong tiêu chuẩn.
Sản phẩm sản xuất xong đủ tiêu chuẩn sẽ được bảo quản trong các thùng
cacton. Trước khi xuất xưởng, sản phẩm được kiểm tra lần nữa để đảm bảo
sản phẩm đến tay người tiêu dùng có chất lượng.
Cán bé KCS cũng thường xuyên thu thập các mẫu bánh kẹo đang được
bày bán ở các đại lý, cửa hàng bán lẻ để phân tích kiểm tra. Nhờ có sự kiểm
tra này, Công ty biết được và tuyền truyền cho các đại ký tiêu thụ sản phẩm,
các cửa hàng bán lẻ bằng cách thức nào để bảo quản và giữ được chất lượng.
Cũng nhờ hoạt động này Công ty đã phát hiện ra các hàng giả, hàng nhái sản
phẩm của Công ty. Hiện nay cán bộ KCS cùng với lãnh đạo đang tìm cách
ngăn chặn các loại bánh kẹo giả, hàng nhái sản phẩm. Từ đó cán bộ CL đưa ra
những đặc điểm khác biệt và dễ nhận biết sản phẩm của Công ty, cố gắng
thay đổi mẫu mữa, hình dạng gây khó khăn cho việc làm hàng giả, mặt khác
phối hợp với ban quản lý thị trường thu hồi các hàng giả đó.
4.5. Kiểm tra chất lượng trong khâu bảo quản
Mặc dù trong những năm gần đây số lượng bánh kẹo tồn đọng Ýt, nhưng
do tính chất thời vụ nên khoảng thời gian trước tết nguyên đán, tết trung
thu…cần có nhiều bánh kẹo tiêu thụ phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ của thị
trường. Công ty phải tập trung sản xuất nên khâu bảo quản, quản lý sản phẩm
không kém phần quan trọng. Ngoài việc đáp ứng nhu cầu nhà kho thông
thoáng, cách xa mặt đất, xa tường thì công tác quản lý sản phẩm cần tìm biện
pháp sắp xếp hợp lý, các hộp bánh kẹo được xếp thành hàng nối không chồng
chất lên nhau quá nhiều để đảm bảo bánh kẹo không dập nát.
Để đảm bảo khâu này bộ phận KCS có nhiệm vụ :
ty. Thu nhập bình quân đầu người của cán bộ công nhân viên trong Công ty là
800000 đồng/ háng, một tỷ lệ tương đối cao đối với Công ty Nhà nước nói
chung. Ngoài ra, Công ty còn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội
cho người lao động góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia
đình, tạo tâm lý yên tâm làm việc, cống hiến cho công ty của người công
nhân. Đồng thời thực hiện đầy đủ các quy chế về an toàn lao động và vệ sinh
thực phẩm.
Công ty cũng luôn quan tâm tới đời sống của cán bộ công nhân viên.
Thường xuyên tổ chức những buổi giao lưu dã ngoại, lien hoan để mọi người
gần gũi nhau hơn. Công đoàn chịu trách nhiệm tổ chức các cuộc thăm viếng,
lễ hỏi khi cán bộ của Công ty gặp chuyện vui hay buồn. Đó là phong cách
lãnh đạo của các nhà quản trị trong Công ty. Ở đây công ty đã áp dụng phong
cách lãnh đạo dân chủ một cách thành công. Chính nó đã phát huy tính sáng
tạo của mỗi thành viên trong công ty.
III. Thực trạng công tác nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tăng khả
năng cạnh tranh của Công ty bánh kẹo Hải Hà.
1. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng của Công ty
Bất kỳ sản phẩm nào cũng có hệ thống chỉ tiêu chất lượng cho sản phẩm
đó. Sản phẩm bánh kẹo thuộc sản phẩm thực phẩm nên để đánh giá chất
lượng của sản phẩm phải dựa trên các chỉ tiêu lý hoá, chỉ tiêu vệ sinh. Ngoài
ra ta còn phải dựa vào cảm quan để đánh giá. Nếu tất cả các chỉ tiêu đó đều
đạt thì sản phẩm mới được coi là đạt yêu cầu về chất lượng.
Công ty bánh kẹo Hải Hà dựa trên tình hình nghiên cứu thị trường và
tình hình sản xuất kinh doanh, dựa trên tình hình máy móc thiết bị, nguyên
vật liệu, tay nghề của công nhân đã xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất
lượng, chỉ tiêu chất lượng Nhà nước và đăng ký với Tổng cục đo lường chất
lượng, được tổng cục đo lường chất lượng cho phép sản xuất các loại bánh
kẹo theo tiêu chuẩn đã đăng ký.
Biểu : Các chỉ tiêu lý hoá của bánh
Tên chỉ tiêu Mức
6. Nấm mốc sinh độc tố Không được có
7. Tổng số nấm men, con/g, không lớn hơn 10
2
8. Thời gian bảo hành, ngày 120
Biểu : Các chỉ tiêu lý hoá của kẹo
Tên chỉ tiêu Mức
Kẹo cứng có
nhân
Kẹo mềm
hoa quả
Kẹo dẻo
1. Độ Èm, % 2 –3 6, 5 – 8,0 10 –12
2. Hàm lượng đường khử, % Vá : 15 –18 18 – 25 35 - 45
3. Hàm lượng đường toàn phần, %
≥ 40 ≥ 40 ≥ 40
4. Hàm lượng tro không tan trong
HCl 10%, %, không lớn hơn
0,1 0,1 0,1
Các chỉ tiêu cảm quan của kẹo
Tên chỉ tiêu YÊU CẦU
Kẹo cứng có nhân Kẹo mềm hoa
quả
Kẹo dẻo
1.Hình dạng
bên ngoài
Viên kẹo có hình
nguyên vẹn không
bị biến dạng, nhân
không bị chảy ra
bị hồi đường
Dợo, mềm, hơi dai,
khônh dính răng
4. Mầu sắc Vỏ : Màu vàng,
trong nhân màu đặc
trưng theo tên gọi
của tên kẹo
Màu đặc trưng
theo tên gọi
Kẹo trong, có màu
sắc đặc trưng cho
từng loại
5. Tạp chất Không có Không có Không có
Chỉ tiêu vệ sinh của kẹo
Tên chỉ tiêu Mức
1. Vi khuẩn gây bệnh Không được có
2. Nấm mốc sinh độc tố Không được có
3. Ecoli Không được có
4. Clferpringens Không được có
5. Tổng số VK hiếu khí, con/g, không lớn hơn 5.10
3
6. Coliforms, con/g, không lớn hơn 5.10
3