Mô hình thị trường tiền tệ của các nước trên thế giới, mô hình thị trường tiền tệ của Việt Nam hiện tại và tương lai - Pdf 24

Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam
Học Viện Ngân hàng
* * *
BÀI THẢO LUẬN
Mô hình thị trường tiền tệ của các nước trên thế giới, mô
hình thị trường tiền tệ của Việt Nam hiện tại và tương lai.
Giảng Viên : T.S Hà Thị Sáu

Nhóm I- NHH/K10
1. Vũ Thị Dịu
2. Trần Thị Dung
3. Trần Thanh Giang
4. Nguyễn Thị Loan
5. Vũ Thị Phương Huyền
6. Nguyễn Thị Hải Ngọc
7. Nguyễn Thị Nhung
8. Nguyễn Thị Hồng Phúc
9. Nguyễn Duy Thuyết
10.Lê Thị Vân
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng

MỤC LỤC
Phần I. Mô hình thị trường tiền tệ của một số nước trên thế giới:
I. Mô hình thị trường tiền tệ Mỹ………………………… ………
II. Mô hình thị trường tiền tệ Nhật Bản……………………………
III. Mô hình thị trường tiền tệ Trung Quốc…………………………
IV. Mô hình thị trường tiền tệ Singapo……………………………
Phần II. Mô hình thị trường tiền tệ của Việt Nam
I. Mô hình về thị trường tiền tệ của Việt Nam và các giao dịch trên thị

Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
1.3.Các hoạt động trên thị trường tiền tệ Mỹ:
*) Kiểm soát cung ứng tiền tệ :
Cục dự trữ liên bang kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạt động thị trường
mà qua đó Fed mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, giấy tờ có giá. Những tổ chức tham gia
mua bán với Fed gọi là người giao dịch ưu tiên (primary dealers). Tất cả hoạt động thị trường
của Fed ở Hoa Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang
khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên bang gần mới tỷ lệ mục
tiêu.
Biểu đồ: Lạm phát ở Hoa Kỳ thời gian 1914-2006
*). Thỏa Thuận mua lại :
Thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay có thế chấp. Để đảm bảo những thay
đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc tạm thời, bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự
trữ liên bang New York tham gia các thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch ưu tiền. Các
mua bán chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có đảm bảo của Fed. Trong ngày giao dịch,
Fed sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp (là các giấy tờ chứng nhận
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, v.v ). Khi hết hạn giao dịch, quá trình diễn ra ngược lại Fed
hoàn lại chứng khoán và nhận lại tiền cùng lãi. Thời hạn giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày
(cho vay qua đêm) tới 65 ngày, phần lớn giao dịch là cho vay qua đêm và 14 ngày.
Bởi các giao dịch làm tăng quỹ dự trữ của ngân hàng trong thời gian ngắn, chúng tăng nguồn
cung tiền tệ. Hiệu quả của hoạt động này là tạm thời bởi các giao dịch sẽ đáo hạn, tác động dài
hạn là dự trữ ngân hàng giảm đi bởi lãi suất của giao dịch (lãi suất một ngày của tỷ lệ 4,5%/năm
là 0,0121%). Fed tiến hành giao dịch này hàng ngày trong 2004-2005, ngoài ra giao dịch thu hút
vốn cũng tiến hành nhằm tạm thời giảm nguồn cung tiền tệ.
Trong giao dịch thỏa thuận bán lại (reverse repo), Fed sẽ vay tiền từ các người giao dịch ưu tiên
bằng cách đặt cọc các chứng khoán chính phủ. Khi giao dịch đáo hạn, Fed sẽ hoàn trả tiền và
các khoản lãi.
*) Giao dịch Mua đứt :

