thực trạng tiếp cận vốn vay của hộ dâ xã quang phục huyện tứ kỳ tỉnh hải dương - Pdf 24

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
4
Danh mục các từ viết tắt 4
HCCB : Hội cựu chiến binh 4
HND : Hội nông dân 4
HPN : Hội phụ nữ 4
NNNN&PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn 4
NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội 4
QTDND : Quỹ tín dụng nhân dân 4
TCTDCT : Tổ chức tín dụng chính thức 4
TCTDPCT : Tổ chức tín dụng phi chính thức 4
Phần I. Mở đầu 5
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 5
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 6
1.2.1. Mục tiêu chung 6
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 6
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu 7
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu 7
1.4. Phương pháp nghiên cứu 7
1.4.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 7
1.4.2. Phương pháp thu thập số liệu 8
1.4.2.1. Số liệu thứ cấp 8
1.4.2.2. Số liệu sơ cấp 8
1
Phần II. Nội dung 10
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địas bàn nghiên cứu 10
1.1. Các khái niệm 10
1.1.1. Khái niệm tín dụng 10
1.1.2. Tín dụng chính thức và tín dụng không chính thức 10

Danh mục các từ viết tắt
HCCB : Hội cựu chiến binh
HND : Hội nông dân
HPN : Hội phụ nữ
NNNN&PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHCSXH : Ngân hàng chính sách xã hội
QTDND : Quỹ tín dụng nhân dân
TCTDCT : Tổ chức tín dụng chính thức
TCTDPCT : Tổ chức tín dụng phi chính thức
4
Phần I. Mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn là một trong những nguồn lực có vai trò quan trọng không chỉ đối với các
ngành kinh tế nói chung mà cả trong nông nghiệp nói riêng. Vì vậy việc đầu tư vốn
trong sản xuất nông nghiệp luôn nằm trong chiến lược và chính sách phát triển của nhà
nước. Việt Nam có khoảng 13 triệu nông hộ, trong đó hơn một nửa( 6 triệu ) thuộc
diện có thu nhập thấp. 40% doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn cho rằng cần có một
hệ thông tín dụng nông thôn vững mạnh để cải thiện kinh tế xã hội. Vì vậy vấn đề đầu
tư vốn và sử dụng vốn càng được quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và yêu câu của công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Với hơn 80% dân số Việt Nam song ở khu vực nông thôn, nguồn sống chủ yếu
vẫn dựa vào các hoạt động nông nghiệp. Sau 20 năm Đổi mới, nền kinh tế đã có
những thành công đáng kể. Nhờ sản xuất phát triển và thu nhập tăng, nhiều hộ đã có
tích lũy tuy còn rất nhỏ. Tính trung bình mỗi hộ nông dân tích lũy được 3,5 triệu
đồng / năm, tính chung cho toàn nông thôn ( thống kê kinh tế - xã hội năm 2009 của
tổng cục thống kê). Đây là nội lực rất quân trọng để nông thôn đổi mới trang bị và áp
dụng công nghệ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất.Tuy nhiên nguồn lực cho sản xuất của hộ
còn rất hạn hẹp, bình quân cả nước mỗi hộ chỉ có 0.49ha đất canh tác chia thành 6-7
mảnh khác nhau.Vốn cho sản xuất rất thiếu. Khoảng 90% hộ có nhu cầu vay vốn để

Hải Dương ”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn trong sản xuất nông
nghiệp tại xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương và đưa ra một số kiến nghị
một số giải pháp giúp người dân tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn vay và đạt hiệu
quả cao trong việc sử dụng các nguồn vốn đó.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu thực trạng các nguồn vốn và việc tiêp cận các nguồn vốn đó của
người dân để phục vụ trong sản xuất nông nghiệp.
Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng các nguồn vốn mà người dân tiếp cận.
Nghiên cứu những khó khăn và thuận lợi người dân gặp phải trong việc tiếp cận
các nguồn vốn và sử dụng các nguồn vốn.
6
Kiến nghị một số giải pháp giúp người dân tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn
và đạt hiệu quả cao trong việc sử dụng các nguồn vốn
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập chung chủ yếu vào nghiên cứu việc tiếp cận vốn vay các hộ nông
dân xã Quang Phục – Tứ Kỳ - Hải Dương, chú trọng những hộ dân đã vay vốn từ các
nguồn vốn và các tổ chức như : NHNN&PTNT, NHCSXH, QTDND, các tổ chức đoàn
thể và cá cá nhân cho vay vốn khác.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tiến hành nghiên cứu trên phạm vi xã Quang Phục – Tân Kỳ-
Hải Dương.
- Về thời gian: Tiến hành nghiên cứu trong khoảng thời gian năm 2011.
- Về nội dung: Nghiên cứu về thực trạng các nguồn vốn vay, khả năng tiếp cận
các nguồn vốn đó của người dân, việc sử dụng các nguồn vốn đó và những khó khăn,
thuận lợi mà người dân gặp phải.
1.4. Phương pháp nghiên cứu

