Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc nâng cao năng suất, cải tiến tiềm năng di truyền là vấn đề hàng
đầu trong phát triển nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng. Tuy nhiên,
trong công tác cải tạo giống cổ truyền chủ yếu sử dụng phương pháp lai tạo và
chọn lọc để cải tạo nguồn gen của vật nuôi nên còn tồn tại nhiều hạn chế (con
lai thu được qua lai tạo và chọn lọc vẫn còn mang cả các gen không mong
muốn…). Vậy, một câu hỏi đặt ra là làm sao để tạo được những giống vật
nuụi cú năng suất cao, phẩm chất tốt và những giống vật nuôi mang nhưng
gen mong muốn (gen mã hóa những protein dược liệu quý, gen có khả năng
chống chịu tốt ) [2],[9]?
Gần đây, nhờ những thành tựu trong lĩnh vực ADN tái tổ hợp, công
nghệ chuyển gen ra đời đã cho phép khắc phục những trở ngại nói trên. Nó
cho phép chỉ đưa những gen mong muốn vào vi sinh vật, thực vật và động vật
để tạo ra những giống sinh vật có đặc tính mới. Việc chuyển gen không chỉ
dừng lại ở việc sử dụng nguồn gen cùng loài mà còn có thể đưa gen của loài
này vào loài khác. Kể từ những năm 1970, các nhà khoa học đã có thể chuyển
một gen lạ vào vi khuẩn và bắt nó biểu hiện. Ở động vật, quá trình chuyển gen
tương đối phức tạp nhưng trong những năm gần đây cũng đã thu được nhiều
thành tựu đáng kể.
Trong hướng này các nhà nghiên cứu tập trung vào những mục tiêu: tạo
ra động vật chuyên sản xuất protein quý phục vụ y học; tạo ra động vật có sức
chống chịu tốt, có tốc độ lớn nhanh, hiệu suất sử dụng thức ăn cao, cho năng
suất cao và chất lượng sản phẩm tốt Ðộng vật chuyển gen còn được sử dụng
làm mô hình thí nghiệm nghiên cứu các bệnh ở người để nhanh chóng tìm ra
các giải pháp chẩn đoán và điều trị các bệnh hiểm nghèo như ung thư, AIDS,
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
3
đưa những động vật chuyển gen vào sản xuất. Hiện nay, ở Việt Nam chưa có
công trình nào công bố về chuyển gen thành công tạo gia cầm chuyển gen.
Chớnh vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thử nghiệm chuyển
gen GFP trên gà (Gallus Gallus Domesticus) sử dụng vector pT2/BH-
CVpf-SB11 bằng phương pháp chuyển gen qua tinh trùng và vi tiêm vào
phôi gà 0 giờ ấp” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
- Thiết lập quy trình chuyển vector pT2/BH-CVpf-SB11 vào phôi gà 0
giờ ấp.
- Đánh giá khả năng phát triển của phôi được tiêm vector pT2/BH-
CVpf-SB11
- Ấp nở thành công trứng gà đó tiờm vector pT2/BH-CVpf-SB11
- Hoàn thiện phương pháp chuyển gen qua tinh trùng gà
- So sánh được hiệu quả chuyển gen của phương pháp vi tiêm vào phôi
0 giờ ấp và phương pháp chuyển gen qua tinh trùng gà.
- Đánh giá được sự biểu hiện của gen chuyển ở các giai đoạn phát triển
khác nhau của phôi gà và gà sau khi nở.
- Đánh giá được sự biểu hiện của gen chuyển ở cỏc mụ khác nhau của
gà con ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
5
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình tạo động vật chuyển gen [2]
- Tách chiết, phân lập gen mong muốn và tạo tổ hợp gen biểu hiện trong tế
bào động vật
- Tạo cơ sở vật liệu biến nạp gen
Ở động vật có vú thì giai đoạn biến nạp gen thích hợp nhất là trứng ở
giai đoạn tiền nhân. Ở giai đoạn này, tổ hợp gen lạ có cơ hội xâm nhập vào
genome của hợp tử và phân chia cho các tế bào con làm tăng khả năng mang
gen của tế bào sinh dục.
