Chuyờn thc tp. GVHD:Th.S Hunh VitThiờn n
Lụứi Mụỷ ẹau
T my thp k nay, ci cỏch cỏc doanh nghip nh nc l mt vn c
bn v cp bỏch ca mi nn kinh t, mi quc gia trờn th gii.
T khu vc ny sang khu vc khỏc, t quc gia ny sang quc gia khỏc, ó
cú nhiu quan im v gii phỏp khỏc nhau v ci cỏch doanh nghip nh nc.
Ti i hi VIII ng ó khng nh v vic tip tc sn xut, i mi, phỏt
trin v nõng cao hiu qu DNNN. Trong ú C phn hoỏ DNNN l mt trong
nhng ni dung ch yu ca ci cỏch DNNN trong giai on hin nay.
Khi cỏc DNNN khụng cũn sc mnh chng c v trớ ch cht, tr
ct ca mỡnh thỡ c phn hoỏ l mt phng phỏp tt yu nhm nõng cao hiu
qu hot ng sn xut kinh doanh v kh nng cnh tranh ca ca doanh nghip
trong nn kinh t th trng.
C phn hoỏ DNNN l mt ch trng ca nh nc nhm huy ng vn
nhn ri trong xó hi, tng ngun vn cho cỏc doanh nghip, to ng lc mi
trong qun lý doanh nghip, gúp phn c cu li DNNN trong ton b nn
KTQD s lm lnh mnh tỡnh hỡnh ti chớnh ca DNNN, thu hỳt cỏc ngun vn
di do trong v ngoi nc, ng thi nõng cao vai trũ lm ch thc s i vi
ngi lao ng, tng sc cnh tranh ca doanh nghip cng nh i vi ton b
nn kinh t quc dõn v hiu qu sn xut kinh doanh s c nõng cao trong cỏc
Cụng ty c phn.
Tin trỡnh c phn hoỏ ó din ra hu ht cỏc b, ngnh, a phng,
Nng ch trng c phn hoỏ ca ng ó c thc hin v mang li nhiu
thnh tu. Song cng nh c nc, tin trỡnh c phn hoỏ Nng ang tin
trin cũn chm v nhiu tn ti, vng mc.
tin trỡnh c phn hoỏ din ra nh k hoch v cú nhng kt qu tt ỳng
mc tiờu trờn c nc núi chung v thnh ph Nng núi riờng ũi hi cn cú
nhng gii phỏp thit thc, hp lý thỳc y tin trong giai on hin nay,
õy l vn rt c quan tõm, cn c gii quyt nhanh chúng.
L mt sinh viờn thc tp ti s K hoch u t thnh ph Nng trong
quỏ trỡnh va hc tp kin thc trng, va tip xỳc vi thc t v nghiờn cu
Trong kinh tế nhà nước có một bộ phận là doanh nghiệp nhà nước tiến hành kinh
doanh trong các lĩnh vực khác nhau và mục tiêu cũng khác nhau. Trong điều kiện
hiện đại, sự tồn tại của khu vực DNNN là không bác bỏ, nhưng vai trò của nó đối
với nền kinh tế của các quốc gia khác nhau lại rất khác nhau.
Trên sách báo kinh tế, định nghĩa về DNNN rất khác nhau. Các định nghĩa
dựa trên các tiêu chí như mục đích, hình thức, lý do thành lập, cơ cấu tổ chức của
doanh nghiệp….
Ở Việt Nam, quan niệm về DNNN được trình bày trong luật ban hành ngày
30-4-1995. Điều 1 của luật DNNN quy định “DNNN là tổ chức kinh tế do nhà
nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt
động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao.
DDNN có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự tự chịu trách
nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do nhà nước quản
lý
2. Vai trò của khu vực DNNN trong nền kinh tế thị trường.
DNNN có một vai trò rất quan trọng, việc đánh giá vai trò quan trọng này
không chỉ dựa vào lời lỗ kinh doanh trước mắt mà phải tính đến hiệu quả kinh tế
lâu dài. Sự tồn tại của DNNN là một tất yếu khách quan và có những vai trò cụ
thể
a) Vai trò kinh tế.
Với một nước quá độ lên CNXH, vấn đề quyết định là tạo dựng đươc cơ sở
kinh tế cho sự hình thành và xác lập CNXH như một phương thức sản xuất.