hộ vay vốn của NHNN&PTNT, NHCSXH, QTDND. Tình hình vay vốn, trả lãi và nợ
gốc của các hộ.
1.4.2.2. Số liệu sơ cấp
Nhóm sử dụng một số phương pháp để tiến hành thu thập thông tin sơ cấp từ
một số phương pháp cụ thể sau thông tin.
 Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phương pháp phỏng vấn để thu thập
những thông tin cụ thể về thực trạng sử dụng các nguồn vốn trong nông nghiệp trong
đó bao gồm:
+ Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu đối với những cá nhân là cán bộ một số ban
ngành trong thôn xã và những người hiểu biết những khó khăn thuận lợi trong việc
tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn vay, thực trạng sử dụng vốn vay của người dân.
Tiến hành phỏng vấn sâu 4 cán bộ xã là: hội trưởng hội nông dân, hội trưởng hội cựu
chiến binh, hội trưởng hội phụ nữ và người phụ trách cho vay vốn của xã tại ngân
hàng NN&PTNT. Cùng với phỏng vấn 4 hộ nông dân trong xã, những người đã vay
vốn. Để tìm hiểu những thông tin chi tiết về những vấn đề vay vốn và sử dụng vốn
trong xã.
+ Phỏng vấn bằng bảng hỏi: Sử dụng bảng hỏi để thu thập số liệu với 20 mẫu
điều tra để tìm cụ thể về vấn đề nghiên cứu. Những mẫu được chọn là những hộ gia
đình chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và đã từng vay vốn ở các ngân
hàng, quỹ tín dụng… và tiến hành trên 3 loại hộ: hộ giàu, hộ trung bình và hộ nghèo.
Việc phân loại hộ sẽ cho thấy được sự khác biệt về khả năng tiếp cận và sử dụng của
những nhóm hộ trên trong việc vay vốn.
8
 Phương pháp thảo luận nhóm: sử dụng phương pháp PRA thảo luận
nhóm nông dân từ 5-7 người, gồm những người am hiểu về tình hình của địa phương
để tìm hiểu những vấn đề cụ thể có liên quan tới những khó khăn thuận lợi trong việc
tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn vay của người dân. Trong đó sử dụng công phương
pháp trưng cầu ý kiến và đánh giá xếp hạng cho điểm trong PRA để tìm hiểu những
khó khăn và thuận lợi của các hộ trong việc tiếp cận và sử dụng vốn vay.
 Phương pháp quan sát: quan sát trên địa bàn xã để có đánh giá chung về

Tín dụng không chính thức là tính dụng do các tổ chức, các cá nhân nằm
ngoài các tổ chức chính thức đã kể ở trên thực hiện.
10
Tín dụng không chính thức là hoạt động tín dụng năm ngoài khuôn khổ luật
định của Nhà nước, hoặc không phụ thuộc, không chịu sự quản lý và giám sát của
chính quyền Nhà nước các cấp.
 Cơ chế tín dụng
- Lãi suất: Là giá cả của khoản cho vay, được biểu hiện bằng tỷ lệ % giữa giá
trị lãi của khoản vay và khoản vay trong một thời gian nhất định.
- Thủ tục cho vay: Là một tập hợp các bước, các công việc cần thiết nhất định
phải tiến hành giữa người đi vay và người cho vay để thực hiện hoàn thành theo một
trình tự một nghiệp vụ tín dụng.
- Thời hạn cho vay: Là một khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt
đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi tiền vay đã được thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Thời hạn cho vay bao
gồm:
+ Cho vay ngắn hạn: Đối với khách hàng vay vốn ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu
cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống, được xác định phù hợp với chu
kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng tối đa đến 12 tháng.
+ Cho vay trung, dài hạn: Đối với khách hàng vay vốn trung, dài hạn nhằm
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống. Thời hạn
cho vay được xác định phù hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả
nợ của khách hàng và tính chất nguồn vốn cho vay của tổ chức tín dụng ( >12 tháng).
- Mức cho vay:
+ Đối với hình thức cho vay có thế chấp, giá trị món vay luôn được xác định
trên sơ sở giá trị tài sản thế chấp.
+ Đối với hình thức cho vay theo tín chấp, mức cho vay là số tiền tối đa mà các
tổ chức tín dụng có thể cho người cần vốn vay.
- Thời gian thu hồi vốn vay: Là thời gian bắt đầu từ khi người vay nhận được
khoản vay đến khi thực hiện trả lần đầu tiên về lãi hoặc nợ gốc.