- Chuyển gen vào động vật
Hiện nay có nhiều phương pháp khác chuyển gen nhau đang được sử
dụng để tạo động vật chuyển gen: vi tiêm, chuyển gen bằng cách sử dụng các
tế bào gốc phôi, chuyển gen bằng cách sử dụng vector virus, xung điện,
chuyển gen qua tinh trùng, chuyển gen vào trứng mới thụ tinh (hình 1.2)
- Nuôi cấy phôi trong ống nghiệm và chuyển vào tử cung cơ thể mẹ (đối với
động vật bậc cao)
- Kiểm tra động vật được sinh ra từ phôi chuyển gen
- Tạo nguồn động vật chuyển gen một cách liên tục [2].
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
6
Hình 1.2: Một số phương pháp chuyển gen ở động vật [2]
A: Chuyển gen nhờ retovirus; B: Chuyển gen bằng phương pháp vi tiêm
1.1.2. Ứng dụng của động vật chuyển gen
a. Trong nghiên cứu cơ bản
Chuyển gen là một công cụ lý tưởng cho việc nghiên cứu thuộc nhiều
cho các bệnh nhân mắc các bệnh như tim, gan, thận… Ðộng vật chuyển gen
còn được sử dụng làm mô hình thí nghiệm nghiên cứu các bệnh ở người để
nhanh chóng tìm ra các giải pháp chẩn đoán và điều trị các bệnh hiểm nghèo
như ung thư, AIDS, thần kinh, tim mạch [19]
Liệu pháp gen người bao gồm cả việc thêm một bản sao gen bình thường
(gen chuyển) vào genome của một người mang các bản sao gen có thiếu sót
để chữa các bệnh di truyền ở người.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
8
Trong kỹ nghệ dược phẩm, động vật chuyển gen được sử dụng để sản
xuất protein dược phẩm, thuốc chữa bệnh (hình 1.4) [2],[24].
Hình 1.4: Sơ đồ quy trình tạo động vật chuyển gen sản xuất protein thông qua
tuyến sữa [2].
1.1.3. Khả năng ứng dụng tại Việt nam
Động vật chuyển gen đã và đang trở thành một xu hướng nghiên cứu và
phát triển. Việc nghiên cứu và tạo động vật chuyển gen để tạo ra các dược
phẩm, sản xuất các protein quý và các sản phẩm của chúng đang thực hiện ở
nhiều nước trên thế giới. Việc chuyển gen vào động vật hiện nay đang gặp
những rào cản về pháp lý và đạo đức. Nhiều người lo sợ rằng tạo động vật
chuyển gen đe dọa phá vỡ sự cân bằng hệ sinh thái hoặc động vật chuyển gen
có khả năng sinh sản thấp, nếu lai với động vật tự nhiên có thể làm giảm khả
năng sinh sản, giảm số lượng, đe dọa sự tồn tại của loài. Một số trường hợp
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
9
động vật chuyển gen có khả năng kháng bệnh kém hoặc có biểu hiện bệnh lý.
1.2.1. Sự phát triển của phôi gà
1.2.1.1. Sự phát triển phôi trước khi đẻ
1.2.1.1.1. Thụ tinh
Quá trình thụ tinh xảy ra ở phần trên của ống dẫn trứng. Khi trứng rụng
được hứng vào phễu của ống dẫn trứng. Tại đây, tinh trùng đến và xâm nhập
vào tế bào trứng.
1.2.1.1.2. Sự phân cắt
Hình 1.5: Quá trình phân cắt trứng và tạo phôi nang ở gà [41]
Trứng gà thuộc loại đoạn noãn hoàng (teloleciathal) có nghĩa là noãn
hoàng tập trung ở cực thực vật của trứng cũn nhõn và tế bào chất tinh khiết ở
cực động vật. Phân cắt ở phôi gà là dạng phân cắt đĩa (phân cắt không hoàn
toàn) (hình 1.5). Noãn hoàng không phân cắt và không có cấu tạo tế bào, còn
đĩa phôi phân chia tạo thành một cụm hình đĩa các tế bào nhỏ nằm bên trên
khối noãn hoàng. Sự phân cắt bắt đầu từ trung tâm của đĩa phôi và cỏc rónh
phân cắt dần dần phân chia vùng này ra thành các tế bào [5],[26].
