Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong giai đoạn hội nhập với
nền kinh tế khu vực và trên thế giới. Bất kì doanh nghiệp nào khi hoạt đông sản xuất
kinh doanh đều hướng đến mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Để thực hiện
được mục tiêu này, các doanh nghiệp phải thực hiện nhiều biện pháp, trong đó việc
lựa chọn một cấu trúc tài chính hợp lý là một trong những biện pháp hết sức quan
trọng và cần thiết làm cơ sở cho việc đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn. Để
làm được điều này, mỗi doanh nghiệp cần xác định và nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Điều này không những giúp doanh nghiệp
xây dựng một cấu trúc tài chính hợp lý mà còn nâng cao hiệu quả tài chính của doanh
nghiệp. Xuất phát từ quan điểm trên em chọn đề tài “Phân tích các nhân tố ảnh
hưởng cấu trúc tài chính của các công ty thuộc nhóm ngành thủy sản niêm yết trên
sàn HOSE”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng các lý thuyết về cấu trúc tài chính để nghiên cứu thực tiễn
diễn ra trong các công ty thuộc ngành thủy sản niêm yết trên sàn HOSE, phản ánh
những đặc điểm cấu trúc tài chính, xác định các nhân tố nào có ảnh hưởng và ảnh
hưởng như thế nào đến cấu trúc tài chính của các công ty này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cấu trúc tài chính và các nhân tố
ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của các công ty thuộc ngành thủy sản niêm yết trên
sàn HOSE.
b. Phạm vi nghiên cứu
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
Nghiên cứu cấu trúc tài chính của 18 công ty thuộc ngành thủy sản niêm yết
trên sàn HOSE từ năm 2008 đến năm 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
- Nợ ngắn hạn: Là khoản tiền mà doanh nghiệp có trách nhiệm trả trong vòng
một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh bình thường. Nợ ngắn hạn là nguồn vốn
chiếm dụng bên ngoài bao gồm các khoản vay ngắn hạn; các khoản tiền phải trả cho
người bán, người cung cấp, người nhận thầu; thuế và các khoản phải nộp cho Nhà
nước; tiền lương, phụ cấp phải trả cho người lao động…Nợ ngắn hạn có chi phí sử
dụng vốn thấp nhưng lại tạo áp lực thanh toán đối với doanh nghiệp trong ngắn hạn.
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
- Nợ dài hạn: Là các khoản nợ mà thời gian trả nợ trên một năm. Nợ dài hạn
gồm các khoản như vay dài hạn cho đầu tư phát triển; nợ dài hạn phải trả - các khoản
vốn vay từ các tổ chức tín dụng bên ngoài, từ phát hành trái phiếu vay nợ của dân
chúng…Vốn vay dài hạn có chi phí sử dụng vốn cao hơn vốn vay ngắn hạn nhưng
doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán trong ngắn hạn.
Việc sử dụng nợ phải trả có một số ưu và nhược điểm sau:
- Ưu điểm: Chi phí sử dụng nợ được khấu trừ thuế còn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu
thì không, chi phí sử dụng nợ thường thấp hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu.
- Nhược điểm: Khi doanh nghiệp sử dụng nợ quá cao, công ty sẽ rơi vào tình trạng tài
chính không lành mạnh và dẫn đến nhiều rủi ro khác. Mặt khác khi vay vốn, doanh
nghiệp cần phải có tài sản thế chấp, và sẽ không có toàn quyền chủ động trong việc sử
dụng chúng.
1.1.2.2 Vốn chủ sở hữu
Là số vốn của các chủ sở hữu mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán.