Để thực hiện chiến lược tăng tốc, rút ngắn và tạo dựng cơ sở kinh tế của nhà
nước XHCN, nhà nước tất yếu phải lựa chọn giải pháp DNNN. Ở đây, việc lựa
chọn này không phải mang tính chủ quan, mà có sự quy định bản thân nền kinh
tế. DNNN có các ưu thế tuyệt đối ở thời kỳ quá độ của sự phát triển: quy mô tập
trung
vốn, tập trung sản xuất, chuyển giao công nghệ và hội nhập với nền kinh tế thế
giới. Những ưu thế này khiến cho DNNN trở thành một yếu tố quyết định trong
SVTH: Tô Bích Ngọc 3
tăng cường bố phòng ở các vùng chiến lược. Trong việc kết hợp phát triển kinh
tế với quốc phòng thì các DNNN có một vai trò quan trọng. Đây là doanh nghiệp
đặc biệt trong việc cung cấp những hàng hoá, dịch vụ cho các hoạt động quốc
phòng, mà trong điều kiện một doanh nghiệp tư nhân không thể làm được hoặc
không được phép làm, hoặc không muốn làm vì không có mức lợi nhuận hấp
dẫn.
c) Vai trò xã hội
DNNN tạo ra công ăn việc làm, giúp cho xã hội giữ được trạng thái ổn định.
Trong nền kinh tế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo là không tránh khỏi.
Một trong những nguồn gốc của quá trình này là quá trình tập trung hoá,
hiện đại hoá, và kết quả là giải phóng lao động, gây nên nạn thất nghiệp đó là
điều tất yếu. Để tạo nhiều việc làm, thì phải tạo ra những doanh nghiệp sử dụng
nhiều lao động. Từ đó DNNN giúp giải quyết thất nghiệp, tăng công ăn việc làm
và tăng thu nhập và do đó giảm sự bất bình đẳng.
SVTH: Tô Bích Ngọc 4
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
DNNN mới có đủ điều kiện thực hiện những chương trình, dự án cải thiện
những vùng kém phát triển của đất nước.
DNNN có vai trò quyết định sản xuất hàng công cộng, tăng phúc lợi tức là
tăng mức độ công bằng.
II. Cổ phần hoá DNNN nội dung tất yếu của công cuộc cải cách kinh tế ở
Việt Nam.
Các doanh nghiệp nhà nước muốn thực sự trở thành chủ thể quyền tài sản
thì phải tiến hành từ hình thức thấp của công ty sang hình thức cao là doanh
nghiệp cổ phần. Theo nghĩa thông thường, chế độ cổ phần là một hình thức tổ
chức quyền tài sản của doanh nghiệp bằng cách góp cổ phần để tập trung, sử
dụng thống nhất các yếu tố sản xuất (vốn) phân tán của những người sở hữu khác
nhau, tự chịu trách nhiệm đối với kêt quả sản xuất kinh doanh, chia lãi theo mức
lãi cổ phần. Xét về lâu dài, tuy chế độ cổ phần không phải là hình thức duy nhất,
DNNN làm ăn thua lỗ kéo dài và đăng ký lại những doanh nghiệp có đủ điều
kiện hoạt động. Đến nay DNNN vẫn nhiều về số lượng, nhỏ về quy mô và dàn
trải không cần thiết, vượt quá khả năng nguồn lực của nhà nước hiện có. Nhiều
DNNN có cùng ngành nghề giống nhau, chồng chéo nhau hoạt động trên cùng
một địa bàn. Nhiều doanh nghiệp tuy đã đăng ký lại nhưng vẫn trong tình trạng
làm ăn thua lỗ, nợ quá hạn không có khả năng thanh toán còn lớn. Nhìn chung,
trình độ công nghệ thiết bị của DNNN rất lạc hậu. Trên 80% số DNNN hiện
đang hoạt động trong điều kiện công nghệ, thiết bị lạc hậu so với các nước khác
từ 3 đến 4 thế hệ . Hơn nữa, do nhiều nguồn trang bị khác nhau (26% từ Liên
Xô cũ, 24% từ các nước Đông Âu, 20% từ các nước ASEAN) nên tính đồng bộ
kém, mức sử dụng năng lực trang thiết bị chỉ đạt 50% công suất. Trong số các
doanh nghiệp nhà nước chỉ có 25% doanh nghiệp trang bị tương đối hoàn chỉnh.
Trên 50% tài sản cố định đã hao mòn quá nửa, chỉ có 26% tài sản cố định hao
mòn dưới 30%. Do công nghệ lạc hậu, trang thiết bị cũ kỹ nên tiêu hao vật chất
lớn (năm 1988 là 59.3%), chất lượng kém, DNNN chỉ sản xuất được 30,5% giá
trị tổng sản phẩm xã hội. Chỉ khoảng 15% sản phẩm đủ điều kiện để xuất khẩu.