nguồn tín dụng chính thức của các hộ nông dân huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn". Kết
quả nghiên cứu cho thấy, tổng giá trị gia tăng do đầu tư vốn tín dụng đem lại là 521
620 000 đồng. Trong đó, các hộ đầu tư vào ngành trồng trọt tạo ra được 202 900 000
đồng; ngành chăn nuôi tạo ra được 175 260 000 đồng; ngành Tiểu thủ Công nghiệp -
Thương mại Dịch vụ tạo ra 148 090 000 đồng. Các kết quả tính toán về giá trị gia tăng
do đầu tư vốn vay vào sản xuất kinh doanh tại Chợ Mới cho thấy có chiều hướng tốt
12
để thực hiện các chương trình đầu tư vốn cho các hộ nông dân góp phần xoá đói giảm
nghèo tại địa phương. Tuy nhiên, trên thức tế do nhiều nguyên nhân và nguyên
nhân chủ yếu là trình độ sản xuất kinh doanh và kinh nghiệm của các hộ còn hạn chế
nên nhiều hộ đầu tư vốn chưa mang lại hiệu quả cao, hoặc thua lỗ. Nhìn chung,
thông qua các chương trình đầu tư hỗ trợ, các dự án chuyển đổi cơ cấu ngành nghề
thì tại huyện Chợ Mới đã có nhiều ngành nghề được khôi phục, tạo công ăn việc làm
và tăng thu nhập cho người dân.
Để đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển thị trường tín dụng trong nông
thôn và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng trong các hộ nông dân,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại hoá ở huyện miền
núi tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Linh (2006) đã tiến hành đề tài nghiên cứu "Hiện trạng
và những giải pháp sử dụng vốn tín dụng nông thôn trên địa bàn huyện Đồng Hỷ -
Thái Nguyên" Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thị trường tín dụng nông thôn và sử
dụng vốn tín dụng của hộ nông dân huyện Đồng Hỷ. Kết quả nghiên cứu của đề tài
cho thấy, vốn tín dụng có nhiều tác động đến kinh tế hộ nông dân. Kết quả nghiên
cứu của đề tài cho thấy giá trị sản xuất giữa các ngành là khác nhau tuỳ thuộc vào từng
ngành, quy mô sản xuất giữa các ngành và trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh của
hộ. Giá trị sản xuất của - kinh doanh của hộ tăng lên rõ rệt, thấp nhất là ngành chăn
nuôi và cao nhất là ngành nghề và dịch vụ. Sự phát triển thị trường tín dụng nông
thôn đã phục vụ đắc lực cho công cuộc Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn.
Phần lớn vốn vay từ các tổ chức tín dụng được đầu tư cho phát triển ngành nghề, dịch
vụ, thương mại, trồng trọt, chăn nuôi. Góp phần tích cực vào mục tiêu chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn. Nhờ sử dụng vốn vay từ các tổ chức tín dụng mà các hộ nông

