Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
PHẦN MỞ ĐẦU
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1. Ngôn ngữ là chất liệu của văn học, là phương tiện phản ánh trong tác
phẩm. Từ ngữ trong tác phẩm văn học không chỉ mang nghĩa từ vựng mà
còn mang nghĩa biểu trưng hàm ẩn bên trong nhờ sự tương tác về nghĩa
với các từ ngữ hình ảnh đi kèm. Ngôn ngữ văn chương nhiều khi rất ngẫu
nhiên mà thoát ra khỏi lớp vỏ âm thanh ngôn ngữ thông thường để gợi lên
những mảnh vỡ tâm linh rất biến ảo, gợi thức những suy nghĩ quan niệm,
những tầng văn hoá sâu xa. Cái phần bóng gió bên ngoài ngôn ngữ mà
tạo cho văn chương tính chất “ý tại ngôn ngoại” còn gọi là những biểu
tượng. Chính những biểu tượng này tạo nên sức hấp dẫn cho ngôn ngữ
nghệ thuật. Tìm hiểu những tầng nghĩa ẩn chứa trong từng biểu tượng sẽ
giúp ta nhìn nhận vấn đề ở những phương diện mới vừa lí thú lại vừa khoa
học. Vì vậy khám phá văn chương từ góc độ biểu tượng thiết nghĩ không
chỉ đơn thuần là công việc của ngôn ngữ học mà còn là việc làm cần thiết
của những người làm công tác nghiên cứu văn học.
2. Trong số các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Chế Lan Viên là người ưa tìm
đến những biểu tượng hơn cả. Trong thơ ông ta bắt gặp không biết bao
nhiêu những biểu tượng khác nhau. Chính việc sử dụng những biểu tượng
trong thơ đã làm nên phong cách triết lí trí tuệ của nhà thơ họ Chế này.
Một trong những hình ảnh sống động và gần gũi với chúng ta hơn cả là
hình ảnh trời xanh. Vì vậy trong bài này, chúng tôi đi khảo sát biểu tín
hiệu trời xanh trong thơ của ông. Với mong muốn giải mã tín hiệu này từ
đó tìm ra mã khoá cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên.
1
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
B: PHẦN NỘI DUNG
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỪ - TÍN HIỆU THẨM MỸ
- Từ ngữ vừa được dùng trong nghĩa chính, vừa dùng trong nghĩa bóng
tu từ, tức là vừa thuộc trường hợp thứ nhất, vừa thuộc trường hợp thứ
hai (vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa biểu trưng).
(Đỗ Hữu Châu - Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXBGD, H,
1981)
Hai trường hợp sau nghĩa chuyển của từ chuyển đổi dựa theo phương thức
chuyển nghĩa, là “sự sáng tạo các hình ảnh ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật
bằng cách chuyển đổi ý nghĩa của từ và hình ảnh để tạo ra các giá trị biểu cảm
mong muốn” (Từ điển thuật ngữ văn học, NXBGD, 1992).
Ý nghĩa của từ chính là sự vật hiện tượng tồn tại trong thực tế khách quan
phản ánh vào ngôn ngữ thông qua nhận thức chủ quan của con người.Ban đầu,
từ chỉ có một nghĩa gốc, một nghĩa đen, nhưng trong quá trình phát triển của xã
hội con người nhận thức các sự vật hiện tượng trong đời sống không phải chỉ với
những giá trị thực dụng mà còn nhận thức về những giá trị văn hoá, giá trị tinh
thần của những đối tượng đó. Từ đó mà từ mang trong mình những nét nghĩa
phát sinh. Đa số các từ trong tiếng Việt đều mang từ hai nét nghĩa trở lên. Các
nét nghĩa được tập hợp theo một quy tắc nhất định và có mối quan hệ hết sức
chặt chẽ với nhau. Tập hợp các nét ý nghĩa đó của từ được gọi là cấu trúc nghĩa
của từ.