Có không ít DNNN cũ kỹ, rách nát, lạc hậu tồn tại một cách lay lắt và không có
khả năng đổi mới công nghệ. Nhiều DNNN ở trong tình trạng khó sắp xếp vì
sáp nhập không doanh nghiệp nào nhận, mà giải thể thì khó giải quyết chế độ xã
hội. Dẫn tới hậu quả làm ăn thua lỗ kéo dài làm mất vốn nhà nước, nợ nần
chồng chất, hàng hoá ứ đọng không tiêu thụ được. Rất nhiều trường hợp doanh
nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản nhưng cấp quản lý không tuyên bố phá
sản. Năng suất thấp, chất lượng tồi và hiệu quả kém vẫn là bức tranh đặc trưng
cho các DNNN. Các DNNN vẫn hoạt động trong môi trường tồn tại song trùng
hai cơ chế. Việc sắp xếp DNNN chưa được tiến hành thì hàng loạt các DNNN
mới được thành lập
Để thoát khỏi tình trạng khó khăn chung của doanh nghiệp hiện nay song
song với việc sắp xếp lại DNNN nhà nước cần một hình thức tổ chức mới cho
DNNN mà hình thức khả thi là cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nước
nhằm huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội, cơ cấu lại khu vực DNNN.
vô cùng nhỏ bé từ tầng lớp dân cư, đầu tư dài hạn, gắn trách nhiệm của người sở
hữu vốn với kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Thực trạng hiện tại của
các doanh nghiệp Việt Nam một vấn đề cần quan tâm đó là thiếu vốn trong các
doanh nghiệp là một khó khăn lớn cho sự hoạt động và cho sự phát triển trong
tương lai. Số vốn thực tế cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh
nghiệp hiện nay mới chỉ đạt 80% mức yêu cầu về vốn cố định, 50% yêu cầu về
vốn lưu động. Thêm vào đó tài sản cố định với số lượng nhiều nhưng đa phần là
tài sản cũ, lạc hậu và không đồng bộ trong khi đó yêu cầu đổi mới công nghệ
đang là yêu cầu cấp bách của mỗi doanh nghiệp, vì thế nhu cầu vốn của các
doanh nghiệp là rất lớn. Việc cổ phần hoá DNNN đóng góp vào giải quyết
những khó khăn về vốn từ đó hiệu quả kinh doanh không ngừng được nâng cao,
việc đổi mới công nghệ lạc hậu là công việc đương nhiên.
• Cổ phần hoá DNNN đưa người lao động lên vị thế mới, trách nhiệm mới
và quyền lợi mới tạo điều kiện cho họ làm chủ thực sự đối với doanh nghiệp.
Trong Công ty cổ phần việc góp vốn từ công nhân trực tiếp sản xuất, đến
giám đốc, đều trở thành người chủ thực sự với đồng vốn của mình và tham gia
trực tiếp hoặc gián tiếp vào phương hướng, kế hoạch và các biện pháp lớn trong
sản xuất kinh doanh của công ty với quyết tâm và ý chí là gặt hái được hiệu quả
cao nhất và tốt nhất.
Có thể khẳng định với việc cổ phần hoá DNNN, tất cả người lao động trong
doanh nghiệp bằng nguồn vốn tự có, quỹ phúc lợi của doanh nghiệp được phân
bổ… đều có thể tham gia mua cổ phiếu tại công ty. Do vậy, người công nhân
gắn bó trách nhiệm hơn với tình hình hoạt động của doanh nghiệp vì doanh
nghiệp hoạt động trong một cơ chế mới cơ chế thị trường không có sự bao cấp
của nhà nước như trước kia. Doanh nghiệp mà làm ăn có lãi và phát triển thì lợi
ích người lao động cũng tăng lên và cổ tức của họ cũng cao hơn. Trong Công ty
cổ phần quyền lợi và trách nhiệm của người lao động gắn chặt với nhau. Điều
SVTH: Tô Bích Ngọc 7
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
trung vốn giao cho người đào tạo chuyên môn, có năng lực quản ký kinh doanh
và tổ chức kinh doanh. Đó là kết quả phát triển của sự phân công xã hội, khiến
quản lý được chuyên môn hoá, trở thành một ngành nghề, có ý nghĩa quyết định
đối với việc nâng cao tố chất của doanh nghiệp, do đó cùng nâng cao năng lực
thích ứng với thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngày nay trên thị trường
cạnh tranh bằng kỹ thuật cao, trí lực cao. Chính vì vây cần lựa chọn những giám
đốc, những thành viên hội đồng quản trị tài năng và tích cực, đủ sức đảm nhiệm
SVTH: Tô Bích Ngọc 8
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
chức trách, quyền lợi và trách nhiệm của chủ sở hữu. Cần đẩy mạnh công tác đào
tạo hàng loạt các nhà doanh nghiệp, đó cũng là một điều kiện để thực hiện nhân
cách hoá tài sản công hữu.
Cổ phần hoá thích ứng được với yêu cầu tái sản xuất mở rộng, có lợi cho
việc tập trung nguồn vốn trong xã hội.
Ngày này, sự phát triển nền sản xuất hiện đại đòi hỏi phải thống nhất tập
trung vốn với tập trung kỹ thuật. Công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh
doanh huy động tập trung được nhanh số vốn với quy mô lớn và hiệu quả: bằng
việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu Công ty cổ phần có thể huy động thu hút được
những khoản tiền nhỏ bé, tản mạn nhàn rỗi trong xã hội tập trung lại thành vốn
lớn đủ sức đáp ứng nhu cầu đầu tư mà những cá nhân hoặc doanh nghiệp cá thể
không có khả năng tích luỹ được.
