Phân tích các yếu tố tác động tới tăng trưởng công nghiệp Việt Nam và những dự báo cho công nghiệp - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Để phát triển đất nước chúng ta phải đồng thời chú trọng phát triển cả
công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Trong đó công nghiệp vẫn là ngành giữ
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Những năm gần đây, tỷ trọng
đóng góp của công nghiệp vào nền kinh tế quốc dân có xu hướng ngày càng
tăng cao và ổn định. Bắt đầu từ sau những năm 1986, khi nhà nước ta xoá bỏ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và thực hiện công nghiệp hoá trên toàn
ngành công nghiệp thì công nghiệp nước ta đã có những thay đổi to lớn cả về
chất và lượng. Nhiều nhà máy, cơ quan, xí nghiệp quốc doanh đã tiến hành
cổ phần hoá, đi vào hoạt động với tác phong công nghiệp hơn. Và kết quả của
những chính sách trên chính là sự thay đổi một cách toàn diện thúc đẩy, sự
phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như: Nông nghiệp, thương mại, giao
thông vận tải, dịch vụ, an ninh, quốc phòng…
Từ một nền công nghiệp kém phát triển không chỉ đối với các nước trên
thế giới mà đối với cả các nước trong khu vực, với một tỷ trọng đóng góp
khiêm tốn vào giá trị tổng sản lượng của toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì nay
công nghiệp đã giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Công nghiệp không những
cung cấp hầu hết các công cụ, tư liệu sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất cho tất cả
những ngành kinh tế mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng có giá trị góp phần phát
triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân trong xã hội.
Mặt khác để xoá bỏ nghèo đói, rút ngắn khoảng cách với các nước phát
triển trên thế giới cả về kinh tế và trình độ văn hoá, để phát triển kinh tế ổn
định bền vững thì cần thiết phải có một hệ thống các ngành công nghiệp hiện
đại, đa dạng trong đó các ngành công nghiệp mũi nhọn, chủ chốt phải được
quan tâm, chú ý một cách thích đáng.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trên thực tế, sau hơn 20 năm, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI ( 12-1986)
với chủ trương đổi mới nền công nghiệp từ tập trung phát triển công nghiệp

vào chế biến.
1.2. Vai trò của công nghiệp
Công nghiệp là ngành sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất rất
lớn cho xã hội, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp
không những cung cấp hầu hết các tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật cho tất cả các ngành kinh tế, mà còn tạo ra các sản phẩm tiêu dùng
có giá trị, góp phần phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ văn minh của
toàn xã hội.
Công nghiệp còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành
kinh tế khác như nông nghiệp giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và
củng cố an ninh quốc phòng. Không một ngành kinh tế nào lại không sử dụng
các sản phẩm của công nghiệp.
Công nghiệp tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên
thiên nhiên ở các vùng khác nhau, làm thay đổi sự phân công lao động và
giảm mức độ chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng lãnh thổ.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Công nghiệp ngày càng sản xuất ra nhiều sản phẩm mới mà không
ngành sản vật chất nào sánh được với nó vì thế tạo khả năng mở rộng sản
xuất, mở rộng thị trường lao động, tạo nhiều việc làm mới, tăng thu nhập.
1.3. Đặc điểm
Công nghiệp là một tập hợp các hoạt động sản xuất với những đặc điểm
nhất định thông qua các quá trình công nghệ để tạo ra sản phẩm.
1.3.1. Sản xuất công nghiệp bao gồm hai giai đoạn.
Sơ đồ về sản xuất công nghiệp.
1.3.2. Sản xuất công nghiệp có tính chất tập trung cao độ
Nhìn chung, sản xuất công nghiệp (trừ ngành công nghiệp khai thác
khoáng sản, khai thác gỗ…) không đòi hỏi những không gian rộng lớn. Tính
chất tập trung thể hiện rõ ở việc tập trung tư liệu sản xuất, nhân công và sản

