A. Đặt vấn đề
Hoạt động xây dựng pháp luật là lĩnh vực hoạt động cơ bản, quan trọng
của nhà nước nên nó là một lĩnh vực thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của
các nhà luật học và các nhà xã hội học pháp luật, trở thành đối tượng
nghiên cứu của cả luật học và xã hội học pháp luật. Xã hội học pháp luật
chú trọng nghiên cứu, khảo sát các khía cạnh của hoạt động xây dựng pháp
luật. Bởi vì, có được văn bản pháp luật tốt, phù hợp với đòi hỏi của thực tế
cuộc sống chưa phải đã thành công. Vấn đề quan trọng hơn là phải làm sao
để pháp luật được ban hành có thể phát huy được vai trò, tác dụng của nó,
chuyển từ “pháp luật trên giấy tờ” thành “pháp luật trong hành động” của
mọi tầng lớp xã hội. Từ đấy, nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt động
xây dựng pháp luật sau khi pháp luật được ban hành và có hiệu lực thực thi
là nhằm tìm kiếm các thông tin phản hồi từ các kênh khác nhau về ưu điểm,
nhược điểm của các văn bản pháp luật. Khi nghiên cứu các khía cạnh,
chúng ta không thể bỏ qua các yếu tố tác động đến hoạt động xây dựng
pháp luật, chúng là cơ sở để chúng ta đánh giá chất lượng, hiệu quả thực sự
của hoạt động xây dựng pháp luật. Vì vậy, trong bài tập lần này, em xin
trình bày đề tài: “Phân tích các yếu tố tác động tới hoạt động xây dựng
pháp luật? Liên hệ với thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay”
B. Giải quyết vấn đề
I. Khái quát về hoạt động xây dựng pháp luật.
1. Hoạt động xây dựng pháp luật.
Xây dựng pháp luật là một trong những hình thức hoạt động cơ bản
của nhà nước nhằm tạo ra công cụ, phương tiện hữu hiệu phục vụ công tác
quản lí nhà nước, quản lí xã hội.
Hoạt động xây dựng pháp luật là hoạt động soạn thảo, ban hành các
luật, văn bản pháp luật, bao gồm từ khâu nghiên cứu, soạn thảo, thông qua
và công bố văn bản
~ 1 ~
Hoạt động xây dựng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo, thể
hiện quá trình nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn các quy luật xã
bài tập lần này, em xin trình bày ba yếu tố chính đó là: kỹ năng soạn thảo
các dự án luật, dư luận xã hội và thông tin đại chúng.
1. Kỹ năng soạn thảo các dự án luật.
Thực tế cho thấy, việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật, nhất là các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật ở nước ta trong
thời gian qua, mặc dù số lượng lớn, nhưng còn có những hạn chế nhất định;
nhiều văn bản chồng chéo nhau, có nội dung trùng lặp, thiếu đồng bộ, thiếu
đồng bộ, thậm chí mâu thuẫn nhau làm cho hiệu quả điều chỉnh của pháp
luật bị hạn chế rất nhiều. Bên cạnh đó, chất lượng của các văn bản quy
phạm pháp luật chưa được cao, thiếu ính chặt chẽ và hiệu quả. Trình độ lập
pháp, lập quy chưa theo kịp sự chuyển biến nhanh chóng của thực tiễn đời
sống xã hội nên đã không tiên liệu, dự báo được hết những sự kiện, tình
huống pháp lí có thể xảy ra trong thực tế xã hội. Từ đó dẫn đến tình trạng
có những quy phạm pháp luật được ban hành không phù hợp hoặc nhanh
chóng trở nên lạc hậu so với đời sống xã hội, không phát huy được hết hiệu
lực trong thực tế cuộc sống.
Chất lượng của hoạt động xây dựng pháp luật, mà cụ thể là tính khả thi,
hiệu lực và hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phụ
thuộc rất nhiều vào kỹ năng soạn thảo các dự án luật. Vì vậy, đây là yếu tố
có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến hoạt động xây dựng pháp luật. Vấn đề này
liên quan đến các khía cạnh cụ thể như sau:
- Nhận thức của các chủ thể hoạt động xây dựng pháp luật về tầm quan
trọng,sự cần thiết của văn bản pháp luật cần xây dựng, ban hành. Sự nhận
thức đúng đắn, đầy đủ hay mờ nhạt, nửa vời sẽ quy định thái độ tích cực
hay tiêu cực, sự hăng hái, nhiệt tình hay thờ ơ, lãnh đạm của các chủ thể
khi tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật. Đến lượt mình, sự nhận
~ 3 ~
thức này tác động đến kỹ năng soạn thảo và chất lượng các văn bản luật
được ban hành.
