BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
I H
o0o
KHÓA LUN TT NGHIP
ĐỀ TÀI:
PHÒNG NGA RI RO TÍN DNG TI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIP VÀ
PHÁT TRINNÔNG THÔN VIT NAM
CHI NHÁNH LÁNG H
SINH VIÊN THC HIN : PHC HUN
MÃ SINH VIÊN : A16308
CHUYÊN NGÀNH : NGÂN HÀNG HÀ NI 2014 BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
I H
o0o
KHÓA LUN TT NGHIP
ĐỀ TÀI:
PHÒNG NGA RI RO TÍN DNG TI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIP VÀ
PHÁT TRINNÔNG THÔN VIT NAM
CHI NHÁNH LÁNG H
ng dn : Ths. Trn Th Thùy Linh
Sinh viên thc hin : Phm c Hun
Mã sinh viên : A16308
Sinh viên
PHC HUN
MC LC
PHÒNG NGA RI RO TÍN DNG TI NGÂN HÀNG
I 1
1.1. Ri ro tín dng ci 1
1.1.1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 1
1.1.2. Một số dấu hiệu cơ bản để nhận biết rủi ro tín dụng 6
1.1.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng 12
1.2. Phòng nga ri ro tín dng trong hong ci 13
1.2.1. Khái niệm phòng ngừa rủi ro tín dụng 13
1.2.2. Vai trò của công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng 14
1.2.3. Nội dung phòng ngừa rủi ro tín dụng 15
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng 17
THC TRNG RI RO TÍN DNG TI CHI NHÁNH
NHNO&PTNT LÁNG H 20
2.1. c v tình hình ho ng và phát trin ca Chi nhánh NHNo &
PTNT Láng H 20
2.1.1. Giới thiệu khái quát về Chi nhánh NHNo & PTNT Láng Hạ 20
2.1.2. Khái quát tình hình hoạt động của Chi nhánh 22
2.2. Thc trng ri ro tín dng ti NHNo&PTNT Chi nhánh Láng H. 28
2.2.1. Thực trạng nợ quá hạn. 28
2.2.2. Thực trạng nợ xấu 31
2.3. Thc trng phòng nga ri ro tín dng ti Ngân hàng Nông nghip và
lãnh đạo 60
3.2.10. Trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đúng qui định 60
3.2.11. Áp dụng lãi suất thỏa thuận. 61
3.2.12. Một số kiến nghị 61
DANH MC VIT TT
CBTD
: Cán bộ tín dụng
CIC
: Trung tâm thông tin tín dụng
CIH
: Trung tâm điều hành
DNNN
: Doanh nghiệp nhà nước
DPC
: Dự phòng chung
DPCT
: Dự phòng cụ thể
HĐQT
: Hội đồng quản trị
HSX CN
: Hộ sản xuất cá nhân
NHNN
: Ngân hàng Nhà nước
NHNNo&PTNT VN
: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Việt Nam
gian, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế và cũng chịu khá nhiều
ảnh hưởng bởi những yếu tố khách quan và chủ quan. Ngoài ra ngân hàng thường có
đặc điểm là có hệ số nợ cao, do đó trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng tiềm ẩn
khá nhiều rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng, tuy nhiên, trong khuôn khổ đề
tài có thể định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc
gián tiếp) xuất phát từ việc người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn
theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. Điều này có ý nghĩa là rủi ro tín dụng phát
sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc, lãi hoặc cả gốc lẫn lãi
của khoản vay; hoặc việc thanh toán khoản vay của khách hàng không đúng kỳ hạn.
Trong tài liệu “ Công nghệ ngân hàng dành cho các nước đang phát triển”, rủi ro
tín dụng được định nghĩa là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc
một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay ngân hàng.
Theo Thomas P.Fitch thì rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không
thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ,
rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay ngân hàng.
Còn theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN, “Rủi ro tín
dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt
động ngân hàng của TCTD khi khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng
thưc hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Như vậy, việc khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ vay sẽ
làm giảm thu nhập của ngân hàng, không những thế ngân hàng vừa phải trả tiền gốc và
lãi khi huy động cho vay vừa phải mất chi phí để huy động nguồn khác bù đắp. Chưa
kể ngân hàng cũng phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng khi khách hàng không trả nợ
đúng hạn, điều này cũng làm tăng chi phí cho ngân hàng. Nói chung, rủi ro tín dụng
lúc nào cũng gây cho ngân hàng nhiều tổn thất về mặt tài chính.