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
11
1.2.1.1.3. Giai đoạn tạo phôi nang
Vào lúc trứng được đẻ ra, ở đĩa phôi xuất hiện 2 vựng riờng biệt: Vựng
sáng (area pellucida) chủ yếu là từ các tế bào trung tâm của đĩa phôi. Vùng
mờ (area opaca) tạo nên do các tế bào ở vùng rìa. Ngay sau đó các tế bào
vựng rìa phớa đuụi của đĩa phôi di cư về phía đầu nhập với các tế bào di cư từ
phía trên tạo thành lá dưới thứ cấp. Xoang giữa lỏ trờn và lá dưới gọi là xoang
phôi nang [5].
1.2.1.2. Sự phát triển phôi gà sau khi đẻ và được ấp
1.2.1.2.1. Giai đoạn tạo phôi vị
Tạo phôi vị ở gà là quá trình di chuyển các cụm tế bào hoặc các khu
một buồng trứng và một ống dẫn trứng:
* Buồng trứng:
Hình 1.7: Cấu tạo buồng trứng gà [52]
1: nang trứng chín; 2: nang trứng non
- Buồng trứng là một cụm các nang trứng. Khi gà nở buồng trứng chứa
vài ngàn trứng nhỏ, mỗi trứng trong nang riêng của mình.
- Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào tuổi gà, buồng
trứng gà giống như một chùm nho với các nang trứng ở các giai đoạn phát
triển khác nhau.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
13
* Tế bào trứng:
Trứng gà là một tế bào khổng lồ chứa rất nhiều noãn hoàng, đú chớnh
là khối lòng đỏ. Lòng đỏ có cấu tạo phân lớp, một lớp noãn hoàng nhạt rồi
đến một lớp noãn hoàng sẫm đồng tâm kế tiếp nhau. Nhân của trứng nằm ở
phần tế bào chất tinh khiết tạo thành một đĩa có tỉ lệ rất nhỏ so với khối noãn
hoàng. Bao quanh tế bào trứng có màng noãn hoàng (hình 1.8) [52].
Hình 1.8: Trứng gà nhìn dọc (A) [60] và nhìn ngang (B)[52].
* Ống dẫn trứng:
Ống dẫn trứng là một ống dài. Khi thành thục sinh dục, ống dẫn trứng
trơn, thẳng và có đường kính đồng nhất theo chiều dài ống dẫn (hình 1.9)[52].
Hình 1.9: Cấu tạo của ống dẫn trứng [52].
A
B
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
- Hình thành 2 lớp màng vỏ
- Hình thành tiếp 10% Albumin
Tử cung
10,7 cm
20, 75 giờ
- Hình thành 40% albumin, hình thành
lớp vỏ đá vôi
Âm đạo
10 cm
-
- Hình thành lớp phấn phủ lên trứng
- Trứng đi qua khi gà đẻ.
* Sự tạo trứng và tạo vỏ trứng: Sau khi giao phối, tinh trùng di chuyển
trong ống dẫn trứng, tập trung tại phần phễu. Khi trứng đi qua, một tinh trung
xuyên thủng màng noãn hoàng, gặp tế bào trứng, hoàn thành quá trình thụ
tinh. Sau đó màng noãn hoàng dầy lên, ngăn cản sự xâm nhập của các tinh
trùng khác. Quỏ trình phân cắt trứng diễn ra khi trứng di chuyển dần xuống
phía dưới. Noãn bào ở trong đoạn phễu của ống dẫn trứng khoảng 15 phút, sau
đó di chuyển xuống đoạn lòng trắng. Tại đây, hợp tử được phủ bởi 1 lớp
albumin. Sau đó hợp tử di chuyển xuống phần eo rồi đến tử cung. Khoảng 23 -
24h sau khi rụng, trứng được đẻ ra ngoài [52],[60].