Giá trị văn hoá, giá trị tinh thần tạo nên ý nghĩa của từ không chỉ gồm
những hiểu biết lí tính về sự vật, mà nó còn bao hàm cả tình cảm, thái độ của xã
hội và con người. Với bất kì một thứ ngôn ngữ nào trên thế giới, số từ của nó dù
có phong phú và đa dạng đến đâu thì cũng chỉ có giới hạn trong khi nhận thức
của con người luôn phát triển và không có điểm dừng. Trong quá trình sống và
làm việc, vì con người luôn tự làm giàu cho nhận thức của mình nên những khái
niệm sẵn có không đủ đáp ứng sự phát triển nhận thức của con người. Vì vậy,
bản thân thực tế đời sống đòi hỏi những khái niệm phải tăng lên để đáp ứng nhu
cầu, nhưng trí nhớ của con người lại có giới hạn. Do đó con người đã dùng ngay
những từ sẵn có để biểu đạt những khái niệm mới. Tính nhiều nghĩa của từ, tức
3
những hình thức vật chất có khả năng gợi ra hình ảnh mặc nhiên đều được coi là
4
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
tín hiệu, không phân biệt nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo, có chức năng giao
tiếp hay phi giao tiếp.
Ngôn ngữ nghệ thuật có mối quan hệ mang tính chất có lí do, đòi hỏi giải
thích quan hệ giữa chất liệu và nội dung. Các hình thức chất liệu bao gồm nhiều
cấp độ: Các rừ ngữ, kiểu kết cấu, kiểu quan hệ của văn bản nghệ thuật. Và ý
nghĩa nghệ thuật được biểu hiện thông qua hình thức chất liệu đó. Để giải thích
được mối quan hệ đó thì luôn phải đặt các yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật trong một
hệ thống các yếu tố văn bản, hệ thống các yếu tố phong cách tác giả, đồng thời
trong hệ thống các yếu tố ngôn ngữ và phông văn hóa (tức mối quan hệ liên văn
bản). Chúng ta có thể xác định ý nghĩa ý nghĩa tín hiệu của ngôn ngữ trên tất cả
những đơn vị mang nghĩa từ “từ” đến “cụm từ”, “câu”, “đoạn”, “văn bản”. Mỗi
từ, ngữ, câu nói nào đó có thể vừa mang những thông tin về sự vật, hiện tượng
được nói tới, vừa bộc lộ những đặc điểm về địa phương, về nghề nghiệp, trạng
thái tâm lí người nói… Nhưng dù ở bất kì cấp độ nào thì một tín hiệu ngôn ngữ
cũng phải bao hàm một hình thức ngữ âm (cái biểu hiện) tương ứng với một nội
dung ngữ nghĩa (cái được biểu hiện), và ở bất kì cấp độ nào giá trị tín hiệu của
ngôn ngữ cũng phải do những mối quan hệ thuộc hệ thống ngôn ngữ quy định.
Nếu ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ phi nghệ thuật có chức năng giao tiếp
là chủ yếu thì ngôn ngữ nghệ thuật lại được nhấn mạnh ở chức năng thẩm mĩ.
Chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học là ở chỗ các tín
hiệu ngôn ngữ là yếu tố tạo thành của hình tượng. Từ các tín hiệu thẩm mĩ đó
chúng ta sẽ khám phá được vẻ đẹp của văn chương.
2.2: Tín hiệu thẩm mĩ.
2.2.1: Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ.
Bước vào thế giới nghệ thuật, các tín hiệu thông thường sẽ chuyển hoá
thành tín hiệu thẩm mĩ, mang nhiều đặc thù riêng biệt của nghệ thuật. Các nhà
tín hiệu thẩm mĩ?” tác giả chủ trương căn cứ vào sự tương ứng của tín hiệu thẩm
mĩ với các “vật qui chiếu” thuộc thế giới hiện thực. Chẳng hạn như một cánh cò,
một con thuyền, một dòng sông… Tín hiệu thẩm mĩ là cái “được tác giả lựa
chọn từ thế giới hiện thực mà xây dựng nên, sáng tạo ra”. Từ các “vật qui chiếu”
6
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
của thế giới hiện thực thông qua lăng kính sáng tạo nghệ thuật của nhà văn mà
chúng trở thành các tín hiệu thẩm mĩ.
Như vậy có thể khẳng định tín hiệu thẩm mĩ là toàn bộ những yếu tố hiên
thực, những chi tiết, sự vật hiện tượng của đời sống được đưa vào tác phẩm và
mục đích thẩm mĩ.
2.2.2: Những đặc trưng của tín hiệu thẩm mĩ.