Theo cách này, sản xuất công nghiệp được chia làm hai nhóm chính là công
nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến. Còn dựa vào công cụ kinh tế của
sản phẩm, sản xuất công nghiệp được chia làm hai nhóm: Công nghiệp nặng
( nhóm A) và công nghiệp nhẹ (nhóm B).
1.4. Các ngành công nghiệp
1.4.1. Công nghiệp năng lượng
Công nghiệp năng lượng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và
cơ bản của một quốc gia. Nền sản xuất hiện đại chỉ phát triển được với sự tồn
tại của cơ sở năng lượng nhất định. Năng lượng là tiền đề của tiến bộ khoa
học - kỹ thuật.
Ngành công nghiệp năng lượng gồm có khai thác than, khai thác dầu
khí và công nghiệp điện lực.
1.4.2. Công nghiệp luyện kim
Gồm hai ngành luyện kim đen (sản xuất ra gang, thép) và luyện kim
màu (sản xuất ra các kim loại không có sắt)
1.4.2.1. Luyện kim đen
Luyện kim đen là một trong những ngành quan trọng nhất của công
nghiệp nặng, là nguyên liệu cơ bản cho ngành chế tạo máy và gia công kim
loại. Hầu như tất cả các ngành kinh tế đều sử dụng các sản phẩm của ngành
luyện kim đen. Kim loại đen chiếm trên 90% tổng khối lượng kim loại sản
xuất trên thế giới.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngành luyện kim đen sử dụng một khối lượng lớn nguyên liệu, nhiên
liệu và các chất trợ dung như quặng sắt, than cốc và đá vôi. Qui trình công
nghệ để sản xuất ra gang và thép rất phức tạp.
Ngành luyện kim đen được phát triển mạnh từ nửa sau thế kỷ XIX
cùng với việc phát minh ra động cơ đốt trong, xây dựng đường sắt, chế tạo
đầu máy xe lửa và toa xe, tàu thuỷ và sau này là máy công cụ, máy nông

Công nghiệp điện tử - tin học là một ngành công nghiệp trẻ, bùng nổ
mạnh mẽ từ năm 1990 trở lại đây và được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn
của nhiều nước, đồng thời là thước đo trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật
của mọi quốc gia trên thế giới.
1.4.5. Công nghiệp hoá chất
Công nghiệp hoá chất là một ngành công nghiệp nặng tương đối trẻ, phát
triển nhanh từ cuối thế kỉ XIX do nhu cầu nguyên liệu cung cấp cho các
ngành kinh tế, do sự phát triển manh mẽ của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Công nghiệp hoá chất hiện nay là một ngành sản xuất mũi nhọn trong hệ
thống các ngành công nghiệp trên thế giới. Nhờ những thành tựu về khoa học
công nghệ, ngành hoá chất đã sản xuất được nhiều sản phẩm mới, chưa từng
có trong tự nhiên. Chúng vừa bổ sung cho các nguồn nguyên liệu tự nhiên,
vừa có giá trị sử dụng cao trong đời sống xã hội. Ngành hoá chất có khả năng
tận dụng những phế liệu của các ngành khác để tạo ra những sản phẩm phong
phú, đa dạng, nhờ đó mà việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên được hợp lý
và tiết kiệm hơn.
Ngành công nghiệp hoá chất được chia thành các phân ngành chính sau:
+ Hoá chất cơ bản
+ Hoá tổng hợp hữu cơ
+ Hoá dầu

Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.4.6. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng gồm nhiều ngành khác nhau, đa
dạng về sản phẩm và phức tạp về trình độ kỹ thuật, trong đó phải kể đến công
nghiệp dệt may, da giầy, nhựa, sành sứ thuỷ tinh. Sản phẩm của ngành chủ
yếu phục vụ cho nhu cầu của nhân dân.
So với các ngành công nghiệp nặng, ngành này sử dụng nhiện liệu động

của chúng nên đất nước ta, chúng đã tiến hành lần lượt hai cuộc khai thác
thuộc địa. Những chính sách khai thác thuộc địa của chúng đã khiến cho công
nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên què quặt và phụ thuộc vào nền công
nghiệp nước ngoài. Lúc bấy giờ công nghiệp không có mấy đóng góp cho
nền kinh tế quốc dân (tỷ trọng công nghiệp rất nhỏ bé), trình độ kỹ thuật yếu
kém, lạc hậu, không đồng bộ. Nhân công lúc bấy giờ dồi dào nhưng rẻ mạt và
không được đào tạo về kỹ thuật. Pháp đã tận dụng nguồn nhân công này cùng
với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú để tiến hành khai thác khoáng
sản và sản xuất các sản phẩm ở dạng sơ chế rồi mang về chính quốc.
Chúng ta đuổi Pháp về nước với Cách mạng Tháng tám (1945), sau đó
nước Việt Nam dân chủ ra đời thì không lâu sau đó chúng lại quay trở lại
xâm lược một lần nữa dưới sự bảo trợ của khối Liên Minh là: Mỹ và Anh.
Công nghiệp Việt Nam thời kỳ kháng chiến kiến quốc chủ yếu sản xuất phục
vụ nhu cầu cho kháng chiến và nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của nhân dân.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu,
miền Bắc giành được độc lập bắt tay vào xây dựng và khôi phục kinh tế từ
năm 1955 – 1960. Bên cạnh công nghiệp khai thác nguyên liệu, sửa chữa thì
miền Bắc còn có thêm công nghiệp sản xuất hàng tiêu dung và tư liệu sản
xuất bắt đầu đi vào hoạt động cung cấp cho nhu cầu của nhân dân miền Bắc
đồng thời chi viện cho đồng bào miền Nam.
Năm 1960, với Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao Động
Việt Nam, thời kỳ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ra đời , với chủ trương “
kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu
tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”.
Với việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất từ 1961 – 1965, chống
chiến tranh phá hoại của Mỹ… công nghiệp Việt Nam bắt đầu thu được