và cây vụ đông, toàn xã có 34,2 ha cây hoa màu và cây vụ đông với tổng thu nhập năm
2011 là 1 tỷ 351 triệu 120 ngàn đồng và góp phần không nhỏ vào tông thu nhập trong
toàn xã. Ngoài ra hoạt động trồng cây ăn quả tại đất vườn nhà và đất chuyển đổi trong
những năm gần đây cũng có sự phát triển với tổng diện tích là 50,99ha mang lại thu
nhập 1 tỷ 186 triệu 434 ngàn đồng. Hoạt động chăn nuôi của người dân trong xã cũng
khá đa dạng. Những hình thức chăn nuôi chủ yếu là nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm và đặc
biệt là thả cá. Năm 2011 chăn nuôi cũng đem lại thu nhập khá cao và góp phần không
nhỏ vào tổng thu nhập kinh tế của toàn xã, cụ thể: Giá trị thu nhập từ bê con xuất thịt
là 200 triệu đồng; giá trị thu nhập của đàn lợn là 1 tỷ 310 triệu 200 ngàn đồng; đàn gia
cầm đem lại thu nhập 2 tỷ 975 triệu 400 ngàn đồng ; về cá đạt thu nhập 2 tỷ 762 triệu
500 ngàn đồng ( nguồn từ báo cáo kinh tế xã năm 2011).
14
Hiện nay trong toàn xã đã tiến hành dồn điền, đổi thửa với toàn bộ các thôn.
Việc này khiến cho sản xuất nông nghiệp trong những năm gần đây có nhiều chuyển
biến tích cực. Số hộ dân mạnh dạn đầu tư cho phát triển trang trại tạo những khu
chuyển đổi không ngừng tăng lên theo hàng năm. Trong xã có 3 thôn Bích Lâm, Bích
Cẩm, Thái An là có số lượng trang trại được thành lập là nhiều nhất. Những trang trại
tại khu chuyển đổi của người dân chủ yếu phát triển mô hình VAC trong đó chú trọng
đến thả cá và chăn nuôi gia cầm. Việc phát triển mô hình trang trại của các hộ cũng
cần một lượng vốn khá lớn nên phần lớn các hộ đều đi vay vốn để phát triển mô hình
sản xuất của gia đình.
15
Chương 2. Kết quả nghiên cứu
Việc sử dụng vốn cho phát triển nông nghiệp là điều cần thiết cho nền kinh
tế. Tuy nhiên khi nguồn vốn tích lũy của các hộ nông dân còn hạn chế thì các nguồn
vốn vay đóng vai trò khá quan trọng. Tại nông thôn nước ta các nguồn vốn vay được
chia thành 2 nguồn TDCT và nguồn TDPCT. TDCT là hình thức huy động vốn và cho
vay vốn thông qua các tổ chức tài chính tín dụng chính thức có đăng ký và hoạt động
công khai theo theo luật, hoặc chịu sự quản lý và giám sát của chính quyền Nhà nước
các cấp. TDPCT là hoạt động tín dụng năm ngoài khuôn khổ luật định của Nhà nước,

Vay đại lý Tín chấp 1,5- 2
Vay từ nguồn khác Tín chấp 2- 3
Nguồn: Số liệu nghiên cứu thực tế tháng 3 năm 2012
Qua bảng 2.1 ta có thể thấy trong toàn xã có tất cả 6 nguồn vốn cho vay trong
đó các nguồn vốn chính thức có 2 tổ chức : ngân hàng NN&PTNT và ngân hàng
CSXH. Các nguồn vốn phi chính thức gồm có khá nhiều nguồn vốn: Quỹ tín dụng,
vốn vay từ người thân, vốn vay từ đại lý và một số nguồn vốn khác. Các nguồn vốn
này có những, đối tượng được vay, hình thức vay và những mức lãi xuất khác nhau
tùy theo quy định riêng của từng tổ chức và cá nhân cho vay vốn.
 Đối tượng được vay vốn.
Đa số tổ chức, cá nhân cho vay vốn luôn hướng tới những đối tượng vay vốn là
tất những hộ kinh doanh, sản xuất trên địa bàn xã. Tuy nhiên có một số tổ chức, cá
nhân chỉ hướng tới những đối tượng nhất định theo quy định riêng.
Bảng 2.2: So sánh sự khác nhau về đối tượng được vay vốn tại các tổ
chức cho vay vốn.
Tổ chức cho
vay vốn
Đối tượng được vay vốn
NHNN&PTNT
Tất cả những hộ sản xuất có nhu cầu vay vốn trên địa
bàn xã và phải có tài sản thế chấp.
NHCSXH
-Những hộ thuộc diện hộ nghèo.
- Những gia đình thuộc diện chính sách được nhà nước
quy định.
QTDND Tất cả các hộ là thành viên của QTDND.
Vay người
thân
Những người có mối quan hệ mật thiết với nhau như
anh em trong cùng một gia đình, dòng họ, bạn bè, hàng