Hình thức công ty cổ phần giúp cho việc khơi thông nguồn vốn xuyên khu
vực, kết hợp các yếu tố sản xuất xuyên khu vực.
Xu thế cơ bản của nền sản xuất xã hội hóa là kết hợp phân công chuyên môn
hó sâu sắc với hiệp tác, liên kết, liên hợp và phối hợp rộng rãi, cho nên phải liên
hợp (theo chiều dọc) giữa các ngành nghề với nhau, thực hiện đồng bộ hoá và
thâm nhập vào nhau.
Sự liên hợp đan chéo nhau giữa chiều dọc và chiều ngang này diễn ra xuyên
khu vực, thậm chí diễn ra trên phạm vi thế giới, do vậy doanh nghiệp do một
Tóm lại, kết cấu “hỗn hợp” kinh tế nhà nước là chủ thể xen lẫn nhiều
thành phần kinh tế khác – doanh nghiệp cổ phần, là bức tranh muôn màu
muôn vẻ, đa nguyên, đan xen.
SVTH: Tô Bích Ngọc 10
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
Phần II :
Tình hình hoạt động của doanh nghiệp cổ phần hoá
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
I. Vài nét về tình hình kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng trong thời
gian qua.
Sau khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc TW Đại hội đảng bộ lần thứ
XVII (1997) đã xác định cơ cấu kinh tế Đà Nẵng là “ Công nghiệp – thương mại
- dịch vụ và thuỷ sản nông lâm”.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ năm 1996-1999 là 9,6% (cao hơn mức
trung bình của cả nước là 7,1%); trong đó GDP công nghiệp xây dựng tăng bình
quân 14,4%, GDP bình quân đầu người tăng từ 328USD năm 1995 lên 434,5
USD năm 1999. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng trọng ngành công
nghiệp xây dựng (từ 33,11% năm 1996 lên 39,42% năm 1999 và tiếp tục tăng
vào cá năm tiếp theo) giảm tương đối tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp (từ 10%
năm 1996 xuống còn 8,7% năm 1999 và tiếp tục giảm vào các năm tiếp theo.
Biểu 1: Một số chỉ tiêu tổng hợp (2000-2005).
TT Chỉ tiêu ĐVT
Thực hiện 2001-2004 Kế hoạch
2005
2001 2002 2003 ƯTH2004
Chỉ tiêu kinh tế
1
Tăng trưởng kinh tế
trong đó
tăng bình quân của kế hoạch 5 năm trước (1996 – 2000) là 3,67%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực CNH, HĐH,thực hiện được
cơ cấu kinh tế theo định hướng quy hoạch “Công nghiệp - Dịch vụ - Nông
nghiệp”, đưa tỷ trọng công nghiệp-xây dựng từ 40,7% năm 2000 lên 46,94% năm
2004 (KH năm 2005: 45,7%), Dịch vụ từ 51,7% xuống 47,06% (KH: 49,3%),
thuỷ sản-nông-lâm từ 7,6% xuống còn 6% (KH 2005: 5%).
Thu nhập bình quân đầu người của Thành phố theo đó cũng nâng lên, năm
sau cao hơn năm trước. GDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) năm 2001
là 7,82 triệu đồng, năm 2002 là 8,98 triệu đồng, năm 2003 là 10,34 triệu đồng,
ước năm 2005 là 14,23 triệu đồng.
Trong các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch xuất nhập khẩu có kết quả
đáng kể. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 5 năm
2001-2005 là 20,15% vượt kế hoạch đề ra, cao hơn so với cả nước (13%), một số
sản phẩm công nghiệp mới có chất lượng cao dáp ứng yêu cầu tiêu dùng và sản
xuất cạnh tranh được trên thị trường như: Sản phẩm may, giày, săm lốp ô tô-máy
kéo, xi măng, nhựa, gạch creamic, giấy bìa, sợi, thực phẩm. Ngành thương mại
hoạt động sôi nổi, đảm bảo lưu thông hành hoá và vật tư trong thành phố va các
tỉnh liên vùng mở rộng thị trường xuất khẩu. Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán
lẻ bình quân 5 năm tăng khoảng 13,04%/năm Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu:
Tính chung 5 năm, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1750,4 triệu USD, bằng 83,4%
so với chỉ tiêu đề ra, tổng kim ngạch nhập khẩu 5 năm qua đạt khoảng 1975 triệu
USD, tốc độ tăng bình quân đạt 9,58%/năm.
