B. N I DUNGỘ
I. S c n thi t c a vi c l p k ho ch v ti nự ầ ế ủ ệ ậ ế ạ à ề
l ngươ
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay các doanh nghiệp được
quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và Nhà nước chỉ đóng vai
trò định hướng, điều tiết thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô.
Chính sách kinh tế mở cửa mang lại nhiều cơ hội song cũng đem
đến không ít những khó khăn, thách thức. Lúc này các doanh nghiệp
phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp
phải có chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn để phát huy
mọi tiềm năng bên trong cũng như nắm bắt các thuận lợi, khắc phục
các trở ngại khó khăn để tồn tại và phát triển
Mọi quá trình sản xuất phải có sự kết hợp của 3 yếu tố: lao
động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong đó lao động là
yếu tố đóng vai trò quyết định và là động lực quyết định của mọi
quá trình sản xuất kinh doanh.
Tiền lương là thu nhập bằng tiền của người lao động được
người sử dụng lao động trả tùy theo giá trị và giá trị sử dụng của sức
lao động đồng thời tuân theo quy định của pháp luật về lao động.
Tiền lương phải thỏa mãn được các yêu cầu sau:
+ Tiền lương cần phải phản ánh những yêu cầu của quy luật
thị trường với hàng hóa sức lao động, đó phải là sự thỏa thuận giữa
người lao động và người sử dụng lao động. Tiền lương trả cho
người lao động phải tương xứng với những chi phí mà xã hội, gia
đình và cá nhân người lao động đã bỏ ra.
+ Tiền lương phải thể hiện được chức năng định hướng của
nhà nước đó là khi chỉ số giá tiêu dùng tăng lên làm cho tiền lương
thực tế của người lao động bị giảm sút, chính phủ phải điều chỉnh
mức lương tối thiểu nhằm đảm bảo tiền lương thực tế.
Kế hoạch lao động tiền lương là một bộ phận của kế hoạch
kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp. Nó xác định những chỉ tiêu
xuất, lao động được thể hiện dưới dạng sức lao động.
1.2 Các loại mức lao động:
Mức lao động là một phân hệ của định mức kinh tế kỹ thuật,
gồm những thông tin dùng để biểu thị hoặc định hướng hao phí lao
động cần thiết lớn nhất để sản xuất ra đơn vị sản phẩm hoặc thực
hiện khối lượng công tác đảm bảo cho những yêu cầu nhất định về
chất lượng và phù hợp với những điều kiện khách quan về địa chất,
tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ và tở chức quản lý.
Trong thực tế, việc lập các mức lao động được tiến hành thông
qua quá trình dự thảo và áp dụng các mức thời gian, mức sản phẩm
và mức phục vụ.
Mức thời gian ( M
tg
): là số lượng thời gian cần thiết để công
nhân sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm nào đó. Mức thời gian này
không tính chung chung mà tính đến trang bị kỹ thuật cụ thể và
trình độ tở chức lao động cụ thể.
Mức sản phẩm ( M
sp
): là khối lượng sản phẩm mà một hay một
nhóm công nhân sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Mức sản
phẩm và mức thời gian có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mức thời gian
càng thấp thì mức sản phẩm càng cao và ngược lại.
1.2.1 Ý nghĩa và nhiệm vụ của mức lao động
Thông qua mức lao động ta có thể tính toán được số lượng
lao động cần thiết cho mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh trong
tương lai. Điều này có liên quan đến số lượng lao động cần thiết cho
từng bộ phận của doanh nghiệp.
Thông qua mức mới có thể quy định nhiệm vụ sản xuất cho
2.1 Khái niệm tiền lương:
Tiền lương là hình thức trả lương cho người lao động. Đó là
số tiền mà các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp trả cho công nhân viên
chức theo số lượng và chất lượng lao động họ đã đóng góp.
Về bản chất, tiền lương trong doanh nghiệp là một phần giá trị
lao động mới tạo ra trong quá trình sản xuất sản phẩm, là kết quả
của quá trình phân phối lần đầu tiên diễn ra tại doanh nghiệp. Thông
qua tiền lương có thể đánh giá được quy mô lao động, chất lượng
lao động và phần nào phản ánh được đời sống của người lao động
và phần nào phản ánh được đời sống của người lao động trong các
doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội…
Khi xây dựng tiền lương phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
• Phân phối theo lao động kết hợp với đảm bảo nhu cầu cơ bản
của các tầng lớp nhân dân.
• Tiền lương phải phù hợp với hoàn cảnh của mỗi quốc gia.
• Mức tiền lương phải đảm bảo quan hệ đúng mức của mọi
người lao động trong xã hội.
• Thang bậc lương cơ bản của Nhà nước quy định. Nhà nước
khống chế mức lương tối thiểu nhưng không khống chế mức
lương tối đa mà điều tiết bằng thuế thu nhập.
2.2 Ý nghĩa của tiền lương.
Tiền lương được trả theo nguyên tắc phân phối lao
động nên có ý nghĩa lớn đến sản xuất và người lao động. Tiền
lương có ý nghĩa sau:
• Bù đắp hao phí lao động đã bỏ ra trong quá trình lao
động. Lao động là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất,
người lao động sử dụng tiền lương của mình để bù đắp lại các
hao phí năng lượng về cả trí lực và cường lực, đồng thời để
nuôi sống gia đình. Dự bù đắp làm cho họ tiếp tục lao động
làm việc) và nghiên cứu chuyển động.