Việt Nam cần khắc phục những khuyết điểm, sửa chữa những sai lầm về
chính sách và đường lối chỉ đạo.
1.2. Chủ trương đổi mới:
Từ lịch sử của công nghiệp Việt Nam, ta có thể thấy công nghiệp Việt
Nam hình thành khá muộn so với nền công nghiệp thế giới. Đến năm 1945,
khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời thì nó mới thực sự trở thành một
ngành độc lập.
Công nghiệp Việt Nam có một xuất phát điểm thấp, cả về mặt kỹ thuật,
công nghệ lẫn khả năng ứng dụng và môi trường kinh tế để có thể phát triển
nhanh, mạnh, vững chắc.
Mặt khác, những chủ chương, chính sách không phù hợp thậm chí là sai
lầm sau ngày giải phóng không những không ưu tiên phát triển công nghiệp
mà còn làm nó trở nên cộc lệch với khả năng và trình độ của Việt nam lúc
bấy giờ dẫn đến sự không phù hợp và đã gây ra khủng hoảng kinh tế.
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tất cả đã là những chướng ngại vật ngăn cho kinh tế Việt Nam nói chung
và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng tăng trưởng và phát triển để bắt
nhịp cùng các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể nói nền kinh tế
Việt Nam nói chung và ngành công nghiệp Việt Nam nói riêng đã bị tụt hậu
so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Công nghiệp Việt Nam rất
cần một cú huých thật mạnh để có thể bật dậy và tiến những bước đi vững
chắc.
Trước vấn đề đặt ra như vậy, Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) đã
đề ra đường nối đổi mới toàn diện nhằm đưa đất nước thoát khỏi khủng
hoảng, đi vào ổn định và phát triển. Đại hội xác định: “Nhiệm vụ bao trùm và
mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn
định mọi mặt kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho
việc đẩy mạnh Công nghiệp hoá Xã hội chủ nghĩa trong thời gian tiếp theo”

nội liên tục tăng, chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tăng dần
tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến. Các khu công nghiệp, trung tâm công
nghiệp hình thành ngày càng nhiều tại các vùng kinh tế trọng điểm. Công
nghệ sản xuất và chế biến ngày càng hiện đại. Có thể nói công nghiệp thực sự
phát triển không chỉ trong nội bộ ngành công nghiệp mà sự phát triển của
công nghiệp còn tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Công nghiệp có mặt trong cả nông nghiệp và dịch vụ, hỗ trợ cho sự phát triển
các ngành khác, tạo sự chuyển biến cả về cơ cấu ngành, cơ cấu lao động và
cơ cấu vùng.
2. Công nghiệp Việt Nam từ năm 1986 dến nay.
Sau 20 năm đổi mới và phát triển, nước ta đạt được những thành tựu hết
sức to lớn về kinh tế - xã hội, tạo ra sự thay đổi sâu sắc. Ngành công nghiệp
đã có bước phát triển vượt bậc, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
được tăng cường, nhiều ngành công nghiệp mới có kỹ thuật công nghệ cao ra
đời, môi trường đầu tư cởi mở, nhiều thành phần kinh tế cùng phát triển.
Nhịp độ sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng cao và ổn định, bình quân 20
năm (1986 – 2005) tăng 12.3%, bằng 1.7 lần tốc độ tăng bình quân của 20
năm trước đổi mới (1966 – 1985). Những thành tựu quan trọng của quá trình
phát triển công nghiệp trong 20 năm đổi mới là:
2.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, năng lực sản xuất của ngành
công nghiệp ngày càng lớn mạnh.
Nguồn vốn sản xuất kinh doanh và giá trị tài sản cố định tăng khá nhanh.
Đến đầu năm 2005 tổng vốn sản xuất kinh doanh thuộc quyền sở hữu và sử
dụng của các cơ sở công nghiệp là 760508 tỷ đồng, bằng 45.7 lần năm 1990,
tăng bình quân 31.4%/năm, nếu tính trong 5 năm gần đây tăng 20.3%, trong
đó:
- Khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 26.4%/năm (5 năm gần đây tăng