giao
dịch
Chứng
khoán
Người giao dịch
ưu tiên
Các thành viên TTTT khác
Cục dự trữ liên bang Mỹ- FED
(các NH Dự trữ liên bang)
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
Hiện tại, hệ số độc lập của BOJ được đánh giá ở mức 2,5 (thấp hơn nhiều so với Thụy Sỹ,
Đức (4) và Mỹ (3,5) - (Alesina & Summers 1993). Điều này khẳng định BOJ không phải là một
ngân hàng có được sự độc lập tuyệt đối. Theo đó, về mặt cấu trúc, hạn chế lớn nhất là việc BOJ
“trực thuộc” Bộ Tài chính Nhật Bản. Do đó, đây không phải là mô hình phù hợp để chúng ta đi
theo.
Tuy nhiên, quá trình cải cách, mà đặc biệt là việc sửa đổi Luật BOJ năm 1997 đã đưa lại
cho ngân hàng này một số đặc điểm quan trọng như tính độc lập và sự minh bạch; và đây chính
là điều có thể gợi cho chúng ta những ý tưởng trong quá trình sửa đổi Luật NHNN.
Về tính độc lập của BOJ, xin phân tích dưới bốn khía cạnh: mục tiêu, công cụ, tài chính
và nhân sự.
Về mục tiêu: Từ bỏ mục tiêu không rõ ràng trong luật cũ là “tối đa hóa tiềm năng của nền
kinh tế”, luật mới khẳng định: “BOJ có quyền tự chủ về tiền tệ và kiểm soát tiền tệ” (điều 3) và
mục tiêu tối cao là ổn định giá cả (price stability) (điều 2). Đây cũng chính là mục tiêu phổ biến
nhất mà các ngân hàng trung ương trên thế giới đang theo dõi. Việc luật hóa mục tiêu một
cách rõ ràng, nhất quán này nhằm hạn chế việc chính phủ can thiệp.
Về công cụ và ra quyết định thực thi chính sách tiền tệ: Để ra các quyết định liên quan
đến thực thi chính sách tiền tệ, luật cho phép BOJ thiết lập một Hội đồng chính sách với 9 thành
viên bao gồm thống đốc, hai phó thống đốc, và sáu thành viên khác (không nhất thiết là người
của ngân hàng trung ương và điểm quan trọng nhất ở đây là không cho phép đại diện của chính
phủ trong hội đồng này). Các thành viên trong hội đồng sẽ bầu ra một người làm chủ tịch. Hội

Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Trụ sở Ngân hàng Trung ương
Nhật Bản ở Tokyo.
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
Về lý thuyết khi ngân hàng trung ương một quốc gia thực hiện chính sách nới lỏng tiền
tệ, “bơm” tiền ra lưu thông làm tăng cung tiền tệ sẽ góp phần giảm giá trị của đồng tiền đó. Tuy
nhiên, với đồng yen thì những biện pháp trên lại có tác dụng ngược lại.
Một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng này đó chính là hoạt động “carry trade”
đồng yen ngày càng gia tăng.
Mô hình tiền tệ Nhật Bản
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Sở giao
dịch chứng
khoán Nhật
Bản
Thành viên
khác của
TTTT

Bộ tài
chính Nhật
Bản
NHTW
Nhật Bản
( BOJ )
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
III. Mô hình thị trường tiền tệ Trung Quốc:
1. Tính pháp lý:
Hệ thống luật điều chỉnh thị trường tiền tệ Trung Quốc trước hết nó chịu sự quy định của
Luật nước Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa đã được thông qua bởi hội đồng luật pháp nhà nước.