Nguồn vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư góp vốn hoặc hình
thành từ kết quả kinh doanh, do đó nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản
nợ. VCSH bao gồm: Vốn đóng góp của nhà đầu tư để thành lập hoặc mở rộng doanh
nghiệp theo quy định của chính sách tài chính hoặc quyết định của các chủ sở hữu
vốn, của hội đồng quản trị; vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp; các khoản thặng dư vốn cổ phần do phát hành cổ phiếu cao
hơn mệnh giá; các khoản nhận biếu, tặng, tài trợ; các khoản chênh lệch do đánh giá lại
Nợ phải trả
(1.1)
Tổng tài sản
Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ lệ nợ ngắn hạn =
(1.2)
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
Tỷ suất nợ ngắn hạn phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các
khoản nợ ngắn hạn.
- Tỷ lệ nợ dài hạn
Tỷ suất nợ dài hạn phản ánh mức độ tài trợ tài sản của doanh nghiệp bởi các
khoản nợ dài hạn.
1.1.3.2 Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu
Thể hiện mức độ đảm bảo nợ bởi vốn chủ sở hữu. Phản ánh qui mô tài chính
của công ty. Nó cho ta biết tỉ lệ giữa hai nguồn vốn cơ bản là nợ phải trả và vốn chủ
sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hai nguồn này
có những đặc tính riêng và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá
tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cũng phụ thuộc vào ngành, lĩnh vực hoạt độn. Ví
dụ ngành sản xuất cần nhiều vốn thì tỷ lệ này có xu hướng cao hơn những công ty
dịch vụ.
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu giúp ta có cái nhìn khái quát về sức mạnh tài
chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1,
có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn
ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bằng vốn chủ sở hữu. Về
nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ thì doanh nghiệp càng ít gặp khó khăn hơn. Tỷ lệ càng
cao thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc rủi ro phá sản của doanh nghiệp
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 6
Tổng tài sản
Tổng nợ dài hạn
Lý thuyết M&M giải thích được quan hệ giữa giá trị công ty, chi phí sử dụng
vốn và mức độ sử dụng vốn nợ của công ty. Modigliani và Miller đưa ra hai mệnh đề
và xem xét trong hai trường hợp có thuế và không có thuế.
Trong trường hợp không có thuế, giá trị công ty có vay nợ và không có vay nợ
là như nhau. Do đó, giá trị công ty không thay đổi khi cấu trúc tài chính của công ty
thay đổi. Hay nói cách khác việc thay đổi cấu trúc tài chính không mang lại lợi ích gì
cho cổ đông. Đây chính là mệnh đề M&M số I. Mệnh đề M&M số II cho rằng chi phí
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 7
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
sử dụng vốn trung bình không đổi trong khi chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên khi
công ty gia tăng tỷ lệ nợ.
Trong trường hợp có thuế, giá trị công ty có nợ vay bằng giá trị công ty không
vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế do sử dụng nợ. Như vậy, việc sử dụng nợ
hay đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị công ty. Đây chính là nội dung mệnh đề
M&M số I trong trường hợp có thuế. Mệnh đề M&M số II trong trường hợp có thuế
cho rằng chi phí sử dụng vốn trung bình giảm trong khi chi phí sử dụng vốn cổ phần
tăng lên khi công ty gia tăng tỷ lệ nợ.
Modigliani và Miller cho rằng giá trị của DN có vay nợ lớn hơn giá trị của DN
được tài trợ hoàn toàn bằng VCSH do chi phí lãi vay được khấu trừ thuế khuyến
khích các DN vay nợ để tận dụng lợi thế của thuế từ đó làm tăng giá trị DN trên thị
trường.
Tuy nhiên, lý thuyết M&M chưa xem xét tác động của một số chi phí khác
khiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi công ty gia tăng
tỷ số nợ. Đó là tiền đề cho sự ra đời của lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn.