2.2.2.1: Đặc tính về nguồn gốc
Tín hiệu thẩm mĩ có nguồn gốc trước hết từ thế giới hiện thực, thế giới
tâm trạng, gồm những chi tiết, những sự vật hiện tượng, trạng thái có trong đời
sống khách quan, đời sống tinh thần được nghệ sĩ lựa chọn và sáng tạo vì mục
đích thẩm mĩ.
Tín hiệu thẩm mĩ còn có nguồn gốc từ những tưởng tượng lôgíc hoặc phi
lôgíc của trực giác, vô thức… của người nghệ sĩ. Vì vậy cần phải xác định xem
nó được qui chiếu từ nguồn gốc - hiện thực nào, từ thế giới thực hay thế giới ảo
mà Đỗ Hữu Châu gọi chung là “thế giới khả hữu”.
Dù có nguồn gốc như thế nào, khi các tín hiệu được trình bày phục vụ cho
một tưởng thẩm mĩ nhất định, được nhân thức bởi một chủ thể thẩm mĩ nhất
định thì đều trở thành những tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học.
2.2.2.2: Đặc tính về cấp độ.
GS.TS Đỗ Hữu Châu phân biệt tín hiệu thẩm mĩ ở hai cấp độ cơ bản:
- Cấp độ cơ sở (tín hiệu đơn): Tín hiệu tương ứng với một chi tiết, một
sự vật hiện tượng thuộc thế giới khách quan: Mặt trời, con thuyền, nỗi
nhớ… Đó là các tín hiệu cơ sở có chức năng tham gia cấu tạo nên tín
hiện, dẫn các sự vật hiện tượng trong đời sống khách quan vào trong tác phẩm.
Trong hội hoạ là những đường nét, màu sắc của hiện thực. Trong văn học là
những từ ngữ, kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm nhất định, gắn với
hiện thực…
2.2.2.5: Đặc tính biểu cảm (bộc lộ).
Tín hiệu thẩm mĩ là sản phẩm lao động nghệ thuật trong trạng thái cảm
hứng - thẩm mĩ cao độ. Vì thế tín hiệu thẩm mĩ phải bao hàm những thông tin về
cảm xúc, thái độ, về sự đánh giá, về tư tưởng thẩm mĩ của người nghệ sĩ. Trong
8
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
tín hiệu thẩm mĩ, cảm xúc vốn là cái chủ quan của chủ thể sáng tạo đã được
khách quan hoá thành một thành phần quan trọng của cơ cấu ngữ nghĩa tín hiệu
thẩm mĩ. Cảm xúc ấy có khả năng khơi gợi sự đồng cảm cao độ ở người tiếp
nhận, là kết quả của sự hoà quyện đồng điệu giữa tình cảm chủ thể cá nhân tác
giả với tình cảm khách thể mang tính nhân loại đã được hình thức hoá, nghệ
thuật hoá. Từ đó, chủ thể tiếp nhận mới có thể cảm thụ và lí giải được tín hiệu
thẩm mĩ.
2.2.2.6: Đặc tính biểu trưng.
Đây là đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ xét trong mối quan hệ hai mặt cái
biểu hiện và cái được biểu hiện. Đó là mối quan hệ “có lí do” liên quan đến năng
lực biểu trưng hoá của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật hiện tượng được đưa
vào làm tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm. Pierce cho rằng: “Biểu trưng có quan
hệ với đối tượng của nó chỉ qua một nghĩa có tính chất ước lệ mà người ta “gán”
cho nó trong một hoàn cảnh nào đó… Nghĩa đó là do con người trong cộng
đồng đặt ra mà thôi”. Tính chất ước lệ này chỉ ra những lí do về mặt lịch sử xã
hội trong việc sử dụng các biểu trưng, chỉ ra việc lựa chọn chất liệu – cái biểu
hiện nào làm biểu trưng đều có lí do. Biểu trưng, một mặt có tính hình tượng cụ
thể, cái biểu hiện nó là một đối tượng nào đó được qui chiếu từ hiện thực. Mặt
khác, là ý nghĩa xã hội nào đó được cả cộng đồng chấp nhận.
khả năng phân tích ngữ nghĩa. Những từ đó không đơn thuần là vỏ vật chất của
ngôn ngữ mà là từ mang ý nghĩa thẩm mĩ đặc biệt, là từ - tín hiệu thẩm mĩ trong
tác phẩm văn học.