Ngành thuỷ sản - nông - lâm có trình độ thâm canh, tăng năng suất nuôi
trồng, đánh bắt ngày càng cao. Tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất thời kỳ
2001-2005 là 6,06% (KH là 5-6%). Nhưng có xu hướng chuyển dịch theo hướng
giảm số tương đối trong cơ cấu GDP, phù hợp với thành phố công nghiệp, dịch
vụ. Trong cơ cấu GDP, giảm dần từ 7,38% năm 2001 xuống 6,4% năm 2003, ước
2005 còn 5,62%.
Thu, chi ngân sách được chỉ đạo, điều hành chặt chẽ, khai thác tốt hơn các
nguồn thu ngoài thuế, thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế tăng
doanh và kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong khi yêu cầu đòi hỏi
phát triển lại rất lớn.
+ Các vấn đề bức xúc về mặt xã hội; tệ nạn xã hội, vệ sinh môi trường hiện
còn nhiều phức tạp.
II. Thực trạng của quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong
tiến trình đổi mới đất nước.
1. Thực trạng DNNN trước khi thực hiện Cổ phần hoá trong thời gian qua.
Các DDNN ở Việt Nam được hình thành năm 1954 (ở miền Bắc) và từ năm
1975 (ở miền Nam). Sau hơn 10 năm cải tổ, chuyển từ nền kinh tế hoạch hoá tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, kinh tế nhà nước
được củng cố và phát triển. Theo số liệu thống kê, doanh nghiệp Nhà nước đã
chiếm tỷ trọng trong GDP từ 31,07% năm 1991 lên đến 38,98% năm 2000 và là
thành phần kinh tế có tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP. Thế nhưng, chỉ có
SVTH: Tô Bích Ngọc 13
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
khoảng 30% số doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có lãi, 40% hoà vốn, còn
30% thường xuyên thua lỗ.
Thực tế DNNN vẫn giữ vai trò chủ đạo trong những năm đổi mới vừa qua,
mặc dù số lượng DNNN giảm nhưng sản lượng sản phẩm sản xuất, chất lượng,
hiệu quả sản xuất kinh doanh được tăng lên.
Tuy nhiên lịch sử hình thành và phát triển DNNN ỏ nước ta xuất phát từ tư
tưởng về CNXH là đồng nghĩa với chế độ công hữu trên quy mô toàn quốc để
xây dựng CNXH, DNNN hoạt động vì nhiều mục tiêu khác nhau chứ không đơn
giản vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận như các DNNQD. Đây là yếu tố có tác động
rất lớn đến hiệu quả nên các DNNN ở nước ta có những đặc trưng khác biệt so
với nhiều quốc gia trong khu vực và thế giới. Thực trạng về hiệu quả hệ thống
doanh nghiệp nhà nước chưa làm tốt vai trò của mình
• Tỷ suất lợi nhuận của các DNNN thấp.
Theo số liệu thống kê năm 1992, số lượmg các doanh nghiệp chưa xác định
38442
53500
65070
38431
52150
63000
11
1351
2090
0
10000
20000
30000
40000
50000
60000
70000
1991 1993 1994
Năm
Tri?u
đ?ng
T?ng v?n 1. DNNN 2. DNNQD
(Nguồn: Báo cáo cơ cấu thành phần kinh tế. Uỷ ban kế hoạch nhà nước, 1995).
Chúng ta thấy năm 1994 DNNN chiếm trên 63,2 tổng số vốn của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân , và đầu tư của nhà nước chủ yếu cho DNNN, chiếm 96,79%
tổng số vốn đầu tư của nhà nước.
Chi cho xây dựng và phát triển DNNN năm 1994 là 11005 tỷ đồng, chiếm
22,51% tổng chi ngân sách và 64,06% chi ngân sách cho đầu tư phát triển kinh
tế. Theo số liệu thống kê năm 1992, hệ số sinh lợi của vốn trong khu vực này đạt
bình quân 7%/năm, trong đó ngành công nghiệp đạt 3%, giao thông vận tải đạt
suất lao động là cái quan trọng nhất, quan trọng nhất cho thắng lợi của chế độ xã
hội mới. Tuy nhiên, trong cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp trước đây,
vấn đề năng suất không được quan niệm và thể hiện trong hoạt động sản xuất
kinh doanh đúng với thực chất. Nhà nước bao cấp mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp không cần quan tâm đến năng suất, chất lượng và hiệu quả
kinh doanh, bởi sản phẩm sản xuất ra là theo kế hoạch do Nhà nước ấn định từ
trên; hàng hoá làm ra có cơ quan được chỉ định đảm bảo việc tiêu thụ, bất kể sản
phẩm đó có đáp ứng được nhu cầucủa người tiêu dùng hay không, còn doanh
nghiệp thì không trực tiếp đối diện với thị trường; nếu có lài thì nộp cho Nhà
nước, nếu lỗ thì có Nhà nước bù (nhưng thực ra là “lỗ thật, lãi giả” vì công cụ
quan trọng nhất để hạch toán là giá máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và giá thuê
lao động đều không phản ánh đúng giá trị, chế độ hạch toán chỉ là hạch toán) .