tiền được vay phụ thuộc vào mức độ thân sơ giữa người cho vay vốn và người được
vay vốn. Khi vay anh em người vay vốn không phải thế chấp tài sản mà chủ yếu dựa
vào uy tín của người đi vay vốn.
Vay đại lý: Thực chất đây là hình thức mua chịu và có lãi xuất nên người dân
coi đây là một hình thức vay bằng hiện vật và lãi thường là tính luôn vào giá của sản
phẩm. Vì vậy, những đối tượng được vay chủ yếu là những hộ sản xuất nông nghiệp
có nhu cầu vay.
Vay nơi khác: Đó là những cá nhân cho vay lãi ngày, vay bằng hiện vật ( vàng,
lúa…) vì vậy đối tượng vay là tất cả những hộ dân trong xã có nhu cầu.
 Thủ tục vay vốn.
18
Tùy vào hoạt động của mỗi tổ chức cho vay vốn mà có những quy định khác
nhau về thủ tục vay vốn. Có tổ chức cho vay vốn với thủ tục khá đơn giản, nhanh gọn
nhưng cũng có nhiều tổ chức quy định những thủ tục phiền hà, phức tạp bao gồm
nhiều giấy tờ, nhiều quá trình .
 Tại NHNH&PTNT: Những hộ có nhu cầu vay vốn có thể vay qua hai hình
thức : Vay trực tiếp (chủ yếu là các hộ khá, hộ giàu) hoặc vay gián tiếp ( chủ yếu là hộ
nghèo, hộ nông dân thuộc diện chính sách, được ưu tiên) thông qua các hội như HND,
HCCB, HPN, HTN .
+ Hình thức cho vay trực tiếp: Những hộ nông dân có nhu cầu vay vốn trực
tiếp liên hệ với phòng giao dịch của ngân hàng làm thủ tục vay vốn gồm đơn xin vay
vốn, giấy tờ về tài sản thế chấp do ủy ban xã chứng nhận và dự án sản xuất kinh doanh
cần vay vốn. Về tài sản thế chấp phải đảm bảo đúng pháp lý và phải có giá trị tối thiểu
tương đương với số tiền cần vay. Sau khi được ngân hàng kiểm tra, xác minh tính khả
thi của dự án, tài sản thế chấp có giá trị với thực tế không, nếu ngân hàng xét duyệt thì
hộ sẽ được trực tiếp nhận vốn tại chi nhánh ngân hàng. Khi đến hạn trả hộ trược tiếp
đến ngân hàng làm thủ tục và hoàn trả vốn vay cùng với lãi suất quy định.
+ Hình thức cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các đoàn thể xã
hội như HND, HCCB, HPN, HTN… Hộ nông dân có nhu cầu vay cũng phải làm đơn
xin vay, nói rõ mục đích vay sau đó nộp cho người phụ trách tín dụng. Người phụ