- Trình độ hiểu biết xã hội, am hiểu nhất định của các chủ thể tham gia
máy móc vì mỗi đất nước có nền kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập
quán khác nhau.
Thực tế chỉ ra rằng, trong một số trường hợp, pháp luật được ban hành
nhanh chóng trở nên lạc hậu so với yêu cầu của cuộc sống chính là vì kỹ
năng soạn thảo luật của các chủ thể còn nhiều hạn chế, trình độ kiến thức,
hiểu biết xã hội, hiểu biết pháp luật của họ còn thấp, chưa có các chuyên
gia làm việc chuyên ngành trong lĩnh vực này. Một số văn bản pháp luật
điều chỉnh ngành nào, lĩnh vực nào thì giao cho ngành đó soạn thảo nên
chưa đảm bảo tính khách quan, vô tư trong các chuẩn mực pháp luật. Tất cả
những điều đó cần được khắc phục để có thể nâng cao hơn nữa chất lượng
của hoạt động xây dựng pháp luật.
2. Dư luận xã hội
Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh
giá của các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề
mang tính thời sự, có liên quan tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm
của nhiều người và được thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực
tiễn của họ.
Trong bất kỳ một xã hội nào, dư luận xã hội cũng đều có vai trò, ảnh
hưởng nhất định và trong nhiều trường hợp còn có tác động mạnh mẽ đến
các quá trình chính trị, xã hội, đến việc lãnh đạo và quản lí xã hội. Trong
lịch sử xã hội loài người, dư luận xã hội đã đóng vai trò là yếu tố điều hòa
các mối quan hệ xã hội và điều chỉnh hành vi của con người. Sức mạnh của
dư luận xã hội đã được thể hiện ngay cả khi trong xã hội còn chưa xuất
hiện các hiện tượng giai cấp,nhà nước và pháp luật. Trong xã hội nguyên
thủy, mặc dù dư luận xã hội chỉ tồn tại với tư cách những ý kiến, quan
điểm, thái độ, sự phán xét chung của cộng đồng người, nhưng nó đã giữ vai
~ 5 ~
trò vừa là phương tiện giáo dục, vừa là công cụ định hướng, điều tiết hành
vi của con người. Điều đáng sợ nhất đối với mỗi thành viên trong xã hội
nguyên thủy là bị dư luận xã hội lên án, bị cộng đòng ruồng bỏ. Khi khái
động xây dựng pháp luật. Dân chủ đại diện là hình thức cơ bản mà thông
qua đó, nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước, vận hành theo quy định
của Hiến pháp. Theo cơ chế này, nhân dân bầu ra cơ quan đại diện. Cơ
quan đại diện trực tiếp nhận quyền lực từ nhân dân nên còn được gọi là cơ
quan quyền lực nhà nước, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương. Việc các cơ quan chức năng Nhà nước thực hiện đầy đủ các quyền
dân chủ của nhân dân là thể hiện sinh động phương châm “dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra” và luôn được phản ánh trong dư luận xã hội. Mọi hành
vi vi phạm, xâm hại quyền dân chủ của công dân, trong đó có quyền tham
gia hoạt động xây dựng pháp luật, đều bị dư luận xã hội phê phán và lên án.
Điều đó nói lên sự tác động của dư luận xã hội đối với hoạt động xây dựng
pháp luật.
Thứ hai, dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có ý nghĩa rất quan
trọng và thiết thực đối với quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp
luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật, đối với việc ban hành các
quyết định của các cá nhân, nhà chức trách có thẩm quyền. Để có được các
văn bản pháp luật sát thực tế, các văn bản quyết định quản lí hành chính
nhà nước đúng đắn, có tính khả thi cao, trước khi xây dựng, soạn thảo các
dự án luật hay ban hành các quyết định, các cơ quan lập pháp, cơ quan
quản lí phải nắm bắt được thực trạng tư tưởng, tâm lí của các đối tượng xã
hội mà văn bản pháp luật, quyết định nhằm vào. Mọi chủ trương, chính
sách pháp luật khó có thể trở thành hiện thực nếu không hợp long dân,
không được nhân dân ủng hộ. Khi đã có được các dự án luật, các thông tin
phản hồi lại càng quan trọng. Mọi vướng mắc, lệch lạc trong quá trình triển
khai thực hiện các văn bản pháp luật, do nhiều yếu tố khó lường trước, đều
~ 7 ~
được bộc lộ qua dư luận xã hội. Dư luận xã hội là một trong những cơ sở
thông tin phản hồi giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các
văn bản đưa ra các văn bản, quyết định phù hợp long dân. Dư luận xã hội
thông tin để các tầng lớp xã hội tham gia vào hoạt động xây dựng pháp
luật.