Vì chế độ bao cấp kéo dài trong nhiều năm dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm
trọng trong đó có sự trì trệ của năng suất lao động, năng suất lao động qua nhiều
năm được đổi mới nhưng vẫn thấp.
Về mặt hiện vật, trong ngành chế biến dầu thực vật năng suất lao động bằng
10% mức của thế giới, trong ngành dệt, ngành giấy, may, nhựa, năng suất lao
động bằng 30-40% mức của thế giới.
SVTH: Tô Bích Ngọc 16
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
• Mức tiêu hao vật chất trong DNNN cao.
Mức tiêu hao vật chất phụ thuộc vào trình độ công nghệ, trình độ tổ chức và
quản lý sản xuất Đại bộ phận trang thiết bị của DNNN thuộc thế hệ cũ, trang bị
không đồng bộ do máy móc nhập từ nhiều nguồn khác nhau Theo số liệu thống
kê, riêng trong ngành công nghiệp có 26% thiết bị do Liên Xô (cũ) cung cấp,
24% thiết bị do các nước Đông Âu, gần 20% thiết bị của các nước ASEAN và
Bắc Âu, trên 18% thiết bị của các nước khác và phần còn lại là do tự chế tạo
trong nước… Theo đánh giá của Bộ khoa học công nghệ và môi trường thì tình
trạng của đa số thiết bị trong khu vực DNNN lạc hậu so với các nước tiên tiến
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
• Tình trạng mất vốn ở các DNNN là phổ biến.
Phần lớn các DNNN không bảo toàn được vốn. Trong các ngành công
nghiệp, lâm nghiệp, thương nghiệp, tỷ lệ mất vốn lên tới 10% trở lên. Đặc biệt
trong ngành công nghiệp, tỷ lệ mất vốn lên tới hơn 16%, sau đó ngành thương
nghiệp 15%. Có thể đánh giá tình hình thất thoát của DNNN là rất nghiêm trọng.
Tính chung, tổng số vốn của các DNNN thất thoát trong năm 1992 vào khoảng
8108 tỷ đồng (theo số liệu điều tra của tổng cục thống kê).
• DNNN không được tự chủ về nhân sự, chỉ thu hút được một lực lượng
lao động quá ít ỏi trong một đất nước nghèo vốn và giàu lao động như
ở nước ta.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới mặt
hàng, đổi mới thiết bị, bố trí lại sản xuất, từ đó dẫn đến đổi mới cơ cấu công
nhân, lao động, đó là điều cần thiết. Song doanh nghiệp không thể chủ động
trong việc sắp xếp lại số lượng lao động, giảm bớt người không phù hợp, tuyển
thêm người mới, vì Nhà nước chưa đủ các chính sách phù hợp để giải quyết công
ăn việc làm và đời sống của số lao động dôi ra, để số người này yên tâm trong
quá trình đổi mới doanh nghiệp.
Chế độ tiền lương, các thang lương, bậc lương trong doanh nghiệp nhà nước
còn nhiều bất hợp lý giữa khu vực kinh doanh với khu vực hành chính sự nghiệp,
giữa doanh nghiệp các ngành, nghề khác nhau và ngay trong nội bộ doanh
nghiệp. Tiền lương, tiền thưởng bị khống chế. Lương của công nhân cũng như
của những người quản lý doanh nghiệp không được trả theo kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp, mà theo quy định của cơ quan chức năng.
Đội ngũ giám đốc, tổng giám đốc doanh nghiệp, trong không ít trường hợp,
không phải là những người có đủ năng lực quản lý doanh nghiệp trong điều kiện
kinh tế thị trường. Bản thân giám đốc doanh nghiệp không được chủ động điều
hành sản xuất cũng như không được bố trí những người có đủ khả năng vào các
vị trí thích hợp trong đơn vị của mình, bảo đảm cho bộ máy quản lý tinh, gọn, và
làm việc có hiệu quả.
rộng mạnh mẽ, tập trung tư bản diễn ra với tốc độ chưa từng thấy, các tổ chức
đọc quyền ra đời, như cácten, xanh đi ca, tơrốt, căngxanh. Hầu như tất cả các
doanh nghiệp lớn đều áp dụng hình thức cổ phần, hơn nữa các doanh nghiệp lại
xâm nhập vào nhau, hình thành “chế độ tham dự” với “chế độ tập trung”. Các
công ty nắm giữ cổ phần khống chế ra đời, tạo thành kết cấu xâu chuỗi: công ty
mẹ, công ty con, công ty cháu, hình thành một loạt doanh nghiệp, vượt ra ngoài
biên giới quốc gia.
b. Sự hình thành và phát triển cổ phần hoá DNNN ở nước ta.