1.1.1. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
A. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định:
Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới
tiết vĩ mô của Nhà Nước. Điều này dẫn đến sự gia tăng quá nhiều vốn đầu tư vào một
số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí nguồn tài nguyên quốc gia.
Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương
Trong những năm qua, Chính phủ, Quốc hội và Ngân hàng Nhà nước đã ban
hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín
dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào
3
hoạt động ngân hàng lại hết sức chậm chạp và còn nhiều vướng mắc bất cập như một
số văn bản cưỡng chế thu hồi nợ. Những văn bản này đều có quy định: Trong trường
hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản đảm bảo nợ vay.
Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh
tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc
khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý hoặc chuyển tài sản đảm
bảo nợ vay để Toà án xứ lý qua con đường tố tụng…cùng nhiều các quy định khác dẫn
đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng và tài sản tồn đọng.
Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN
Bên cạnh những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và
đảm bảo an toàn hệ thống chưa có những sự cải thiện căn bản về chất lượng. Thanh tra
tại chỗ vẫn là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và
giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo
kiểu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro vi
phạm. Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập. Do vậy mà có
những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp
ngăn chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy ra rồi mới can thiệp.
Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập
Hiện nay, Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của NHNN đã hoạt động
hơn một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ trong việc
làm hạn chế đến khả năng cung ứng và tiếp cận nguồn vốn của các NHTM.
Rủi ro do các nguyên nhân đến từ khách hàng vay là cá nhân:
Mặc dù quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng là cá nhân đơn giản hơn nhiều so
với các doanh nghiệp, song trên thực tế, số lượng khách hàng cá nhân lại rất lớn, phân
tán trong khi giá trị các món vay lại nhỏ nên việc tìm hiểu nguyên nhân từ phía khách
hàng này có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Với khách hàng là cá nhân, nguyên nhân rủi ro có thể là:
Hoạt đông kinh doanh không thuận lợi, gặp khó khăn, khả năng quản lý yếu
kém.
Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản bị mất hoặc suy giảm do mất việc,
chuyển sang công việc kém hơn hoặc không còn khả năng lao động….
Cá nhân gặp những chuyện bất thường trong cuộc sống, vì vậy họ phải sử
dụng một số tiền lớn ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả nợ ngân hàng.
Đạo đức cá nhân không tốt; cố tình lừa đảo ngân hàng, sử dụng tiền vay bừa
bãi…
Rủi ro do các nguyên nhân đến từ phía ngân hàng cho vay
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh
chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vẫn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên,
do việc kiểm tra thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nhưng trong thời gian
trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình
5
thức, bố máy, con người và cơ cấu chưa phù hợp… Kiểm tra nội bộ cần phải được
xem như một hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn
thì hệ thống này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh được cho cỗ xe khỏi đi vào
những ngã rẻ rủi ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.
Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian qua có những liên quan nhiều đến cán bộ
NHTM, đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cũng với khách hàng làm giả
Như vậy, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan
hoặc khách quan. Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các
NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng ngân
hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế nhất là các nền kinh tế
đang trong quá trình chuyển đổi.
1.1.2. Một số dấu hiệu cơ bản để nhận biết rủi ro tín dụng
Hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng luôn tiềm ẩn những
rủi ro tiềm tàng có thể bùng phát bất kỳ khi nào, việc chuẩn hóa và đưa ra những đánh
giá để nhận biết dấu hiệu rủi ro tín dụng của các NHTM luôn là một bài toán cần phải
có lời giải đáp. Quan điểm của Ủy ban Basel cho rằng sự yếu kém trong hệ thống ngân
hàng của một quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển đều có thể đe dọa
đến sự ổn định về mặt tài chính trong cả nội bộ quốc gia và trên thị trường quốc tế.
Nhu cầu cần nâng cao sức mạnh của hệ thống tài chính đòi hỏi bản thân các NHTM
phải đưa ra những giải pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong đó có việc
nhận biết phát hiện sớm những rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng luôn đóng một
vai trò tiên quyết.
A. Phát hiện sớm các dấu hiệu:
Đối với một ngân hàng không chỉ là vấn đề làm sao để quản lý tốt mà còn là việc
sẽ đối mặt với những vấn đề về cấp tín dụng trong một số giai đoạn như thế nào.