*) Kho dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới của Trung Quốc đã vượt mốc 2.000 tỷ USD lần
đầu tiên trong lịch sử. Quý 2 vừa qua, dự trữ này đã gia tăng với tốc độ kỷ lục 178 tỷ USD.
Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên đã loại trừ khả năng
nước này thay đổi cách thức quản lý kho dự trữ ngoại hối. “Với quy mô khổng lồ của kho dự
trữ ngoại hối hiện nay, chắc chắn Trung Quốc sẽ tiếp tục đầu tư vào trái phiếu kho bạc Mỹ. Sự
đa dạng hóa kênh đầu tư sẽ diễn ra với tốc độ chậm, trong đó các loại hàng hóa cơ bản là một
lựa chọn được ưu tiên”, nhà kinh tế Ken Peng thuộc ngân hàng Citigroup tại Bắc Kinh nhận xét.
Trong vòng hai năm rưỡi trở lại đây, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã tăng gấp đôi,
một phần nhờ mức thặng dư thương mại khổng lồ của nước này. Hiện tại, dự trữ ngoại hối của
Trung Quốc đang lớn gấp đôi của Nhật Bản – quốc gia có dự trữ ngoại hối lớn thứ hai thế giới.
Trung Quốc đang chiếm tới 29% tổng dự trữ ngoại hối toàn cầu.
Theo các chuyên gia, sự gia tăng trong dự trữ ngoại hối của Trung Quốc trong quý 2 vừa
qua còn có thể bắt nguồn từ sự gia tăng giá trị của những tài sản không phải là USD, do sự suy
yếu của tỷ giá USD, và các dòng vốn đầu cơ đổ vào nước này.
Tuần trước, hai đợt đấu giá trái phiếu Chính phủ Trung Quốc đã không thể thu hút đủ các
nhà đầu tư chào mua vì giới đầu tư lo ngại Ngân hàng Trung ương nước này sẽ sớm thắt chặt
chính sách tiền tệ
3. Vai trò của ngân hàng trung ương:
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
Chính sách tiền tệ của Trung Quốc vẫn khá là phức tạp bởi cơ chế tỷ giá hối đoái hiện tại,
đặc biệt là khi điều này khiến kinh tế Trung Quốc dịch chuyển dần theo hướng lãi suất thực âm.
Những cam kết đối với hình thức phát triển hiện tại đang làm hệ thống tín dụng Trung Quốc
xung khắc với việc ổn định giá cả hàng hóa và tài sản, không như Mỹ những năm 1920 và Nhật
Bản những năm 1980.
Ngân hàng trung ương Trung Quốc có một lợi thế hơn hẳn Cục Dự trữ liên bang Mỹ
(Fed). Giám đốc Ben Bernanke và đồng nghiệp của ông có thể in rất nhiều tiền (và họ đã làm
như vậy), nhưng họ hầu như không thể làm gì để đẩy nhanh tốc độ sinh lợi của đồng tiền.
Đơn giản là họ không thể ép các ngân hàng cho vay nếu không quốc hữu hóa chúng
(nhưng chỉ các doanh nghiệp của chính phủ là đã được quốc hữu hóa). Họ cũng không thể ép

Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
Singapore là 1 nước có mô hình ngân hàng trung ương trực thuộc chính phủ,tức là mô hình mà
trong đó NHTW nằm trong nội các chính phủ và chịu sự chi phối của chính phủ về nhân sự,tài
chính và các quyết định liên quan đến việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ.Đa số các
nước Đông Nam Á đều áp dụng mô hình này
Ưu điểm của mô hình:chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ
chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của tổng
thể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ.Mô hình này được xem là phù
hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềm năng xây dựng kinh tế trong thời kỳ
tiền phát triển
Nhược điểm của mô hình:NHTW mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.Sự
phụ thuộc vào chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình là ổn định
quản trị tiền tệ,góp phần tăng trưởng kinh tế.
2.2.Cơ quan quản lí tiền tệ(MAS)
Trước năm 1970, chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ được thực hiện bởi một số cơ
quan chức năng khác nhau. Sau đó, Luật Cơ quan tiền tệ Singapore chính thức được Quốc hội
thông qua vào năm 1970, đã thành lập ra Cơ quan tiền tệ Singapore (MAS). Tháng 1/1971,
MAS bắt đầu đi vào hoạt động với mục đích ban đầu là cơ quan quản lý thị trường tiền tệ và
ngân hàng Singapore.Cơ quan tiền tệ Singapore chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ thị trường tài
chính tại Singapore (tháng 4/1977, nhiệm vụ quản lý ngành bảo hiểm được trao cho MAS, và
tháng 9/1984, nhiệm vụ quản lý ngành chứng khoán thuộc về MAS, đến tháng 10/2002, MAS
bắt đầu thực hiện chức năng phát hành tiền).
MAS chịu trách nhiệm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững không lạm phát; đảm bảo hệ
thống tài chính tiến bộ và phát triển lành mạnh.
2.3.Các ngân hàng thương mại
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
Đến cuối thập niên 80,Singapore đã có hơn 200 ngân hàng thương mại(commercial
bank),nhân hàng dich vụ thương mại(merchant bank),với vốn tự có lên đến 200-300 ty
USD.Đến giữa thập niên 90,Singapore đã có trên 140 ngân hàng thương mại sau giai đoạn cải