1.2.2.2. Cơ quan sinh sản của gà trống và thành phần tinh dịch gà
1.2.2.2.1. Cơ quan sinh sản của gà trống
Cơ quan sinh sản gà trống gồm: tinh hoàn, hệ thống ống dẫn và cơ quan
giao phối (hình 1.10):
* Tinh hoàn: có kích thước thay đổi tùy thời kỳ hoạt động sinh dục, với
gà trống trưởng thành, thời kỳ đang hoạt động sinh dục, tinh hoàn dài khoảng
4,7 cm, rộng khoảng 2,7 cm và khối lượng khoảng 17 - 19 gram; khi thay
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
Tinh thanh gà là một dịch lỏng đặc biệt có chứa khoảng 50 - 60 chất
gồm: muối, protein, một số axit amin [1].
Trong TTNT gà cần chú ý đến thành phần chất "dịch thể trong suốt"
trong tinh thanh. Chất "dịch thể trong suốt" (do mô cương cứng của lỗ huyệt
tiết ra) được tiết vào trong tinh dịch là do khi lấy tinh, động tác ép và nặn lỗ
huyệt quá mạnh làm cho một số tiểu thể của máu, bạch huyết, các urate
trong mô cương cứng của lỗ huyệt được giải phóng ra. Chất "dịch thể trong
suốt" không gây nguy hại cho tinh trùng khi dẫn tinh bằng tinh dịch tươi, còn
khi tinh dịch có lẫn "dịch thể trong suốt" và được bảo tồn 24 giờ rồi mới dẫn
tinh thì tỉ lệ phôi sẽ giảm [1].
1.2.3. Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng gà làm đối tượng chuyển gen
Từ những đặc điểm trên, ta thấy gà có nhiều thuận lợi cho quá trình
chuyển gen, nhưng bên cạnh đó cũng có một số khó khăn:
1.2.3.1. Thuận lợi
- Thời gian thế hệ ngắn: Gia cầm nói chung và gà nói riêng có thời gian
thế hệ ngắn, tốc độ sinh trưởng cao. Khoảng cách thế hệ ở gà là 20 tuần. Khi
đó con khảm ở mức độ cao có thể tạo ra protein trong trứng của chúng. Trái
với động vật có vú phải mang thai trước khi cho sữa, gà sẽ đẻ trứng mang
protein ngay khi nó thành thục sinh dục [41].
- Năng suất trứng cao: hàng năm mỗi gà mái có thể đẻ xấp xỉ khoảng
330 quả trứng. Trứng thụ tinh rẻ và có thể bảo quản được từ 1- 2 tuần ở 15
o
C.
Tuy nhiên so với động vật có vú, thuận lợi lớn nhất của phôi gà là không cần
con mẹ để phát triển [41].
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
17
- Kích thước thích hợp cho điều khiển và dễ dàng trong quản lý đối với
đã được phát triển.
1.2.4. Lịch sử nghiên cứu gà chuyển gen
- Con gà chuyển gen đầu tiên được tạo ra lại theo phương pháp sử dụng
vector retrovirus. Thông qua sử dụng vector retrovirus (vi rút phiờn mó
ngược), trường đại học North Carolina State đã tạo ra được cỏc dũng gà
chuyển gen biểu hiện β - galactosidase. Vector này được thiết kế bởi Takashi
Mikawa [42].
- Vào giữa thập niên 1980, một nhà nghiên cứu ở Viện Sinh lý học
Ðộng vật và Di truyền ở Edinburgh đã vi tiêm ADN ngoại lai vào các tế bào
phôi gà đơn lẻ tạo ra các “gà con ống nghiệm” đầu tiên trên thế giới cho phép
các nhà nghiên cứu tạo ra “gà siêu hạng” bằng cách xen ADN ngoại lai vào
phôi [2].