Các khoản tín dụng và nợ có vấn đề sẽ gia tăng khi khách hàng vay không thể
thực hiện đầy đủ những điều khoản đã cam kết hoặc thường xuyên xảy ra việc những
người vay thiếu trách nhiệm, cố ý không trả nợ, vi phạm nghiêm trọng kỷ luật tài
chính.
Kiểm soát hiệu quả các khoản tín dụng có vấn đề phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản
sau:
Phát hiện sớm vấn đề
Ngay lập tức tiến hành điều chỉnh thực hiện dung
Hầu hết các sai phạm được phát hiện sớm nhờ vào những dấu hiệu báo trước.
Các dấu hiệu báo trước thông thường có những biểu hiện sau:
Trì hoãn việc chuẩn bị các báo cáo tài chính;
Những dấu hiệu hạch toán sáng tạo hay tô vẽ tài chính
Thay đổi đơn vị kiểm toán;
Giảm các khả năng tài chính;
Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần ( vốn khả dụng, luồng tiền, giới hạn, tỷ lệ chi phí
xấu đi);
Lỗ và các khoản dự phòng quá lớn, ngoài dự kiến;
Tài khoản rút có quá số dư không?
8
Tổng số dư của khách hàng có tình trạng rút quá triền miên
Số dư có thay đổi bất thường hay có sự gia tăng số dư gốc không?
Doanh số trên tài khoản đối vói các nghiệp vụ: Chuyển tiền, thu nợ, thư tín
dụng thực hiện qua ngân hàng có giảm xuống không?
Có hiện tượng sai phạm hay thanh toán chậm các nghĩa vụ không?
Giá trị các khoản đảm bảo có được kiểm tra thường xuyên không?
Ngân hàng có nhận được kịp thời các thông tin về hàng trong khi và các tài
khoản phải thu không?
Có sự chậm trễ quá mức nào trong việc nhận báo cáo tài chính, đặc biệt nếu
hợp đồng vay có điều khoản yêu cầu giao hàng phải thực hiện trong một
khoản thời gian nhất định?
Những giải thích về sự chậm trễ của khách hàng thường là những dấu hiệu
báo trước về bản thân khách hàng;
Đổ lỗi cho các nhân viên kiểm toán của công ty trong việc trì hoãn (có thể
là những khác biệt không thể hòa hợp được giữa khách hàng và nhân viên
kiểm toán).
Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin cá nhân/Công tác quản lý:
Lối sống phung phí của các vị giám đốc
Việc né tránh của các nhà quản lý công ty;
Những yêu cầu xin miễn khoản đảm bảo;
quá trình quan hệ tín dụng;
Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà không có
sự giải thích minh bạch, rõ ràng;
Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu
căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn
nợ;
Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng; xuất phát
những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được về tổng
mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của khách hàng;
Chậm thanh toán các khoản lãi đến hạn;
Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn;
Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc
khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ, thu hồi công nợ chậm
hơn dự tính;
Mức vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu
dự kiến;
10
Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định
giá khi cho vay, có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán hay trao
đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại;
Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường
khác không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từ hoạt động
được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán;
Có dấu hiệu sử dụng nguồn vốn với giá cao với mọi điều kiện
Có dấu hiệu sử dụng nhiều tài khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu
tư dài hạn.
Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính
và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng:
Cũng như nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng, nhóm các
chiến lược và kế hoạc sản xuất, kinh doanh của khách hàng;
Do áp lực nội bộ dẫn tới tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụ quá sớm
khi chưa hội đủ các điều kiện chín muồi hoặc đặt ra các hạn mức thời gian
kinh doanh, doanh số không thực tế, tạo mong đợi trên thị trường không
đúng lúc;
Khó khăn trong phát triển sản phẩm, dịch vụ mới.
Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân hàng, cụ thể gồm:
Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách
hàng, ví dụ: đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực tế;
đánh giá khách hàng chỉ thông qua thông tin “tĩnh” do khách hàng cung cấp
mà thiều đi thông tin “động” và các thông tin nhạy cảm từ những kênh
thông tin khác; bỏ qua các “nghi ngờ” được phản ánh qua cấu trúc và cơ
cấu số liệu khi phân tích dữ liệu tài chính, có dấu hiệu che giấu việc “đảo
nợ” của khách hàng thông qua việc cấp đều đặn, thường xuyên và liên tục
các khoản vay mới hay che giấu “nợ quá hạn” thông qua việc điều chỉnh kỳ
hạn và gia hạn nợ tràn lan thiếu căn cứ xác thực;
Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo đảm
của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do
khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp;
Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực
kiểm soát cũng như nguồn vốn của ngân hàng;
Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường xảy ra, chẳng hạn như sáp nhật,
thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công ty “con” hạch toán độc lập;
Các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ, không rõ ràng;
không xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay; cố ý thỏa hiệp các
nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có tiềm ẩn rủi ro;
Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng để kẽ hở cho khách hàng lời
dụng;
12
chính sách tiền tệ của chính phủ bị giảm xuống, gây xáo trộn vĩ mô nền kinh tế.
i vi ngân hàng
Làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận
Có thể nói thu nhập của ngân hàng từ lãi cho vay chiếm tỷ lệ cao trong tồng thu
nhập của ngân hàng, một khi xảy ra rủi ro tín dụng, ngân hàng không những không thu
13
hồi được khoản nợ gốc và lãi mà còn bị giảm lợi nhuận tín dụng. Ngoài ra việc không
thu hồi được vốn cũng khiến cho ngân hàng mất đi lợi nhuận vì không thể tái đầu tư
vốn vào phương án đầu tư khả thi khác. Khi khoản vay gặp rủi ro ngân hàng buộc phải
trích lập dự phòng rủi ro và tìm kiếm nguồn huy động vốn khác khiến cho chi phí hoạt
động của ngân hàng tăng lên.
Giảm khả năng thanh toán và nguy cơ phá sản
Không những thế rủi ro tín dụng còn dẫn tới khả năng mất thanh khoản của ngân
hàng với việc khách hàng ồ ạt rút tiền ra khỏi ngân hàng. Tình thế này khiến ngân
hàng có khả năng phải buộc đóng cửa và tuyên bố phá sản nếu như ngân hàng mất khả
năng thanh toán. Không những thế một ngân hàng bị khó khăn về thanh khoán sẽ chịu
những quy định kinh doanh hạn chế của NHNN.
Rủi ro tín dụng làm gia tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, để đảm bảo lợi
nhuận không bị giảm, ngân hàng buộc phải giảm chi phí khác như tiền lương, giảm lao
động, giảm đầu tư vào công nghệ, hạn chế việc mở rộng mạng lưới chi nhánh… Điều
này phần nào ảnh hưởng không tốt tới mặt nhân sự, công nghệ, thị phần hoạt động và
nhất là uy tín của ngân hàng trên thương trường.
Giảm uy tín và năng lực canh trạnh khả
Khi ngân hàng rơi vào tình trạng rủi ro tín dụng và mất khả năng thanh toán thì
bắt buộc phải đi vay nhiều nguồn khác nhau, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài
chính sẽ bị suy giảm đáng kể. Hơn thế nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao khiến
cho việc huy động vốn trở nên khó khăn do ảnh hưởng tâm lý của các đối tác cho vay
vốn và gặp nhiều sự cạnh trạnh từ các ngân hàng khác.
Nói chung, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ
Tương tự như vậy cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cáp nhà ở tại Mỹ cuối năm
2008 đã ảnh hưởng đến hàng loạt nền kinh tế khác và gây nên khủng hoảng tài chính
toàn cầu, được ví như cuộc khủng hoảng lớn nhất từ sau năm 1933 đến nay. Nếu
những tổn thất trong rủi ro tín dụng gây ra ở mức kiểm soát được thì xử lý tương đối
dễ dàng trong giới hạn cho phép của quỹ dự phòng rủi ro của TCTD. Nhưng khi tổn
thất lớn, gâuy hậu quả nghiêm trọng, khó lường không những cho chính TCTD đó, mà
còn cho cả những TCTD và doanh nghiệp khác có liên quan, ảnh hưởng tới quyền lợi
người gửi tiền và cuối cùng, ảnh hưởng tới toàn bộ kinh tế, là nguy cơ tiềm ẩn cho
khủng hoàng tài chính.
Tóm lại, công tác phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và
trong hoạt động tín dụng nói riêng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của
mỗi ngân hàng. Nếu công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng được thực hiện tốt, sẽ hạn
chế được những rủi ro xảy ra đồi với ngân hàng, làm tăng thu nhập của ngân hàng.