ngành công nghiệp chế biến tới 66.5%, và phân bố chủ yếu vào vùng Đông
Nam Bộ (50.8%) (trong đó: thành phố Hồ Chí Minh 19.2%, Đồng Nai 9.7%,
Bà Rịa Vũng Tàu 14.2%, Bình Dương 6.7%); Vùng đông bằng sông Hồng
chiếm 16.7%, trong đó thành phố Hà Nội 6.4%, thành phố Hải Phòng 2.7%;
Vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 3.8%, 5 vùng còn lại chiếm 28.8%.
Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường tạo điều kiện phát triển, mở rộng
năng lực sản xuất. Số lượng cơ sở sản xuất tăng từ 313293 cơ sở năm 1985
lên 768920 cơ sở đầu năm 2005, bình quân mỗi năm tăng thêm 23980 cơ sở.
Trong đó:
- Số doanh nghiệp Nhà nước giảm từ 3050 doanh nghiệp xuống 1359
doanh nghiệp (mỗi năm giảm 89 doanh nghiệp).
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Cơ sở ngoài quốc doanh tăng từ 310243 cơ sở năm 1985 lên 612959 cơ
sở đầu năm 2005 ( mỗi năm tăng 15135 cơ sở).
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài năm 1985 chưa có nhưng đầu
năm 2005 đã có 2351 doanh nghiệp.
Cùng với số cơ sở tăng lên, số lao động cũng tăng từ 2510274 người năm
1985 lên 4932217 người đầu năm 2005, bình quân mỗi năm tăng 127471
người, trong đó:
- Khu vực doanh nghiệp nhà nước đầu năm 2005 là 889521 người (bình
quân mỗi năm tăng 7976 người).
- Khu vực ngoài quốc doanh (kể cả cơ sở cá thể) đầu năm 2005 là
3069365 người (bình quân mỗi năm tăng 51228 người).
Trong 3 khu vực trên, lao động làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh
chiếm 62.2% ( trong khi vốn chiếm 21.9%, tài sản cố định chiếm 18.5% và
giá trị sản xuất chiếm 26.9%), thể hiện ý nghĩa giải quyết việc làm của khu
vực này rất lớn.
Đi kèm với số cơ sở và lao động tăng lên, nguồn vốn và tài sản cố định

tăng 12.5%, năm 2003 tăng 12.7%, năm 2004 tăng 11.9% và năm 2005 tăng
8.7%, bình quân 1986 – 2005 tăng 10.4% năm ( doanh nghiệp Nhà nước do
trung ương quản lý tăng bình quân 11.7%/năm, do địa phương quản lý tăng
bình quân 7.4%/năm)
Doanh nghiệp Nhà nước tăng thấp và giảm dần là chủ trương sắp xếp
doanh nghiệp nhà nước, hạn chế tăng thêm doanh nghiệp mới, những daonh
nghiệp hiện có được cổ phần hoá và chuyển qua khu vực ngoài quốc doanh
hoặc giả thể (năm 2000 là 95 doanh nghiệp, năm 2001: 86 doanh nghiệp, năm
2002: 115 doanh nghiệp, năm 2003: 146 doanh nghiệp, năm 2004: 162 doanh
nghiệp, sơ bộ năm 2005 khoảng: 180 doanh nghiệp). Số doanh nghiệp Nhà
nước cổ phần hoá hàng năm có tới 80% là doanh nghiệp Nhà nước địa
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phương, nên nhịp độ tăng trưởng của khu vực doanh nghiệp Nhà nước địa
phương ngày càng thấp so với nhịp độ tăng của doanh nghiệp Nhà nước trung
ương. Mặc dù số doanh nghiệp qua các năm giảm dần từ 3050 doanh nghiệp
ở năm 1985 đến năm 2004 còn 1359 doanh nghiệp, dự kiến năm 2005
khoảng 1253 doanh nghiệp, nhưng nhịp độ sản xuất hàng năm vẫn tăng là
kết quả có tính cực, thể hiện hiệu quả của chính sách và các biện pháp tổ
chức sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Chính phủ.
Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh tăng bình quân 11.8%, 5 năm
gần đây là khu vực luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất so với các khu vực
khác, năm 2001 tăng 21.5%, năm 2002 tăng 18.3%, năm 2003 tăng 23.3%,
năm 2004 tăng 23.6% và năm 2005 tăng 25.8%, bình quân 5 năm tăng
22.5%, chủ yếu do phát triển mới và chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước
cổ phần hoá chuyển qua.
Năm 2000, Luật Doanh Nghiệp có hiệu lực đã tạo động lực cho các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển khá nhanh ở các loại hình doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Cũng trong