- Các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải những thông tin về chính
sách pháp luật của Nhà nước, các dự thảo pháp luật mới, đưa các thông tin
đó đến được với đông đảo các tầng lớp nhân dân. Các phương tiện thông
tin đại chúng tạo diễn đàn ngôn luận công khai để các chủ thể của hoạt
động xây dựng pháp luật tham gia trao đổi, thảo luận, phân tích, đóng góp
ý kiến về hình thức, nội dung, cấu trúc, phạm vi điều chỉnh, đối tượng tác
động… của văn bản pháp luật. Đồng thời, các phương tiện thông tin đại
chúng còn có thể đăng tải kịp thời các thông tin phản hồi, các ý kiến đóng
góp của các nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân cho hoạt động xây dựng
pháp luật. Bằng cách tác động đó, thông tin đại chúng giúp cho các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền tập hợp thông tin, xử lí và tiếp thu có chọn lọc các
ý kiến xác đáng phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện
các văn bản quy phạm pháp luật.
- Các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò định hướng, điều chỉnh
quá trình hình thành dư luận xã hội thông qua việc cung cấp các nguồn
thông tin pháp luật xác thực, đăng tải ý kiến chính thức của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền về kết quả hoạt động xây dựng pháp luật. Đối với
những vấn đề xã hội – pháp luật còn có những quan điểm, ý kiến khác
nhau, các cơ quan thông tấn, báo chí có thể tổ chức các cuộc thảo luận, tọa
đàm; mời các nhà lãnh đạo, các chuyên gia, các nhà khoa học có uy tín
tham dự để cùng nhau bàn bạc, trao đổi ý kiến, phân tích thấu đáo các khía
cạnh của vấn đề nhằm định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội. Bằng những
hoạt động đó, các phương tiện thông tin đại chúng góp phần tạo lập các
luồng dư luận xã hội tích cực phản ánh hoạt động xây dựng pháp luật; góp
~ 9 ~
phần đấu tranh chống lại, đập tan các âm mưu phá hoại, các luận điệu tuyên
truyền, xuyên tạc và bịa đặt của các thế lực thù địch về nội dung, bản chất
hệ thống pháp luật của nhà nước ta; củng cố niềm tin của nhân dân vào bản
chương trình những dự án luật, pháp lệnh chưa hội đủ các điều kiện cần
thiết…. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp
các Bộ, ngành liên quan khẩn trương rà soát, chuẩn bị các dự án luật có
tính cấp bách để bổ sung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012,
2013 và khóa XIII.
Bên cạnh đấy, chúng ta còn thấy một số vấn đề trong hoạt động xây
dựng pháp luật ở nước ta hiện nay như:
- Các biện pháp đảm bảo hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật sau
khi được ban hành và triển khai vào thực tiễn cuộc sống. Mặc dù hầu hết
các văn bản pháp luật đều dành chương cuối để nói về “điều khoản thi
hành”, nhưng đó thường là những điều khoản chung, mang tính kỹ thuật,
chứ chưa phải là những biện pháp thực sự cụ thể để đưa pháp luật vào cuộc
sống. Ngoài các biện pháp mang tính cưỡng chế do pháp luật quy định, các
nhà chức trách còn cần tính tới các biện pháp xã hội khác, như đảm bảo các
điều kiện về kinh tế, chính trị, tạo dựng môi trường văn hóa –xã hội, bầu
không khí tâm lí xã hội, hoạt động giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp
luật… để văn bản pháp luật thực sự đi vào cuộc sống.
- Tính hiệu quả của các văn bản pháp luật trong quá trình thực hiện, ý
nghĩa và tác dụng thực tế của chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã
hội đang còn hạn chế. Chẳng hạn, ở nước ta hiện nay, chỉ cần tiến hành
quan sát, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, Chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ quy định về cấm hút thuốc lá ở nơi công cộng hiện chưa phát huy được
hiệu lực và hiệu quả.