Quá trình cổ phần hoá DNNN ở nước ta cơ bản bắt đầu từ năm 1992.Thời gian
thực hiện đã hơn 10 năm nhưng còn thấp xa so với kế hoạch đặt ra và công tác
này thực sự được đẩy mạnh từ năm 1996 trở lại đây tuy vậy còn nảy sinh nhiều
vấn đề cần giải quyết khắc phục nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hoá nhanh và
đúng hướng.
• Giai đoạn thí điểm Cổ phần hoá DNNN ( từ 1992 đến 7/5/1996).
Cổ phần hoá DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước. Nhà nước
đã ban hành quyết định 202 – HĐBT ngày 8/6/1992 kèm theo đề án chuyển một
số DNNN thành công ty cổ phần áp dụng tại các DN được chọn làm thí điểm. 19
DN được bộ chỉ đạo thí điểm, sau thời gian làm thử 7 DN rút lui, cuối cùng chỉ
còn 5 DNNN chuyển sang công ty cổ phần, đó là:
1. Công ty cổ phần đại lý liên hợp vận chuyển (Bộ giao thông).
(1)
Xem tư bản, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến Bộ, Matxcơva và Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội, 1984, q1,
t1, ph .I, tr156.
SVTH: Tô Bích Ngọc 19
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
2. Công ty cổ phần cơ điện lạnh ( TP Hồ Chí Minh).
3. Công ty cổ phần giấy Hiệp An (Bộ công nghiệp).
4. Công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An (Tỉnh Long An).
5. Công ty cổ phần chế biến thức ăn gia súc (Bộ công nghiệp).
Nộp ngân sách 27 136 403
Lao động 435 486
Tài sản cố định 3500 11000 200
SVTH: Tô Bích Ngọc 20
Lớp 27K4.1
Chuyờn thc tp. GVHD:Th.S Hunh VitThiờn n
4714
5000
6,06
18
72
300
27
136
403
3500
11000
200
0
2000
4000
6000
8000
10000
Tr?c khi CPH 1996 Tng %
Doanh thu
L?i nhu?n
N?p ngõn sỏch
Ti s?n c? ?nh
(Ngun: Tng cc thng kờ 1995).
trước.
Năm 2003 số DNNN có quy mô tương đối lớn thực hiện cổ phần hoá nhiều
hơn những năm trước (năm 2003 có 15% số doanh nghiệp có số vốn 10 tỷ đồng
được cổ phần hoá so với 7,9% đến năm 2002). Nhiều bộ ngành, địa phương, tổng
công ty nhà nước đã tích cực thực hiện và có kết quả khả quan.
Những chuyển biến tích cực của các doanh nghiệp sau khi
chuyển sang thực hiện cổ phần hoá.
Có thể nói hầu hết các doanh nghiệp sau khi chuyển sang cổ phần hoá đều
hoạt động có hiệu quả hơn trước xét trên tổng thể các mặt doanh thu, lợi nhuận,
tích lũy vốn, nộp ngân sách.
+ Về hiệu quả kinh doanh:
Qua báo cáo hoạt động năm 1999 của 20 doanh nghiệp đã cổ phần hoá trong
thời gian hoạt động trên một năm kể cả những doanh nghiệp trước đó bị thua lỗ
cho thấy doanh thu bình quân tăng gần 2 lần như Công ty điện lạnh năng suất
năm 1999 đạt 178 tỷ gấp 4 lần so với trước khi cổ phần hoá, công ty cổ phần
bông Bạch Tuyết năm 1999 đạt 86 tỷ, gấp 1,6 lần so với trước cổ phần hoá. Lợi
nhuận tăng bình quân hơn 2 lần, cổ tức bình quân đạt 1-2%/tháng. Vốn tăng gấp
2,5 lần (bao gồm từ lợi nhuận và thu hút thêm vốn đầu tư từ bên ngoài). Nổi bật
là công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An vốn tăng 5 lần, công ty cổ
phần Việt Long vốn tăng 2,4 lần. Nộp ngân sách tăng 2 lần so với trước cổ phần
hoá, điển hình là công ty cổ phần cơ điện lạnh TP Hồ Chí Minh tăng gấp 3 lần,
công ty cổ phần sơn Bạch Tuyết tăng 2,7 lần…
+ Về lao động ở các Công ty cổ phần:
Người lao động trong các công ty cổ phần hóa được đảm bảo về việc làm và
thu nhập ổn định và có chiều hướng tăng lên. Do mở rộng sản xuất số lao động ở
các doanh nghiệp này tăng 12%, thu nhập người lao động tại các công ty cổ phần
tăng bình quân hàng năm gần 20% (chưa kể thu nhập từ cổ tức). Điển hình trong
năm 1999 công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển đạt 4 triệu
đồng/người/tháng, bằng gần 3 lần so với trước cổ phần hoá, công ty cổ phần ong
mật TPHCM đạt 1,3 triệu đồng/người/ tháng, bằng 2,6 lần so với trước cổ phần
điểm cổ phần hoá. Từ năm 1997 đến nay, việc chuyển đổi DNNN theo hình thức
cổ phần hoá được thành phố triển khai thực hiện.