phi kim loại, sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại (trừ máy móc
thiết bị) tăng bình quân 12.2%/năm. Tăng chậm nhất là các ngành có công
nghệ thấp (gồm thực phẩm đồ uống, thuốc lá, thuốc lào, dệt, may, da giầy,
sản xuất giấy và các sản phẩm từ gỗ, giấy, sản xuất giường tủ, bàn ghế, sản
xuất sản phẩm tái chế, xuất bản, in) tăng bình quân 9.8%/năm.; Đó là xu
hướng tăng trưởng tích cực, phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta, nó
phản ánh quá trình cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng ngày càng mở
rộng và phát triển nhanh hơn các ngành công nghiệp có công nghệ cao, để tạo
ra những sản phẩm tiêu dùng có giá trị cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày
một nâng lên ở trong nước và tham gia xuất khẩu như: ô tô, sản phẩm điện tử,
đóng tàu…Đồng thời phát triển các ngành có công nghệ trung bình nhằm giải
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quyết nhu cầu trong nước, hạn chế nhập khẩu, tận dụng thế mạnh và điều
kiện sản xuất cho phép như: sản xuất phân bón, hoá mỹ phẩm, cao su, plastic,
sản xuất vật liệu xây dựng, thuỷ tinh gốm sứ, sản xuất kim loại…Mặt khác,
vẫn duy trì nhịp độ tăng trưởng ở mức cao các ngành có công nghệ thấp để
giải quyết cơ bản những sản phẩm tiêu dùng thông thường về ăn, mặc, văn
hoá phẩm và đồ dùng thiết yếu trong nhà, cũng như tạo thêm nhiều việc làm
cho xã hội, vì các ngành có công nghệ thấp đều sử dụng nhiều lao động như:
dệt may, da giầy, sản xuất và chế biến thực phẩm, sản xuất các sản phẩm từ
gỗ, tre, nứa, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy. Đó cũng là mục tiêu của công
nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.
Quan hệ tăng trưởng giữa các nhóm ngành sản xuất từ nguyên vật liệu
ban đầu với nhóm ngành chủ yếu là công nghệ lắp ráp cũng khác nhau và
diễn ra theo xu hướng hoạt động gia công lắp ráp tăng rất nhanh so với các
ngành từ nguyên vật liệu ban đầu. Nếu năm 1985 những ngành chủ yếu từ
nguyên vật liệu ban đầu chiếm 83.0%, đến năm 2005, những ngành chủ yếu
từ nguyên vất liệu ban đầu chiếm 78.0%.

sản phẩm may mặc 13.7 lần, đường 2.9 lần, bia 16.5 lần, xà phòng bột giặt
8.4 lần. Nhiều sản phẩm năm 1985 chưa có thì đến năm 2005 đã có mức sản
xuất khá cao, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, có một số sản
phẩm xuất khẩu như: Khai thác dầu thô năm 2005 đạt 18.5 triệu tấn, khí đốt
6.44 tỷ m
3
, lắp ráp ô tô 64033 cái, xe máy 2.02 triệu cái, tủ lạnh 13.7 triệu
cái, máy giặt 528 nghìn cái, máy điều hoà không khí 131 nghìn cái, bếp ga
1.6 triệu cái…Nhờ vậy đã giải quyết được cơ bản nhu cầu tiêu dùng sản
phẩm công nghiệp trong nước, giảm tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng trong
tổng gía trị nhập khẩu từ 15.2% (năm 1985) xuống còn 5% (năm 2004). Nâng
mức bình quân đầu người của một số sản phẩm quan trọng ngang mức trung
bình và khá so với các nước ASEAN như:
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sản phẩm
Đơn vị
tính
1985 2005 So sánh (lần)
- Điện
- Than đá
- Dầu mỏ thô
- Thép
- Xi măng
- Giấy
- Đường
- Bia
- Thuốc viên
các loại