Ngoài ra, công tác phòng ngừa rủi ro nếu được thực hiên tốt còn tạo điều kiện cho sự
phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung, Vì khi rủi ro được hạn chế, tức là ngân
hàng đã cung cấp vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế và đó chính là động lực
phát triển nền kinh tế.
15
1.2.3. Nội dung phòng ngừa rủi ro tín dụng
Nội dung công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng có thể được hiểu là những giải
pháp được các ngân hàng thực hiện nhằm phòng ngừa, hạn chế những tổn thất và khả
năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Do ảnh hưởng tiêu cực
của rủi ro tín dụng, mỗi ngân hàng đều tìm những biện pháp riếng biệt nhằm hạn chế
rủi ro tín dụng, khắc phục những tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Nội
dung công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng là:
Chính sách tín dụng : Hoạt động tín dụng của ngân hàng rất phong phú, đa dạng
nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro, xây dựng một chính sách tín dụng
nhất quán và hợp lý, phù hợp với đặc điểm của từng ngân hàng sẽ giúp phát huy được
các thế mạnh của mỗi ngân hàng, từ đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng,
ngừa, hạn chế tổn thất do rủi ro tín dụng có thể gây ra.
Chính sách trích lập dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng: Tỷ lệ trích lập quỹ dự
phòng rủi ro thường được quy định ở mỗi nước khác nhau. Tỷ lệ này thường được đưa
ra dựa trên cơ sở thống kê hiện tại về mức độ rủi ro của các ngân hàng. Ở những nước
có hệ thống pháp luật cho việc quản lý các khoản nợ phát triển thi áp dụng tỷ lệ trích
lập thấp hơn. Điển hình như ở Mỹ thì quy định mức trích lập dự phòng khoảng 10%
đối với các khoản tín dụng không đủ tiêu chuẩn, 50% đối với các khoản nợ khó đòi và
100% với những khoản tín dụng mất mát, thua lỗ. Còn ở những nước đang phát triển
như Thái Lan thì mức độ trích lập vào khoảng 20-25% đối với những khoản nợ không
đủ tiêu chuẩn, 50-75% đối với những khoản nợ khó đòi và 100% với khoản nợ mất
mát. Quỹ dự phòng là nguồn bù đắp chủ yếu của những khoản tín dụng bị tổn thất.
Quỹ thường được trích lập từ lợi nhuận sau thuế. Với việc lập quỹ dự phòng rủi
ro khi xảy ra, việc mất vốn cho vay sẽ không gây ảnh hưởng nhiều tác động tới ngân
hàng.
Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Thông tư 18/2007/NHNN: Dự phòng
rủi ro bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung thì tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
đối với các nhóm nợ 1,2,3,4 và 5 lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%.
Trong đó dự phòng cụ thể được trích lập theo công thức sau:
R= max[0;(A-C)*r]
R: Số tiền cụ thể phải trích
A: là giá trị khoản nợ
C: Giá trị taì sản đảm bảo
r: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể tương ứng từng nhóm nợ
Còn tỷ lệ trích lập dự phòng chung được tính toán bằng việc trích lập và duy trì
bằng 0,75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 được quy định tại
Điều 6 và Điều 7.
Bảo hiểm và mua bán nợ trong hoạt động tín dụng: Ngân hàng mua bảo hiểm
tín dụng, nếu rủi ro xảy ra thì công ty bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho
ngân hàng theo quy định.
Vấn đề bảo hiểm áp dụng trong hoạt động tín dụng ngân hàng khá quan trọng
Trình độ của cán bộ ngân hàng các cấp là một yếu tố rất quan trọng quyết định
hiệu quả của công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng. Công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng
chỉ có thể đạt được hiệu quả nhất định khi có một đội ngũ lãnh đạo ngân hàng có trình
độ cao, tầm hiểu biết sâu, có khả năng tổng hợp phân tích và tầm nhìn dài hạn.
Trên cơ sở năng lực của đội ngũ lãnh đạo, nhân viên, ngân hàng sẽ xây dựng
được những chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng phù hợp.Với một đội ngũ nhân viên giàu
kinh nghiệm, trình độ chuyên môn tốt trong thẩm định cho vay, thì ngân hàng sẽ có
những biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro ở mức bình thường và ngược lại nếu