1.1.4.3 Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn
Lý thuyết đánh đổi cho rằng cấu trúc vốn của doanh nghiệp được xác định dựa
trên sự đánh đổi giữa lợi ích của tấm chắn thuế (do lãi vay được khấu trừ thuế) và chi
phí kiệt quệ tài chính. Khi doanh nghiệp vay càng nhiều nợ thì lợi ích của tấm chắn
thuế càng lớn nhưng chi phí kiệt quệ tài chính cũng tăng theo. Vì vậy, chủ nợ cũng sẽ
đòi hỏi một tỷ suất sinh lợi cao hơn, làm gia tăng chi phí sử dụng vốn của doanh
Dù là thuyết đánh đổi cấu trúc vốn tĩnh hay động thì đều có những ưu điểm và
hạn chế sau:
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
- Ưu điểm: + Giải thích được sự khác biệt trong cấu trúc vốn của nhiều ngành:
những ngành có tài sản hữu hình an toàn thì tỷ lệ nợ vay cao, những ngành có tài sản
vô hình nhiều thì tỷ lệ nợ vay ít (do ít có tài sản có giá trị thế chấp cho vay nợ).
+ Giải thích sự ra đời của các công ty được “mua đứt bằng vốn
vay” (LBO). Lý thuyết này cũng đề xuất rằng các công ty sung mãn có thị trường sản
phẩm ổn định lâu dài, ít có cơ hội tăng trưởng với NPV cao nên dùng nhiều nợ vay để
tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Trong khi đó, các công ty có nợ vay quá nhiều nên
phát hành cổ phần, hạn chế chia cổ tức, bán bớt tài sản để huy động tiền mặt bằng cổ
phiếu nhằm mục đích tái cân đối cấu trúc vốn.
- Hạn chế: Lý thuyết đánh đối cấu trúc vốn không thể giải thích được tại sao
một số công ty rất thành công trong ngành lại có rất ít nợ và không dùng tấm chắn
thuế, mặc dù thu nhập hoạt động của họ rất cao (bởi vì theo thuyết này, công ty có lợi
nhuận cao thì khả năng vay nợ cao và có nhiều lợi nhuận chịu thuế để được khấu trừ
thì nên vay nợ nhiều để hưởng lợi từ tấm chắn thuế làm tăng giá trị doanh nghiệp).
1.1.4.4 Lý thuyết chi phí đại diện
Trong quản trị tài chính, vấn đề đại diện luôn chứa đứng mâu thuẫn tiềm tàng
về lợi ích giữa người tài trợ với người quản lý DN. Jenshen và Meckling (1976) cho
rằng có hai dạng mâu thuẫn về đại diện: mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu với nhà
quản lý doanh nghiệp và mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu với người chủ nợ.
a) Chi phí đối tác của VCSH
Đối với mâu thuẫn giữa người chủ và người quản lý DN, vấn đề đại diện phát
sinh khi người quản lý sở hữu ít hơn 100% phần vốn chủ sở hữu. Kết quả là người
chủ sở hữu không giành được toàn bộ khoản lợi từ các hoạt động nâng cao lợi nhuận
của doanh nghiệp mình, nhưng họ phải gánh chịu toàn bộ chi phí cho những họat
động này. Để giảm thấp mâu thuẫn đại diện, người chủ sở hữu chấp nhận bỏ ra chi phí
đại diện, như các khoản chi để giám sát hoạt động (hoạt động kiểm toán), chi để cấu
nghiệp có lịch sử thanh toán nợ tốt, uy tín của doanh nghiệp sẽ tăng lên, và chi phí lãi
vay sẽ thấp hơn. Do vậy, các doanh nghiệp lâu năm thường tìm các dự án an toàn để
tránh mất uy tín của mình. Các doanh nghiệp mới, non trẻ với ít uy tín có thể chọn các
dự án mang nhiều rủi ro. Nếu các doanh nghiệp non trẻ tồn tại mà không có những
thất bại nào, họ dần dần chuyển sang các dự án an toàn. Kết quả là các doanh nghiệp
lâu năm sẽ có tỷ lệ thất bại ít hơn và chi phí vay cũng thấp hơn các doanh nghiệp non
trẻ. Việc mở rộng mô hình này là các doanh nghiệp trẻ sử dụng ít nợ hơn các doanh
nghiệp lâu năm, giả sử các nhân tố khác không xem xét đến.