1. Thực trạng DNNN (tại thời điểm bắt đầu Cổ phần hoá đến nay).
Từ đầu năm 1997, khi thành phố Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc
trung ương, số DNNN trên địa bàn là 81 DN. Thực hiện sắp xếp đổt mới DNNN
thì đến cuối năm 1998, số DNNN giảm xuống còn 65 DN, trong đó chủ yếu là sát
nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản.
Với 81 DNNN, tổng số vốn kinh doanh chỉ có 356 tỷ, bình quân 1 DN có 4,3
tỷ.
DN có vốn dưới 1 tỷ chiếm 16% tổng số DN, DN có vốn 1 tỷ đến 5 tỷ chiếm
59% tổng số DN, DN có vốn 5 tỷ đến 10 tỷ chiếm 16% tổng số DN, DN có vốn
10 tỷ đến dưới 20 tỷ chiếm 5 % tổng số DN, DN có vốn trên 20 tỷ chiếm 4%
tổng số DN.
SVTH: Tô Bích Ngọc 23
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
Hiện nay các DNNN thuộc thành phố quản lý vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Hiệu quả hoạt động của các DN
còn thấp, đang có nguy cơ tụt hậu xa so với sự phát triển của khu vực và trên thế
giới, hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước vẫn hoạt động theo sự trông chờ sự bảo
hộ của nhà nước, chưa thực sự chủ động trong sản xuất kinh doanh để thích ứng
với môi trường cạnh tranh và hội nhập.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn thấp, tổng số luỹ kế ước tính đến
31/12/2002 trên 1 tỷ đồng, ngoại trừ một số đơn vị có tình hình tài chính lành
mạnh, mang tính đặc thù duy trì được tốc độ phát triển như những năm trước
đây, còn nhiều doanh nghiệp đang trong tình trạng khó khăn, sản xuất kinh doanh
không hiệu quả, nguy cơ thua lỗ cao, mất khả năng cân bằng tài chính như công
ty thuỷ tinh Miền Trung, Công ty xây dựng số 5, công ty xây lắp CN và dân
dụng, công ty xuất nhập khẩu Nông nghiệp xây dựng.
Tính đến thời điểm 30/9/2004, còn 30DNNN địa phương trực thuộc Thành
SVTH: Tô Bích Ngọc 24
Lớp 27K4.1
Chuyên đề thực tập. GVHD:Th.S Huỳnh ViếtThiên Ân
Đánh giá cụ thể từng ngành:
+ Ngành giao thông:
Tiếp tục phát huy kết quả kinh doanh trong năm 2005, trong quý III các đơn
vị đều kinh doanh có lãi, không có đơn vị lỗ, đa số duy trì được tăng trưởng và
đảm bảo hoàn thành kế hoạch năm. Ngành giao thông là một trong những ngành
đạt kết quả hoạt động kinh doanh cao, có đóng góp đáng kể trong khối các
DNNN địa phương thuộc thành phố quản lý.
Trong 9 tháng năm 2004, tổng doanh thu toàn ngành đạt 342 tỷ đồng (bằng
68% KH năm); lợi nhuận đạt 6.9 tỷ đồng (vượt kế hoạch đề ra 500 triệu đồng);
đảm bảo thu nhập cho gần 2800 các bộ công nhân viên với mức thu nhập bình
quân gần 1,4 triệu đồng/người/tháng; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách.
Nhiều đơn vị còn gặp phải những tồn tại khó khăn chưa được giải quyết triệt
để. Trong đó nổi lên là công nợ phải thu khó đòi, chậm thu hồi của các đơn vị
xây dựng, thi công các công trình giao thông (trên 3,7 tỷ đồng), số dư nợ vay
ngân hàng lớn, chi phí lãi cao, hàng tồn kho ứ đọng mất phẩm chất. Ngoài ra còn
một số nguyên nhân khác như nguyên vật liệu tăng càng làn cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp gặp trở ngại.
+ Ngành công nghiệp:
Tính đến cuối quý III năm 2004 ngành công nghiệp chỉ còn 3 doanh nghiệp,
với số lượng doanh nghiệp Nhà nước còn ít các doanh nghiệp có nhiều cố gắng
và được sự hỗ trợ của UBND thành phố, như cấp bổ sung vốn kinh doanh, tạm
ứng vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và một số ưu đãi khác được ban hành.
Nhưng nhìn chung, DNNN thuộc ngành Công nghiệp chưa có chiều hướng phát
triển ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó
khăn do phải cạnh tranh gay gắt với thị trường nhất là giá nguyên liệu tăng cao
trong khi giá bán tăng không đáng kể, thị trường bị thu hẹp nhất là ngành dệt
may, hàng hoá tồn kho cao, vòng quay vốn chậm, nợ khó đòi toàn ngành trên