Hình thức trả công theo sản phẩm có thể thực hiện theo nhiều
chế độ khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng trả công. Dưới đây là
một số chế độ đã và đang được áp dụng trong sản xuất:
+) Chế độ trả công theo sản phẩm trực tiếp cá nhân: chế độ
trả lương này thường áp dụng đối với những công nhân sản xuất
chính mà công việc của họ mang tính chất độc lập tương đối, có
thể xác định mức và kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm một cách cụ
thể và riêng biệt. tùy vào điều kiện sản xuất và quan điểm khuyến
khích lao động của doanh nghiệp, người lao động có thể được trả
công theo đơn giá cố định, lũy tuyến hay lũy thoái. Đơn giá cố
định được tính theo công thức sau đây:
Q
L
ĐG
=
hoặc
TLĐG
×=
Trong đó:
ĐG: đơn giá sản phẩm
L: Mức lương cấp bậc của công việc
Q: Mức sản lượng
T: mức thời gian tính theo giờ.
+) Chế độ trả công theo sản phẩm tập thể: chế độ trả lương
này thường áp dụng với những công việc cần một nhóm công
nhân, đòi hỏi sự phối hợp giữa các công nhân và năng suất lao
động chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp của cả nhóm như lắp ráp
L( trung bình) : lương cấp bậc công việc bình quân của
cả tổ.
T : mức thời gian của sản phẩm
+) Chế độ trả công theo sản phẩm gián tiếp: chế độ trả
công này chỉ áp dụng cho những công nhân phụ mà công việc của
họ có ảnh hưởng nhiều đến kết quả lao động của những công nhân
chính hưởng tiền công theo sản phẩm, như công nhân sửa chữa,
phục vụ máy sợi, máy dệt trong nhà máy dệt, công nhân điều chỉnh
thiết bị trong nhà máy cơ khí,… Đặc điểm của chế độ trả công này
là thu nhập về tiên công của công nhân phụ lại tùy thuộc vào kết
quả sản xuất của công nhân chính. Do đó, đơn giá tính theo công
thức sau:
QM
L
ĐG
×
=
Trong đó:
ĐG: đơn giá tính theo sản phẩm gián tiếp.
L; Lương cấp bậc của công nhân phụ.
Q: mức sản lượng của công nhân chính.
M: số máy phục vụ cùng loại.
+) Chế độ trả công theo sản phẩm có thưởng: chế độ trả
công này, về thực chất là chế độ trả công theo sản phẩm kể trên kết
hợp với các hình thức tiền thưởng. Khi áp dụng chế độ trả công
này, toàn bộ sản phẩm được áp dụng theo đơn giá cố định, còn tiền
thưởng sẽ căn cứ vào trình độ hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu về
số lượng của chế độ tiền lương quy định. Tiền công trả theo sản
phẩm có thưởng (L
Trong hình thức trả công theo thời gian, tiền công của công
nhân được tính toán dựa trên cơ sở mức tiền công đã được xác định
cho công việc và số đơn vị thời gian ( giờ hoặc này ) thực tế làm
việc, với điều kiện họ phải đáp ứng các tiêu chuẩn thực hiện công
việc tối thiểu đã được xây dựng trước nếu muốn tiếp tục được nhận
mức tiền công cho công việc đó. Tiền công trả theo thời gian thường
được áp dụng cho công việc sản xuất nhưng khó tính được cụ thể;
hoặc các công việc đòi hỏi chất lượng cao, các công việc mà năng
suất, chất lượng phụ thuộc chủ yếu vào máy móc, thiết bị hay các
hoạt động tạm thời, sản xuất thử.
III. Lập kế hoạch lao động và tiền lương của Tổng công
ty Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí – CTCP
(DMC) năm 2011
1. Căn cứ lập kế hoạch lao động và tiền lương:
1.1 Các quy định của pháp luật và các chế độ chính sách của
nhà nước:
Bất cứ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh cũng phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật. Về
lao động, tiền lương thì phải tuân theo các quy định về quản lý và sử
dụng lao động, các quy định về trả lương nhằm đảm bảo thực hiện
các chính sách cho người lao động một cách ổn thỏa. Trong phạm vi
nội dung chuyên đề nghiên cứu tác giả đã sử dụng các nghị định và
thông tư sau:
+ Nghị định số 206/2004/NĐ-CP ngày 14-12-2004 của chính
phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và thu nhập trong các
công ty Nhà nước.
+ Nghị định 207 ngày 14-12-2004 quy định chế độ tiền lương,
tiền thưởng và chế độ trách nhiệm đối với các thành viên hội đồng
quản trị, tổng giám đốc, giám đốc công ty nhà nước.
+ Thông tư 06/2005/TT-BLĐTBXH hướng dẫn xây dựng định
STT Chỉ tiêu ĐVT Định
mức
1 Khâu tuyển rửa công/tấn 0,3125
2 Khâu nghiền quặng công/tấn 0,2857
3 Khâu phối trộn phụ
gia
công/tấn 0,2381
4 Khâu đóng gói sản
phẩm
công/tấn 0,2242