Nhìn chung, việc đưa chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí đại diện vào mô hình
thuế MM và mô hình Miller dẫn đến lý thuyết cân bằng về cấu trúc tài chính. Những
mô hình này đều thừa nhận tồn tại một cấu trúc tài chính tối ưu. Cấu trúc tài chính tối
ưu của một doanh nghiệp liên quan đến cân bằng giữa ảnh hưởng thuế thu nhập doanh
nghiệp, chi phí đại diện và chi phí kiệt quệ tài chính.
1.1.4.5 Lý thuyết thông tin bất đối xứng
Một trong các giả thuyết của mô hình MM là các nhà đầu tư và nhà quản trị có
cùng thông tin về triển vọng tương lai của doanh nghiệp. Tuy nhiên, so với các nhà
đầu tư bên ngoài các nhà quản trị thường có thông tin đầy đủ hơn về triển vọng tương
lai. Hiện tượng này gọi là sự bất đối xứng về thông tin.
Thông tin bất đối xứng có ảnh hưởng quan trọng đối với cấu trúc vốn của
doanh nghiệp. Theo đó, lý thuyết về cấu trúc vốn hình thành thêm hai trường phái: lý
thuyết tín hiệu
và lý thuyết trật tự phân hạng.
Theo lý thuyết tín hiệu, việc lựa chọn cấu trúc vốn của một doanh nghiệp có
thể truyền những dấu hiệu cho người đầu tư bên ngoài về thông tin của người bên
trong doanh nghiệp. Lý thuyết này bắt đầu từ công trình của Ross (1977) và Lyland,
Pyle (1977). Theo đó, nhà quản trị biết rõ hơn nhà đầu tư bên ngoài về triển vọng của
doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp được dự báo sẽ có triển vọng hoạt động tốt, nhà quản
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 12
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
người chủ mới sẽ không có ý nghĩa lớn, khoản tài trợ bên trong sẽ được quan tâm hơn
so với tài trợ từ bên ngoài
1.1.4.6 Các quan niệm về cấu trúc tài chính tối ưu
Quan điểm thứ nhất: Khuyến khích việc sử dụng nợ tối đa để tăng năng lực sản
xuất, tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng hoạt động của doanh nghiệp và dưới tác
động của đòn cân nợ sẽ làm tăng tối đa giá trị của doanh nghiệp.
Quan điểm thứ hai: Việc sử dụng nợ chưa hẳn đã có tác dụng tích cực, nhất là
duy trì một tỷ lệ nợ cao sẽ rất nguy hiểm không những cho doanh nghiệp mà còn tác
động dây chuyền sẽ ảnh hưởng đến cả nền kinh tế của một quốc gia.
Quan điểm thứ ba: Cấu trúc tài chính có sử dụng nợ được xem xét dưới sự tác
động của nhiều yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp. Trong những hoàn cảnh,
điều kiện khác nhau, sự tác động của các nhân tố là khác nhau. Xác định được sự tác
động của các nhân tố cũng như mối quan hệ giữa chúng là cơ sở hình thành một cấu
trúc tài chính hợp lý hướng tới mục tiêu của nhà quản trị.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng cấu trúc tài chính doanh nghiệp
Những bài nghiên cứu trước đây đã chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng đến cấu
trúc tài chính gồm qui mô của doanh nghiệp, cấu trúc tài sản, hiệu quả hoạt động kinh
doanh, rủi ro kinh doanh, tăng trưởng của doanh nghiệp… Tuy nhiên chiều hướng tác
động của các nhân tố này đến cấu trúc tài chính là không hoàn toàn giống nhau trong
các nghiên cứu trước đây. Trong phần tiếp theo, các giả thiết về xu hướng tác động
của các nhân tố này sẽ được xây dựng trên cơ sở lý thuyết và phân tích các điều kiện
thực tế của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam.