Từ - tín hiệu thẩm mĩ phân biệt với các từ ngữ thông thường khác ở chỗ ý
nghĩa của nó không bao giờ chỉ dừng lại ở phạm vi tái tạo hiện thực, gọi tên hiện
thực như nó vốn có mà là sự lồng ghép một khái quát nghệ thuật về một tưởng,
một ý nghĩa thẩm mĩ theo chủ quan của người nghệ sĩ.
Ngôn ngữ khi đã trở thành ngôn ngữ văn chương nó có những đặc thù
riêng, là phương tiện phản ánh của tác phẩm. Nó không tồn tại một cách độc lập
mà có mối quan hệ khăng khít về cấu tạo cũng như ý nghĩa với các từ đứng
trước và sau nó. Vì vậy khi nghiên cứu các từ - tín hiệu thẩm mĩ trong văn học
10
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
cần phải đặt chúng trong hệ thống. Cần tránh việc đưa ra những nhận xét, những
kết luận mang tính võ đoán về các từ - tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học.
Bên cạnh đó cũng cần khẳng định thêm rằng ý nghĩa của một từ - tín hiệu
thẩm mĩ trong sáng tác văn học không phải luôn ổn định và bất biến mà có sự
biến đổi cho phù hợp với ngữ cảnh và ý đồ sáng tạo của tác giả, có sự xê dịch
trong cảm nhận của con người trong từng thời đại. Như vậy có thể khẳng định
tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu của cái đẹp, của những giá trị nghệ thuật đầy tính
sáng tạo, đòi hỏi khả năng liên tưởng của cả người sáng tạo lẫn người tiếp nhận.
CHƯƠNG II: KHẢO SÁT, THỐNG KÊ VÀ PHÂN LOẠI
Chế Lan Viên là một trong những tên tuổi hàng đầu của nền thơ ca Việt
Nam thế kỉ xx. Ông có một trí tuệ sắc sảo, một hồn thơ đa dạng. Điều này được
biểu hiện trên mọi phương diện trong sáng tác của ông. Đặc biệt là việc sáng tạo
hình ảnh. Nhiều hơn cả trong thế giới hình ảnh thơ Chế Lan Viên là những hình
ảnh mang nghĩa tượng trưng. Hầu như tất cả các bài thơ của ông đều có những
hình ảnh mang nghĩa biểu trưng như vậy: Con tàu; Vầng trăng, hoa, mưa… trời
xanh tuy không phải là tín hiệu xuất hiện với tần số lớn nhất nhưng cũng là tín
a b c d đ e g h tổng
Tần số
xuất
hiện
Điêu tàn 1 2 2 1 6
Gửi các anh 1 1
Ánh sáng và phù sa 2 3 18 7 1 1 32
Hoa ngày thường - chim báo bão 5 1 2 1 9
Những bài thơ đánh giặc 2 1 1 4
Đối thoại mới 2 4 13 2 2 3 26
Hoa trước lăng Người 1 1
Hái theo mùa 2 2
Di cảo thơ 2 1 1 2 2 1 9
Hoa trên đá 3 2 1 6
Tổng số 7 13 19 31 6 7 6 7 96
12
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
g: Trời xanh biểu trưng cho quá khứ.
h: Trời xanh biểu trưng cho tâm hồn thi sĩ.
3: Nhận xét :
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy tín hiệu trời xanh xuất hiện trong 10
tập thơ trên tổng số 11 tập thơ của Chế Lan Viên với tất cả là 96 lần. Chỉ có tập
“Ta gửi cho mình” là không xuất hiện tín hiệu này. Số lần tín hiệu trời xanh
xuất hiện trực tiếp là 78 lần, còn gián tiếp với các biến thể là 18 lần.Trong đó có
8 biến thể từ vựng: Trời biếc,thanh thiên, sắc ngọc, khoảng biếc….
10 biến thể kết hợp: Trời đã xanh rồi, trời ta cú biếc, trời rất đỗi trong xanh, bầu
trời màu xanh xa,…
Tần số xuất hiện của trời xanh không đều trong các tập thơ. Chủ yếu nằm ở tập
“Ánh sáng và phù sa” (Xuất hiện cả trực tiếp và gián tiếp là 32 lần chiếm
2.3: Những tính từ đi kèm với từ trời xanh.