động (ATM)
Bạn nên mở tài khoản tiết kiệm hay tài khoản vãng lai khi đến sống tại Singapore
và bạn sẽ cần có khoản tiền đặt cọc tối thiểu trong tài khoản (thường là $100) nếu dưới 21 tuổi
và có Hộ chiếu và Thị thực Sinh viên/ Thư chấp nhận học của trường. Ngay sau khi mở tài
khoản, bạn sẽ được cấp thẻ ATM, thẻ này mang đến cho bạn sự tiện ích là có thể rút tiền mặt từ
bất cứ máy rút tiền tự động ATM nào trong hệ thống ngân hàng của bạn. Thẻ ATM cũng cho
phép bạn có thể thanh toán qua hệ thống NETS (hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt của
Singapore).
Hiện ngân hàng DBS là ngân hàng lớn nhất Singapore
2.4.Các tổ chức tài chính phi ngân hàng:
Hiện nay Singapore có 3 công ty tài chính,144 công ty bảo hiểm.62 công ty môi giới bảo
hiểm,91 công ty quản lý quỹ,68 công ty môi giới chứng khoán,58 công ty tư vấn tài chính,37
công ty môi giới tương lai
3.Hàng hóa giao dịch trên thị trường:
3.1.Tiền tệ:
- Hệ thống tiền tệ mà Singapore sử dụng là đồng đô la và xu Singapore. Bên cạnh đó,
đồng đô la Mỹ và Úc, đồng Yên Nhật và Bảng Anh cũng được chấp nhận rộng rãi ở các khu
mua sắm và các nhà hàng chính.
- Đô la Singapore (SGD) là tiền tệ của Singapore. Nó thường được viết tắt với ký hiệu
đô la là $, hoặc viết cách khác S$ để phân biệt nó với các đồng tiền có tên gọi đô la khác. Đồng
đô la Singapore được chia ra thành 100 cent.
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
- Đô la Singapore là một đồng tiền tự do chuyển đổi và điều này cho phép nó được thả
nổi theo cung và cầu trên thị trường ngoại hối, nhưng nó cũng được Cục Tiền tệ Singapore giám
sát dựa vào một rổ tiền tệ theo tỷ trọng thương mại. Các đồng tiền liên quan không được công
khai để bảo vệ đồng tiền này khỏi các cuộc tấn công đầu cơ và các áp lực bất thường khác lên
giá trị của nó
5.Mô hình
Sơ đồ về hoạt động của mô hình tttt Singapore

1. Hệ thống các ngân hàng trung gian (chủ yếu là các NHTM):
*) Trong hệ thống các TCTD đang tham gia thị trường tiền tệ ở Việt Nam hiện nay:
- Có khoảng trên 96 ngân hàng trung gian tham gia trên thị trường tiền tệ, bao gồm:
+ 5 ngân hàng thương mại nhà nước:
+ 41 NHTM cổ phần ( trong đó có NHTMCP Ngoại thương và Công thương)
+ 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài
+ 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài
+ 5 Ngân hàng liên doanh.
+ 5 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài
.
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
3. Các tổ chức tài chính phi ngân hàng (các trung gian tài chính phi NH)
♠ Các tổ chức trung gian tài chính phi ngân hàng cùng tham gia thị trường:
- 17 công ty tài chính như: Công ty TNHH một thành viên tài chính FPT Việt Nam, công
ty TNHH Prudential Việt Nam, công ty TNHH một thành viên Than và khoáng sản Việt Nam,
công ty Tài chính dầu khí, công ty tài chính Bưu điện, công ty tài chính cao su, công ty tài chính cổ
phần Sông Đà…
- 13 công ty cho thuê tài chính…
- Các công ty bảo hiểm nhà nước, hàng chục công ty bảo hiểm khác như: và công ty bảo
hiểm nước ngoài.
- Công ty chứng khoán và các công ty môi giới, sàn giao dịch chứng khoán như: sở giao
dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội.
- Các tổ chức tài chính phi ngân hàng hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là các luật của nhà
nước có liên quan hiện hành.
- Các hoạt động tham gia trên thị trường tiền tệ:
+ Tổ chức tín dụng được tham gia thị trường tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước tổ chức,
bao gồm thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc, thị trường nội tệ và ngoại tệ liên ngân hàng, thị
trường giấy tờ có giá khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.