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 14
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
1.2.1 Đặc điểm nền kinh tế
Khi một doanh nghiệp định hướng được con đường phát triển trong dài hạn của
mình, doanh nghiệp phải hoạch định một cấu trúc tài chính hợp lý. Bất kì một cấu trúc
tài chính nào cũng nên được xây dựng dựa trên cơ sở những dự báo về triển vọng kinh
tế. Tuy nhiên, những dự báo này chỉ có ý nghĩa tại một thời điểm nhất định trong khi
tình hình kinh tế thì luôn vận động không ngừng. Do đó, những nhà quản trị cần ý
Ở Việt Nam, các DN niêm yết có qui mô lớn thường là những DN do nhà nước
nắm cổ phần chi phối, vì vậy những DN này có nhiều cơ hội huy động các nguồn vốn
từ bên ngoài hơn, nhất là các tổ chức tín dụng thuộc sở hữu Nhà nước. Do đó giả thiết
đặt ra là: “Cấu trúc tài chính tỷ lệ thuận với qui mô của DN”.
1.2.3 Nhân tố hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả hoạt động kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh
doanh của DN thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản (Return On Assets-
ROA), khả năng sinh lời trên doanh thu (tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu).
Theo lý thuyết trật tự phân hạng, nhà quản trị DN bao giờ cũng có thông tin về giá trị
DN tốt hơn nhà đầu tư bên ngoài. Sự bất cân xứng thông tin này dẫn đến chi phí huy
động vốn từ bên ngoài sẽ cao hơn. Vì thế, nhà quản trị có xu hướng ưu tiên sử dụng
các nguồn vốn nội tại trước, rồi mới đến các nguồn vốn vay mượn bên ngoài. Các
nghiên cứu thực nghiệm của Pendey (2001), Huang and Song (2002), Braduri (2002)
ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ tỷ
lệ nghịch với tỷ suất nợ. Ở Việt Nam, các nghiên cứu trên các DN nhỏ và vừa cũng
chỉ ra rằng hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nợ. Ở các nước đang
phát triển, nhất là các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, vấn đề bất cân
xứng về thông tin càng trầm trọng, vì thế các nhà quản lý có xu hướng giữ lại lợi
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
nhuận để tài trợ cho tài sản của mình. Những doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động
kinh doanh tốt sẽ dùng ít nợ hơn các doanh nghiệp khác. Do vậy, giả thiết đặt ra là:
“Cấu trúc tài chính tỷ lệ nghịch với hiệu quả hoạt đông kinh doanh”.
1.2.4 Nhân tố rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là được hiểu là rủi ro gắn liền với sự không chắn chắn, sự
biến thiên của kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp; thường được đo
lường thông qua độ lệch chuẩn của lợi nhuận trước thuế, doanh thu, ROA, ROE. Tuy
nhiên, trong nhiều trường hợp thước đo (mức độ hoạt động, quy mô) khác nhau, giá
trị kì vọng giữa các phương án so sánh khác nhau, thì giá trị độ lệch chuẩn không thể
làm căn cứ để đánh giá; để giải quyết hạn chế này ta dùng hệ số biến thiên như biến
sử dụng vốn cao hơn do sự kiểm soát việc sử dụng vốn vay khó khăn hơn. Vì vậy,
một doanh nghiệp có tỷ lệ tài sản cố định hữu hình trên tổng tài sản lớn thường sử
dụng nhiều nợ hơn. Vì thế có thể giả thiết: “Cấu trúc tài chính có quan hệ tỷ lệ thuận
với cấu trúc tài sản”.