2. Biện pháp
2.1. Tăng cường công tác thẩm tra các dự án luật bằng công cụ xã hội học.
~ 11 ~
Công cụ xã hội học phục vụ hoạt động xây dựng pháp luật bao gồm
điều tra xã hội học và thăm dò dư luận xã hội. Mục đích của việc sử dụng
công cụ xã hội học là để thẩm tra xem các dự án luật có thực sự cần thiết
cho việc quản lí xã hội chưa, hình thức văn bản pháp luật có phù hợp
động xây dựng pháp luật.
- Quốc hội và các Ủy ban, cơ quan chuyên trách của Quốc hội cần
quan tâm và chỉ đạo sâu sát hơn nữa công tác xây dựng pháp luật. Đây là
vấn đề hết sức quan trọng nhằm đảm bảo tính khả thi cũng như nâng cao
hiệu quả của hoạt động xây dựng pháp luật.
- Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, trung tâm,
viện nghiên cứu khoa học pháp lý, khoa học xã hội và các cơ quan
nghiên cứ khoa học pháp lý khác có liên quan. Kết quả hoạt động của
các cơ quan này sẽ là những luận cứ, chứng minh khoa học có tính
thuyết phục cao, góp phần đắc lực vào việc nâng cao hiệu quả của hoạt
động xây dựng pháp luật.
- Các cơ quan, ban ngành, tổ chức xã hội khác, như cơ quan Công an,
Tư pháp, Hội luật gia, Đoàn luật sư…các cấp cần chủ động, tích cực hỗ
trợ và tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ của mình.
- Các nhà khoa học,chuyên gia pháp lí và chuyên gia xã hội có thể chủ
động nêu các ý kiến luật, chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, tham
gia hội thảo, trả lời phỏng vấn, chuyên đề… Các hoạt động đó là những
đóng góp thiết thực của họ trong việc tạo lập các luận cứ khoa học và
thực tiễn phục vụ hoạt động xây dựng pháp luật và nâng cao hiệu quả
của hoạt động này.
- Các đại biểu dân cử cần phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm đại
diện cho lợi ích của nhân dân, chủ động và sang tạo trong hoạt động xây
dựng pháp luật. Làm được như vậy cũng chính là tạo điều kiện để đại
~ 13 ~
biểu dân cử tăng cường trách nhiệm của mình trong hoạt động xây dựng
pháp luật.
- Huy động các tầng lớp xã hội tích cực tham gia đóng góp ý kiến cho
các dự án luật. Trước những vấn đề nan giải, phức tạp, các tầng lớp xã
hội, bằng trí tuệ tập thể, có thể đưa ra các đề nghị, khuyến cáo, lời
dựng các văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế, chậm đổi mới… Tình
hình đó đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ, đồng thời nhiều giải pháp nhằm
nâng cao năng lực, trình độ, chất lượng, hiệu quả của hoạt động xây dựng
pháp luật. Trong xây dựng chính sách pháp luật cũng như từng văn bản luật
nhất thiết phải dự liệu, trù tính tất cả những yếu tố, khía cạnh có liên quan
tới sự bảo đảm phát triển bền vững. Trước mắt, cần bổ sung, hoàn thiện
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
2004.
C. Kết thúc vấn đề
Qua đây, chúng ta đã phần nào hiểu rõ thêm về các yếu tố tác động lên
hoạt động xây dựng pháp luật cũng như chúng ta đã nắm rõ được thực tiến
xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay để từ đó có những biện pháp phù
hợp để hoàn thiên hơn việc xây dựng pháp luật. Từ đó, mỗi chúng ta nên có
trách nhiệm và những việc làm phù hợp để góp phần xây dựng một hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh hơn, xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
~ 15 ~
Mục lục
Trang
A. Đặt vấn đề……………………………………………………… 1
B. Giải quyết vấn đề…………………………………………………1
I. Khái quát về hoạt động xây dựng pháp luật.
1. Hoạt động xây dựng pháp luật………………………………… 1
2. Chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật…………………….2
3. Quy trình hoạt động xây dựng pháp luật……………………… 2
II. Các yếu tố tác động tới hoạt động xây dựng pháp luật
1. Kỹ năng soạn thảo văn các dự án luật……………………………3
2. Dư luận xã hội…………………………………………………….5
3. Thông tin đại chúng……………………………………………….8