2.3.1: Kết hợp trước với tính từ.
Tiếc (tiếc trời xanh), biếc (biếc trời xanh), đen (đen trời xanh)
2.3.2: Kết hợp sau với tính từ.
Xanh (Trời xanh xanh), biếc (trời xanh biếc), ngời chói (trời xanh ngời chói),
nhức nhối (trời xanh nhức nhối), xa (trời xanh xa).
2.4: Những phụ từ kết hợp với từ trời xanh.
14
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
2.4.1: Kết hợp trước với phụ từ:
Dưới (dưới trời xanh), đây (đây trời xanh), lúc (lúc trời xanh), vẹn (vẹn trời
xanh), tựa (tựa trời xanh), lắm (lắm trời xanh)
2.4.2: Kết hợp sau với phụ từ.
Rất (trời xanh rất), ấy (trời xanh ấy), vậy (trời xanh vậy), hẳn (trời xanh hẳn),
thế (trời xanh thế), ngoài (trời xanh ngoài), ngang (trời xanh ngang), lại (trời
xanh lại), ở (trời xanh ở), trên (trời xanh trên), trong (trời xanh trong), của (trời
xanh của), đó (trời xanh đó), sau (trời xanh sau), hốt (trời xanh hốt), nhưng
(trời xanh nhưng).
2.5: Số từ kết hợp với từ “Trời xanh”
Một (một trời xanh), cả (cả trời xanh).
2.6: Tình thái từ kết hợp với từ trời xanh
Ới (trời xanh ới).
Nhận xét: Qua kết quả thống kê chúng ta thấy yếu tố đi kèm trước với từ trời
xanh thường là danh từ, động từ, phụ từ. Còn yếu tố đi kèm sau từ trời xanh
thường là phụ từ, động từ, và một số danh từ, tính từ.
II: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGỮ NGHĨA.
Trong thơ Chế Lan Viên 96 lần từ trời xanh được xuất hiện như đã thống
kê ở trên vừa được sử dụng với nghĩa thực, vừa được sử dụng với nghĩa biểu
trưng. Nhưng nghĩa biểu trưng không cố định, bất biến mà nó luôn thay đổi tuỳ
màu xanh. Vì vậy khi đi tìm hiểu nghĩa trời xanh trong văn học nhân loại
chúng tôi cũng căn cứ trên cả hai nghĩa đó.
Khi tín hiệu trời xanh chỉ trời thì tín hiệu này gần như mang nghĩa phổ
quát mà qua đó con người thể hiện niềm tin vào thần thánh ở trên cao, người
sáng tạo ra vũ trụ và bảo đảm cho sự phì nhiêu của đất. Từ đó có nghĩa là
trời xanh biểu hiện trực tiếp của cái siêu tại, biểu tượng cho uy quyền, cho
sự vĩnh hằng, cho những điều thiêng liêng nhất mà không một sinh vật nào
trên mặt đất này có thể đạt được. Đồng thời tín hiệu này còn có ý nghĩa là sự
vô tận, từ đó tất cả những gì diễn ra trong khoảng không gian này, sự chuyển
động của các yếu tố tinh cầu, mây bay , bão táp… đều mang nghĩa biểu hiện
sự hiển linh vô tận ấy.
Ngoài ra trong quan niệm của nhân loại thì trời xanh chỉ trời còn là biểu
tượng của những uy lực tối cao đối với con người, khi là sự ban ân thiện chí
lúc lại là hậu hoạ đáng sợ. Hay nó có thể được coi là cái ô, cái lọng lớn để
che nắng cho nhân loại. Rồi nó cũng có thể là con chim bồ câu nhỏ để mang
nghĩa tượng trưng lớn là đem hoà bình, tự do đến cho con người, cho nhân
loại. Chữ trong Hán ngữ biểu thị cái mà con người đội lên đầu mình.
Đó là những uy lực bao la không thể dò được và càng không thể khống chế.
trời xanh cũng là nơi cực lạc, là nơi ở của các thánh nhân vì vậy nó mang
nghĩa niềm vui, cái đẹp, cho hạnh phúc mà con người vẫn khát khao đạt
được.