1.2.6 Sự tăng trưởng của doanh nghiệp
Sự tăng trưởng của doanh nghiệp được đo lường thông qua tốc độ tăng tài sản
hay doanh thu. Sự gia tăng doanh thu là yếu tố quan trọng đánh giá tăng trưởng, phản
ánh mục tiêu hoạt động và có thể đo kết quả của việc sử dụng hợp lý các nguồn lực.
Tăng doanh thu là điều kiện tăng lợi nhuận, lợi nhuận tăng là yếu tố đảm bảo cho mở
rộng đầu tư tăng qui mô hoạt động, tạo sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Khi doanh
nghiệp trong giai đoạn tăng trưởng, niềm tin của các nhà đầu tư vào doanh nghiệp lớn,
trong khi doanh nghiệp cũng cần nguồn tài trợ cho tài sản của mình. Nên những
doanh nghiệp trong giai đoạn tăng trưởng sẽ sử dụng nhiều nợ hơn. Còn những doanh
nghiệp trong giai đoạn suy thoái thì họ rất ngại cho vay, sợ không thu hồi được nợ,
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 18
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
đặc biệt là nợ dài hạn nên tỷ lệ nợ của các công ty này sẽ giảm. Vì vậy, giả thiết:
“Cấu trúc tài chính tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của DN”.
1.2.7 Đặc điểm ngành
Một trong những nhân tố tác động đáng kể đến cấu trúc tài chính công ty là đặc
điểm ngành nghề kinh doanh. Theo nghiên cứu của Myers năm 1984, Haris và Raviv
năm 1991, những doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau thường có cấu trúc
tài chính khác nhau. Những ngành có nhiều tài sản cố định hữu hình như máy móc,
nhà xưởng, đất đai hơn thì khả năng vay nợ cũng như nhu cầu vay nợ sẽ lớn hơn
những ngành có tài sản cố định hữu hình ít hơn, vì các ngân hàng sẽ ưu tiên cho vay
đối với những doanh nghiệp có tài sản cố định hữu hình lớn hơn do tính chất bảo đảm
cầm cố của các tài sản cố định hữu hình. Đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực
nông nghiệp với tính chất theo mùa vụ nên thường có nhu cầu về nợ ngắn hạn cao,
các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp thì có nhu cầu về nợ dài hạn cao kết hợp
với vốn cổ phần do tính chất đòi hỏi tài sản cố định cao.
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 20
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC
TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC NHÓM NGÀNH THỦY SẢN
NIÊM YẾT TRÊN SÀN HOSE
2.1 Tổng quan về ngành thủy sản Việt Nam
Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có tăng trưởng về xuất khẩu
thủy sản nhanh nhất thế giới, với tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2001-
2010 là 15%, năm 2010 xuất khẩu thủy sản đạt mức kỷ lục từ trước đến đến nay với
1,353 triệu tấn; trị giá 5,034 tỷ USD tăng 11,3 % về lượng và 18,4% về giá trị so với
năm 2009. Tuy nhiên mức kỷ lục này đã được thay thế bằng một kỷ lục mới khi năm
2011 kim ngạch xuất khẩu đạt 6,1 tỷ USD; tăng ấn tượng 21% và thủy sản nằm trong
Top 5 ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất. Theo FAO Việt Nam đứng thứ 5 trong
danh sách các nước xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới, và đứng thứ 3 về sản lượng
nuôi trồng thủy sản. Ngành thủy sản Việt Nam hiện nay tập trung chủ yếu vào lĩnh
vực nuôi trồng và đây cũng là xu hướng phát triển chung của ngành trên thế giới. Đây
là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và hàng năm đóng góp
3,5%- 4% vào GDP. Trong đó sản phẩm chủ lực của ngành là cá tra, cá basa và tôm
(chiếm 65-70% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành).