- Harvey và cộng sự (2002) thuộc trường Ðại học Georgia ở Athens đã
đưa gen mó hoỏ enzyme beta-lactamase vi khuẩn vào trong phôi của gà
Leghorn trắng. Khoảng 2% cỏc phụi này đã sinh trưởng đến thành thục và đã
biểu hiện enzyme beta-lactamase trong một số tế bào. Bước tiếp theo, các nhà
nghiên cứu đã cho lai các gà bình thường với các gà trống và gà mái đã biểu
hiện beta-lactamase trong tinh trùng hay trong trứng của chúng. Thế hệ con
sinh ra đã mang các bản sao của gen beta-lactamase ở trong tất cả các tế bào
và các gen chuyển ổn định trong gà [27],[28].
- Mo Sun Kwon năm 2004 đã tạo gà chuyển gen biểu hiện protein phát
huỳnh quang tăng cường eGFP (Enhanced green fluorescent protein) nhờ sử
dụng hệ thống chuyển gen qua vector retrovirut (hình 1.11) [35].
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
19
Hình 1.11: Gà chuyển gen GFP có khả năng phát sáng dưới ánh sáng
huỳnh quang (trái) bên cạnh gà bình thường (phải) [35].
được TTNT với tinh dịch của gà trống khoẻ mạnh. Sau đó giết chết gà mái
bằng cách tiêm vào tĩnh mạch của nó chất gây mê với liều cao. Mổ bụng gà
mái đã chết và di chuyển bộ phận ống dẫn trứng chứa trứng thụ tinh không
vỏ. Sau đó đặt trứng vào các vỏ thay thế và tiêm ADN plasmid vi khuẩn vào
đĩa phôi của hợp tử (phôi 1 tế bào). Ðổ đầy vỏ trứng dung dịch nuôi cấy và
hàn gắn lại. Với 128 trứng vi tiêm, 7 gà con vi tiêm sống đến thành thục sinh
dục. Trong đó 1 gà trống đã truyền ADN plasmid vi khuẩn cho 3,4% con cái
của nó. Các gà con chuyển gen này sống đến thành thục sinh dục và được
nhân giống để sản xuất gà chuyển gen. Kết quả này chứng tỏ sự di truyền
ADN ngoại lai ổn định có thể đạt được bằng phương pháp này [2].
* Ưu điểm: Phương pháp này cho phép đưa gen vào đúng vị trí mong
muốn ở mỗi tế bào với hiệu quả tương đối cao.
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
21
* Nhược điểm: Tuy nhiên do đòi hỏi phải tinh vi, tỉ mỉ và cực kỳ chính
xác nên hạn chế số lượng tế bào vi tiêm và ngoài ra còn có thể làm tổn thương
đến tế bào phôi do tác nhân cơ học gây ra khi tiến hành vi tiêm [2].
1.5.2.2. Chuyển gen vào tinh trùng
Hiện nay có nhiều phương pháp để tạo vật nuôi chuyển gen, tuy nhiên
các phương pháp này có nhược điểm là hiệu quả thấp, chi phí cao, cần thao
tác trờn phụi ở giai đoạn sớm, và đặc biệt là có thể không an toàn khi sử dụng
retrovirus. Năm 1989, một phương pháp tạo động vật chuyển gen mới ra đời
đó là phương pháp chuyển gen qua tinh trùng - Sperm-Mediated Gene
Transfer (SMGT) [39].
* Nguyên tắc: dựa trên hoạt động của tinh trùng kết hợp với ADN ngoại
lai và chuyển chúng vào trứng (oocyte) trong thụ tinh [34]. Đã có nhiều
nghiên cứu tạo động vật chuyển gen thành công nhờ phương pháp này như ở
bò, lợn, cừu và cá. ADN ngoại lai sẽ kết hợp với phần đầu của tinh trùng ở
nguyên sinh chất của tinh trùng. ADN ngoại sinh gây ra hoạt tính ADNse ở
tinh trùng đó tỏch chiết ra. Có thể giải thích hiện tượng này là ADNse một
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
23
phương tiện để bảo vệ tinh trùng tránh khỏi sự nhiễm ADN ngoại sinh trên
đường từ mào tinh hoàn đến tế bào trứng [2].