Trời xanh trong quan niệm của con người còn là biểu tượng của tâm hồn
hay cụ thể hơn là biểu tượng của lương tâm, lương tri, cho cả những hoài bão
của con người. Và ta cũng hiểu vì sao mà người ta lại nghĩ “sấm sét xé trời
lại là tượng trưng đích thực cho sự khai mở tinh thần,sự thức tỉnh lương tri”.
(Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới).
Nhưng khi trời xanh chỉ màu xanh thì tín hiệu này ngoài những nghĩa đã
nói trên còn tượng trưng cho sự chia cắt. Theo quan niệm của phật giáo Tây
Tạng, màu xanh da trời là sự Hiển minh siêu nghiệm của tiềm năng. Ánh
17
lưu ý.
1: “Trời xanh” biểu trưng cho một thế giới bát ngát, vĩnh viễn, cho con người
hướng giải thoát.
Biểu tượng trời xanh mang nghĩa biểu trưng này xuất hiện 9 lần chiếm 9,5%
tổng số. Với nét nghĩa này trời xanh không nằm tập trung ở bất cứ tập thơ nào,
giai đoạn sáng tác nào mà nó xuất hiện giải rác từ tập “Điêu tàn”- thuở 17 tuổi
đến tập “Di cảo thơ” - những năm cuối đời. Điều này đã phản ánh một thực tế,
dù ở bất cứ giai đoạn sáng tác nào thì tâm hồn của nhà thơ họ Chế này vẫn còn
những điều uẩn khúc, những bế tắc mà không thể dùng bất cứ hiện thực nào lí
giải được, cũng không một ai có thể giúp nhà thơ tháo gỡ những vướng mắc ấy.
Vì thế trời xanh xuất hiện tựa hồ như một vị thần siêu hình có khả năng giải
thoát mọi uẩn khúc kia.
- Tôi đi giữa siêu hình
Như đất này lợm mửa
Trời xanh màu cứu khổ
Tôi lao vào trời xanh
(Ngoảnh lại mười lăm năm)
- Mà nay ta đau
Trời xanh ghé đến
Chỉ một lòng riêng
(Đi ra ngoại ô)
Nhưng cũng có khi, nỗi trăn trở về thế giới xung quanh mình tại sao đặc một
màu u ám, rối loạn, nhà thơ cất tiếng gọi trời như tìm đến một sự giải thoát
nhưng cõi siêu hình ấy cũng câm lặng, không tín hiệu phản hồi để tâm hồn
kia vẫn hoàn toàn lạc lõng cô đơn trước thực tại.
“Trời xanh hỡi! Trời xanh khôn nói
Hồn tôi muốn hiểu chẳng cùng cho”
(Đọc sách)
19
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
20
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
tự nhiên đã hoàn nguyên trở lại cho con người. Đây chính là những dòng thơ
đẹp nhất, vui nhất của “Điêu tàn”.
“Trưa lên trời. Và xanh thẳm bầu trời
Bỗng mê ly, nằm thấy trắng mây trôi”
(Trưa đơn giản)
Trời xanh được nhắc đi nhắc lại thể hiện cho một thứ tình yêu trong sáng và
tràn đầy hy vọng, thứ tình yêu duy nhất thấu hiểu và đồng cảm với nhà thơ.
- “Thăm thẳm trời cao thăm thẳm xanh
Anh trút tình thương trong sắc biếc
Ru cho em ngủ giấc trưa lành”
(Trưa )
- “Trời xanh ngoài cửa sổ
Như em xa mới về”
(Chim về)
Nhiều nhất là trời xanh mang vẻ đẹp hào hùng tự do trù phú của đất nước
Việt Nam.
- “Trời xanh nắng lộng
Cờ bay tây hồ”.
(Đi ra ngoại ô)
- “Giặc nước đuổi xong rồi. Trời xanh thành tiếng hát”.