Các thị trường xuất khẩu chủ yếu là: EU là thị trường trọng điểm của Việt Nam
khi chiếm 22,5% kim ngạch xuất khẩu, trong đó các quốc gia như Đức, Italia, Hà Lan
có sự tăng trưởng cao, lần lượt là 19%, 38%, 26%- đây là kết quả ấn tượng của những
nổ lực mở rộng thị trường của các doanh nghiệp nếu xét trong bối cảnh khu vực này
đang gặp rất nhiều bất ổn về kinh tế và nhiều quốc gia đang thắt chặt chi tiêu để giảm
thâm hụt ngân sách. Tại khu vực châu Á, Nhật Bản là thị trường truyền thống tuy
nhiên giá trị xuất khẩu tăng khiêm tốn, còn các thị trường khác như Trung Quốc,
Hồng Kong, Hàn Quốc thì tăng mạnh. Tuy nhiên nếu xét riêng lẽ Mỹ vẫn là thị trường
lớn nhất của Việt Nam với giá trị 954 triệu USD, tăng 23%, chiếm tỷ trọng 19% tổng
kim ngạch.
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 21
khác như Nga, Trung Quốc và một số nước Mỹ Latinh cũng có tiềm năng.
2.1.4 Thách thức
- Thách thức lớn nhất đối với sự phát triển của ngành thủy sản là tình trạng
thiếu hụt nguyên liệu. Hiện nay năng lực cấp đông của toàn ngành khoảng 4,5-5 triệu
tấn nhưng sản lượng khai thác nội địa chỉ khoảng 2,5 triệu tấn, từ đó dẫn đến nhiều
doanh nghiệp chỉ hoạt động ½ công suất trong những lúc cao điểm do không đủ
nguyên liệu. Đối với nguồn thủy sản tự nhiên việc đánh bắt không theo hướng bền
vững đã khiến hải sản ven bờ gần như cạn kiệt trong khi năng lực đánh bắt xa bờ còn
hạn chế. Với hải sản nuôi mặc dù phát triển mạnh trong thời gian qua nhưng thiếu
kiểm soát dẫn đến dịch bệnh trong khi chi phí nuôi tăng cao do phần lớn các nguyên
liệu cho sản xuất thức ăn thủy sản phải nhập khẩu.
- Ngoài thuế, các quốc gia nhập khẩu ngày càng đặt ra nhiều biện pháp kĩ thuật
hơn đối với các sản phẩm thủy sản Việt Nam như tiêu chuẩn về chất lượng, yêu cầu
truy xuất nguồn gốc,…
- Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam phải cạnh tranh với các
quốc gia khác trong khu vực đặc biệt là Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ.
2.2 Đặc điểm cấu trúc tài chính của các công ty ngành thủy sản
2.2.1 Tình hình chung về kết quả hoạt động kinh doanh
2.2.1.1 Tình hình chung về doanh thu và lợi nhuận trước thuế của các công ty
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: ThS. Nguyễn Thanh Hương
Bảng 2.1: Tình hình chung về doanh thu và lợi nhuận trước thuế của các công ty
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2011
Doanh thu 22.276.236 23.139.719 27.085.603 36.313.686
LNTT 851.863 1.351.833 1.593.551 2.101.257
% tăng doanh thu 100% 104% 117% 134%
% tăng LNTT 100% 159% 118% 132%
Nguồn: BCTC đã kiểm toán của các công ty
Dựa vào trên ta thấy tổng doanh thu của các công ty thuộc nhóm ngành thủy
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các công ty thuộc nhóm ngành thủy sản từ
năm 2008- 2011 nhìn chung thấp và biến động mạnh. Năm 2008 do tác động của cuộc
khủng hoảng tài chính, tỷ suất sinh lời trên doanh thu của các công ty ở mức thấp chỉ
khoảng 3,67%. Đối với công ty qui mô trung bình (vốn điều lệ từ 100 tỷ đến 200 tỷ)
thì tình hình tài chính phụ thuộc nhiều vào thị trường, khi khủng hoảng xảy ra sẽ chịu
SVTH: Lê Thị Hồng Huệ - Lớp 35k15.2 25