hàng nước ngoài cũng đã từng bước trở thành thành viên tham gia thị trường.
IV.Những hạn chế, bất cập còn tồn tại trên thị trường tiền tệ Việt
Nam hiện nay và nguyên nhân của những hạn chế:
Bên cạnh những kết quả đạt được thì thị trường tiền tệ có những hạn chế bất cập.
Trước hết thị trường tiền tệ Việt Nam vẫn còn phát triển ở mức độ thấp, trên cả góc độ
quy mô, nhất là chủng loại hàng hoá, công cụ giao dịch trên thị trường. Thứ hai, do nhiều
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
nguyên nhân mà thị trường tiền tệ Việt Nam chưa thực sự thực hiện có hiệu quả vai trò
tiếp nhận và chuyển tải tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế.
4.1 Hạn chế về công cụ giao dịch, loại nghiệp vụ thị trường.
Theo luật NHNN giấy tờ có giá ngắn hạn được giao dịch trên thị trường gồm tín phiếu
kho bạc, tín phiếu NHNN, chứng chỉ tiền gửi và các GTCG khác. Sau đó một số điều luật
sửa đổi bổ sung luật NHNN, hiện nay danh mục GTCG có thể giao dịch trong các nghiệp
vụ thị trường tiền tệ đã được tăng cường, bao gồm cả GTCG dài hạn như các loại trái
phiếu CP. Tuy nhiên các loại GTCG có thể sử dụng trong các giao dịch trên thị trường
tiền tệ vẫn tập trung chủ yếu ở các NHTM nhà nước. Một số công cụ được sử dụng phổ
biến trên thị trường tiền tệ các nước như chứng chỉ tiền gửi còn ít được sử dụng ở Việt
Nam.
Kỳ hạn của các trái phiếu Chính Phủ, công cụ chủ yếu được sử dụng trên thị trường
tiền tệ vẫn chưa thực sự đa dạng, nhất là tín phiếu kho bạc với thời hạn dưới 364 ngày ít
được phát hành. Thậm chí hiện nay vẫn chưa có tín phiếu kho bạc kỳ hạn 1,2,3 tháng…
điều này khiến cho NHTM khó có điều kiện đầu tư vào GTCG, tạo công cụ tham gia các
nghiệp vụ thị trường tiền tệ.
4.2 Hạn chế về số thành viên tham gia trên thị trường .
- Lượng thành viên tham gia trên thị trường tiền tệ vẫn còn hạn hẹp.
- Cho đến nay lượng thành viên tham gia trên thị trường tiền tệ vẫn còn hạn hẹp.
Chẳng hạn trên thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc vẫn chủ yếu là NHTM nhà nước.
Ngoài ra có khoảng 10 NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài đã bước đầu tham gia vào nghiệp vụ này.

1.1. Mục tiêu
Ổn định và phát triển thị trường tiền tệ để thực hiện có hiệu quả vai trò điều tiết
cung cầu vốn ngắn hạn, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững phục
vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế.
1.2. Định hướng:
Để thực hiện mục tiêu trên, thị trường tiền tệ Việt Nam cần phát triển theo định
hướng sau: Phát triển thị trường tiền tệ an toàn hiệu quả, đồng bộ, mang tính cạnh tranh
cao nhằm tạo cơ sở quan trọng cho hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, huy động
và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín
dụng. Theo đó, thị trường tiền tệ sẽ phát triển mạnh trên cơ sở tổ chức lại và củng cố thị
trường liên ngân hàng với cơ chế hoạt động thông thoáng, tăng cường vai trò giám sát,
điều hành, khả năng kiểm soát, điều tiết thị trường của NHNN; phát triển thị trường đấu
thầu tín phiếu Kho bạc; tăng cường hoạt động nghiệp vụ thị trường mở, tăng số lượng và
chủng loại chứng khoán có độ an toàn và tính thanh khoản cao được phép giao dịch; tăng
cường sự liên kết giữa các thị trường tiền tệ bộ phận, giữa thị trường tiền tệ và thị trường
chứng khoán nhằm tăng tính linh hoạt của thị trường, khả năng phòng ngừa và khả năng
chuyển đổi rủi ro giữa các thị trường; hạn chế can thiệp hành chính vào hoạt động thị
trường tiền tệ.
2. Giải pháp phát triển thị trường tiền tệ
2.1 – Tháo gỡ ngay một số vướng mắc pháp lý để tạo thuận lợi cho các giao dịch trên thị
trường tiền tệ và tăng cường công cụ giao dịch thị trường:
Chia sẻ miễn phí tại: mDoko.blogspot.com
Nhóm I- NHH/K10- Học Viện Ngân Hàng
- Đề nghị Chính phủ cho phép trái phiếu đặc biệt được giao dịch trên thị trường tiền tệ
như các loại trái phiếu khác của Chính phủ.
- Đề nghị Bộ Tài chính xem xét phát hành tín phiếu, trái phiếu kho bạc với nhiều loại kỳ
hạn.
- Đề nghị NHNN bổ sung, sửa đổi một số qui định để tăng thêm tính thông thoáng cho thị
trường:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status