(Người đi tìm hình của nước )
- “Trời xanh xanh bao la
Bể ngời ngời sáng bạc”
(Ném thừng )
Đó là những vần thơ đẹp ca ngợi về tổ quốc, là hình ảnh một đất nước
sống động đáng tự hào xuất hiện khi tâm hồn nhà thơ đã bắt nhịp cùng với
đời sống của nhân dân. Khi nhà thơ rời bỏ “chân trời của một người” hăm hở
(Đi ra ngoại ô)
22
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
Trong tâm hồn mỗi người có thể từ bỏ nhiều thứ nhưng riêng tình yêu và tình
mẫu tử thì ăn sâu vào máu thịt mỗi người. Tuy nhà thơ không nói trực tiếp về
những tình cảm thiêng liêng ấy nhưng đã mượn hình ảnh trời xanh để gián
tiếp khơi lên mạch cảm xúc nguồn cội và bất tử kia. Điều đó cho thấy thơ
Chế Lan Viên không chỉ là chất triết lí của một trí tuệ mang màu sắc khô
khan mà còn là nhà thơ có những tình cảm rất con người.
Trời xanh đã trở thành một người bạn đường đồng hành với nhà thơ, gần
gũi thân thiết và quan trọng như cuộc sống hàng ngày,như con người không
thể sống thiếu không khí.
“Trời xanh, trời xanh
Vây ta bốn phía
Trời xanh, ta đi
Trời xanh, ta nghỉ
Che ta như thành.”
(Đi ra ngoại ô)
Trời xanh đã hiện lên như để bao bọc, chở che, bù đắp cho con người, và
tâm hồn thơ Chế Lan Viên. Do đó nó tượng trưng cho Đảng cho nhân dân.
4: “Trời xanh” biểu trưng cho độc lập, tự do, cũng như lý tưởng, sự kiên
cường và bất khuất của nhân dân.
Chế Lan Viên tuy có rất nhiều những bức phá trong cả nội dung và nghệ
thuật làm thơ nhưng vẫn không thể tách mình ra khỏi cái guồng chung của
một thời kì lịch sử đau thương mà oai hùng của dân tộc. Hơn thế, mạch cảm
xúc thơ của Chế Lan Viên đã dành một phần lớn hướng về ngợi ca dân tộc
Việt Nam anh hùng trong những dòng thơ đầy hứng khởi say mê.
Với một nhà thơ luôn say sưa đi tìm những biểu tượng để gửi gắm nỗi tâm
tình, nói ít mà gợi nhiều như Chế Lan Viên thì trời xanh được lựa chọn với
hôm nay.
Nếu như các nhà thơ khác thường hay dùng hình ảnh mùa xuân, lá cờ biểu
trưng cho tự do, độc lập thì Chế Lan Viên lại thường sử dụng hình ảnh trời
xanh để chỉ nét nghĩa ấy:
24
Bài tập chuyên đề tiếng Việt Đàm Thị Duyên - K54A
Ngữ văn
“Và sự sống đã đến rồi, nắng đã hồng rồi, trời đã xanh rồi,
Sự sống hồng vàng và hi vọng tươi xanh đã trở lại”
(Chào mừng)
“Trời đã xanh rồi” như một tiếng reo vui của nhà thơ khi chứng kiến đất
nước đã dành được tự do. Nhưng nhà thơ cũng như tất cả những người dân
Việt Nam khi đã trải qua những năm tháng đó đều hiểu rằng, để có được bầu
trời xanh mang sự yên bình, độc lập, và giọng thơ phát ra sung sướng nhẹ
nhàng như tiếng reo kia thì hơn năm mươi triệu con người đã phải đánh đổi
bằng biết bao mồ hôi và nước mắt, hi sinh cả tính mạng đánh đuổi quân thù
để giành lại từng quãng tự do:
“Từng tấc tự do trông vời mỏi mắt
Đuổi mây dài cướp những quãng trời xanh”
(Ý nghĩa mùa xuân)
Cứ như thế, quân ta lấy ít địch nhiều, kháng chiến trường kì cuối cùng đã
giành được “Trời xanh trên nửa nước”
- Nghìn rưởi ngày đêm chiến trận gian lao
Trời xanh lại trở về trên nửa nước
(Nghìn rưởi ngày đêm)
- Trời xanh hốt dừng lại ở phía này sông Bến Hải
(Nghĩ suy 68)
Cả dân tộc đều đồng lòng một quyết tâm: “Nhân dân ta sẽ lấy lại toàn vẹn
trời xanh đó cho em, em hãy nhớ”. Sự hi sinh mất mát mà họ đổ xuống cho
cuộc chiến tranh này không bao giờ đo đếm được. Bởi vậy hơn ai hết họ