45.6
13.4
8.2
2.1
11.9
3.0

2.2.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng tích cực:
Cơ cấu ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (tính
theo giá thực tế) tăng nhanh, năm 1985 chiếm 28.2%, năm 2000 là 31.4%,
năm 2003 lên 33.4%, dự tính năm 2005 là 34.1% (tính theo giá thực tế), tạo
ra chuyển dịch cơ cấu đáng kể trong nền kinh tế quốc dân theo hướng tăng
nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ
sản.
Tỷ trọng khu vực doanh nghiệp Nhà nước trong tổng giá trị sản xuất tính
theo giá cố định trong những năm 1985 – 1990 tăng dần, nhưng từ năm 1991
đến nay giảm đi nhanh chóng. Nếu năm 1985 tỷ trọng DNNN chiếm 56.3%,
thì năm 1990 tăng lên 58.0%, đến năm 1995 là 57.3%, năm 2000 còn 41.8%,
năm 2004 là 37.0% và năm 2005 còn 34.3%. Trong đó DNNN do trung ương
quản lý giảm từ 34.0% (năm 1985) xuống còn 25.2% năm 2005; DNNN do
địa phương quản lý giảm nhanh hơn, từ 22.3% (năm 1985) xuống còn 9.1%
(năm 2005).
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khu vực ngoài quốc doanh đã có thời kỳ chiếm tỷ trọng khá cao (1985 –
1990) từ 43.7% đến 44.1% (chủ yếu là kinh tế hợp tác xã), nhưng từ năm
1991 đến 2000 liên tục giảm từ 31.5% (năm 1991) xuống còn 22.3% năm
2000 và bắt đầu tăng đần từ 2001 là 23.6% đến 2005 lên 28.5%.
Trong hơn 20 năm đổi mới doanh nghiệp ngoài quốc doanh có những

cũng đã gia tăng sản xuất và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn như: sản xuất kim
loại năm 1985 chiếm 1.7%, năm 2005 là 3.3%, sản xuất các sản phẩm khác từ
kim loại (trừ máy móc thiết bị) từ 2.6% tăng lên 3.8%, may mặc từ 2.7% lên
3.7%. Sản xuất các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại từ 8.2% lên 9.1%.
Ngành công nghiệp khai thác mỏ chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng từ năm 1995
đến nay giảm từ 13.4% năm 1995 xuống còn 9.1% năm 2005, nguyên nhân
chủ yếu là ngành khai thác dầu khí chiếm trên 70% giá trị sản xuất của ngành
khai thác, thì tỷ trọng giảm dần từ 10.5% (năm 1995) xuống còn 6.5% (năm
2005).
Ngành sản xuất điện, nước năm 1985 chiếm5.4%, năm 2000 là 6.5%,
trong đó sản xuất điện 6.0%, sản xuất nước 0.5%, đến năm 2005 còn 6.0%
(điện 5.6% và nước 0.4%). Với tỷ trọng này cho thấy sản xuất điện, nước mới
ở mức rất thấp, nhưng từ năm 2000 lại đây, tỷ trọng chiếm trong toàn ngành
đã không tăng mà còn giảm nhẹ ở năm 2005. Vì vậy mất cân đối về cung cấp
điện, nước luôn tiềm ẩn và còn ảnh hưởng trực tiếp lâu dài đến nền kinh tế
nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng.
Những vùng công nghiệp trọng điểm vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Vùng đồng
bằng sông Hồng tỷ trọng tăng 21.1% năm 1985 lên 22.8% năm 2005, vùng
Đông Nam Bộ từ 38% năm 1985 lên 48.2% năm 2005. Các vùng còn lại đều
giảm hoặc tăng không đáng kể như: vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ từ 8.2%
còn 5.3%, vùng đồng bằng sông Cửu Long từ 15.5% còn 9.0%, vùn Đông
Bắc từ 10.0% còn 5.0% … Đáng chú ý là các vùng miền núi và Tây Nguyên
Lương Thị Thu Hằng Lớp: Toán kinh tế 46
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vốn tỷ trọng rất nhỏ, nhưng lại không có cơ hội để tăng lên, tỷ trọng vùng
Tây Bắc vẫn chỉ ở mức 0.3%, Tây Nguyên giảm từ 1.6% xuống còn 0.82%.
Phân bố công nghiệp vẫn tập trung ngày càng lớn hơn cho các vùng công
nghiệp tập trung như vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng, chỉ
riêng hai vùng này đã chiếm 70.4% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, tất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status