* Ưu điểm: Lợi ích lớn nhất của công nghệ SMGT là hiệu quả chuyển
gen cao, giá thành thấp và dễ sử dụng so với các phương pháp khác. Hơn nữa,
SMGT không đòi hỏi các thao tác trờn phụi và các thiết bị đắt tiền. Sự tuyệt
vời của SMGT là sử dụng vector tự nhiên (natural vector) để làm phương tiện
chuyển gen - tinh trùng [34].
* Nhược điểm: Tuy nhiên, tinh trùng trưởng thành có genome bất hoạt
không có khả năng tái bản và có sự bảo vệ tự nhiờn chống lại sự xâm nhập
của ADN ngoại lai (ADN của nó được bao phủ bởi protamine làm cho ADN
ngoại lai rất khó đi vào trong genome tinh trùng) nên hiệu quả chuyển gen
còn thấp [39],[40].
Các thử nghiệm để tăng khả năng xâm nhập của ADN vào tinh trùng đã
được thực hiện. Sử dụng xung điện hoặc chuyển nhiễm với các tác nhân hóa
học đã làm tăng sự hấp thu ADN vào tinh trùng hoặc rửa tinh trùng bằng các
chất tẩy nhẹ, giúp cho ADN ngoại lai đi vào tinh trùng dễ dàng hơn. Tuy
nhiên, sau đó tinh trùng mất hoặc giảm khả năng thụ tinh cho tế bào trứng. Do
đó, một phương pháp mới ra đời là phương pháp chuyển gen sử dụng
liposome.
1.2.5.3. Chuyển gen qua liposome
Vào thập niên 1980, liposome nhân tạo đã được sử dụng để đưa ADN
vào tế bào. Lipid với toàn bộ lưới tích điện dương ở pH sinh lý là thành phần
lipid tổng hợp phổ biến nhất của liposome được phát triển cho chuyển gen.
Phần cation của phân tử lipid kết hợp với ADN tích điện âm và kết quả là
hiệu với bề mặt của liposome đích [2].
Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Nguyễn Thị Hồng Hạnh Cao học K17 – Sinh học
25
Lipofectamin
TM
2000 là một dạng liposome được dựng khỏ phổ biến
trong kĩ thuật chuyển gen. Khi trộn với ADN, các hạt lipit tích điện dương
này tạo thành 1 lớp bao quanh ADN, hình thành phức hệ ADN - lipofectamin
mang điện tích dương. Phức hệ này gắn với đuôi axit salic tích điện õm trờn
bề mặt tế bào và do đó kích thích sự vận chuyển ADN qua màng tế bào.
Để tận dụng những ưu điểm và khắc phục những hạn chế của phương
pháp chuyển gen qua tinh trùng và chuyển gen nhờ liposome, người ta đã đề
xuất phương pháp chuyển gen qua tinh trùng nhờ liposome.
1.2.6. Ứng dụng của gà chuyển gen
Gà mái và trứng của chúng đang được sử dụng như là các nhà máy sản
xuất protein và kháng thể. Các nhà khoa học đã tạo ra gà chuyển gen có thể
sản xuất protein trong trứng. éõy là một bước quan trọng để tiến đến mục tiêu
nhân giống gà mái có thể đẻ những “quả trứng vàng” mà thuốc được đóng gói
trong đó. Gà cũng sản xuất được nhiều protein, hàng năm mỗi gà mái có thể
đẻ xấp xỉ khoảng 330 quả trứng chứa 6,5 gam các protein khác nhau. Hướng
nghiên cứu tiếp theo mà các nhà khoa học đang tập trung vào là chuyển các
gen mó hoỏ cỏc protein sử dụng cho chữa bệnh và phát triển các phương pháp
để tạo ra nhiều protein ngoại lai duy nhất trong cỏc mụ đặc biệt [41]. Nghiên
cứu gà chuyển gen đang được sử dụng để:
- Chế tạo vaccin [47].
- Sản xuất kháng thể trong trứng [32].
- Sản xuất protein tái tổ hợp lactoferrin và lysozym [47].
- Sản xuất kháng thể chống ung thư ở người.