nghèo là 0.65%/tháng.
 Đối với QTDND: Để được vay vốn ở QTDND thì người dân phải làm những
thủ tục theo tiến trình sau:
- Các cá nhân muốn vay vốn của QTDND thì làm đơn xin vay, nội dung đơn
trình bày mục đích vay, số tiền vay, thời hạn vay và phải có chữ ký của chủ hộ.
- QTDND nhận đơn xin vay vốn trình Hội đòng quản trị quỹ, Hội đòng quản
trị quỹ thông qua đơn xem xét nội dung trong đơn của người vay có thực tế không, có
hợp lý để cho vay không.
- Đơn phê duyệt, người vay phải lý vào cam kết trả nợ đúng hạn, thực hiện
đúng quy định của quỹ.
Hiện nay lãi xuất của QTDND tại xã là 1,7% nên có rất nhiều hộ dân muốn vay
cũng không dám vay.
20
 Với các nguồn vốn còn lại: với những nguồn vốn này thì thủ tục vay khá
đơn giản chủ yếu là dựa trên thỏa thuận miệng giữa cá nhân với nhau hoặc chỉ cần viết
giấy vay nợ là các hộ nông dân có thể vay được vốn.
 Về lãi xuất vay
Lãi xuất vay của các nguồn vốn cho vốn là không giống nhau. Có những nơi lãi
xuất thấp hoặc không lãi xuất như vay ở NHCSXH ( lãi xuất 0,65%/tháng) và người
thân ( lãi xuất từ 0 – 1%/ tháng) nhưng có những nơi lãi xuất khá cao như ở
NHNN&PTNT ( 1,3%/ tháng) đặc biệt là vay ở đại lý và một số nguồn khác thì lãi
xuất rất cao ( với đại lý là từ 1,5 -2 % còn một số nguồn khác là từ 2 -3 %) ( theo bảng
2.1). Như vậy tại địa phương không có sự thống nhất về lãi xuất và việc này ảnh
hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn các nguồn vốn vay của hộ nông dân.
2.1.2. Thực trạng tiếp cận các nguồn vốn vay cho phát triển nông nghiệp của
các hộ
Các nguồn vốn mà người dân có thể tiếp cận được là khá đa dạng vì vậy việc
vay vốn của người dân là khá nhiều. Có những hộ dân trong xã cùng lúc vay nhiều
nguồn vố khác nhau để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình. Chúng tôi tiến hành
khảo sát đối với 20 hộ nông dân đã vay vốn trong xã trong đó chia ra các nhóm hộ với

Trong tổng số hộ được điều tra thì số hộ tiếp cận từ với 1 nguồn vốn là 10 hộ
chiếm 50,0%, số hộ tiếp cận cùng lúc 2 nguồn vốn khác nhau là 6 hộ chiếm 30,0% và
hộ tiếp cận cùng lúc 3 nguồn vốn khác nhau là 4 hộ chiếm 20,0% vốn (theo bảng 2.3).
Thường các hộ lựa chọn cùng lúc nhiều nguồn vốn là do lượng vốn mà hộ cần cho sản
xuất nông nghiệp là khá cao trong khi đó luợng tiền cho vay của nguồn vốn mà hộ
chọn thì không đáp ứng được nhu cầu vì vậy các hộ phải đi vay ở những nơi khác để
có thể đáp ứng nhu cầu cho hoạt động sản xuất của gia đình. Trong đó số hộ khá giả
tiếp cận với chỉ một 1 nguồn vốn là không có mà đa số các hộ tiếp cận với 2 đến 3
nguồn vốn khác nhau, tỷ lệ các hộ khá giả tiếp cận tới 2 nguồn vốn khác nhau trong
tổng số 3 loại hộ chiếm 50,0%, với 2 nguồn vốn khác nhau cũng chiếm tới 50,0%. Đa
phần các hộ trung bình và hộ nghèo đều tiếp chỉ tiếp cận được với 1 nguồn vốn, tỷ lệ
hộ trung bình và nghèo tiếp cận với 1 nguồn vốn trong tổng 3 loại hộ đều chiếm 50,0%
trong khi đó việc tiếp cận từ 2 nguồn vốn trở lên cũng là khá thấp. Trong số những hộ
tiếp cận với 2 nguồn vốn khác nhau thì hộ trung bình chiếm 33,3% còn hộ nghèo chỉ
chiếm 16,7%, và tiếp cận với 3 nguồn vốn khác nhau thì cả hai loại hộ này đều chỉ
chiếm 25%. Điều này cho thấy việc tiếp cận với các nguồn vốn giữa các hộ là không
giống nhau. Những hộ khá giả thì việc tiếp cận với nhiều nguồn vốn khác nhau dễ
dàng hơn trong khi đó các hộ khác thì việc tiếp cận đó là một khó khăn, đặc biệt là
những hộ nghèo.
Với những nguồn vốn khác nhau thì việc tiếp cận của các hộ cũng có những sự
khác biệt rõ rệt. Qua bảng 2.4 có thể thấy, trong tổng số 20 hộ vay vốn được điều tra
thì có 7 hộ vay vốn tại Ngân hàng NN&PTNT, chiếm tỉ lệ là 35,0%. Trong đó hộ khá
giả là 57.1%, hộ trung bình là 42.9%, hộ nghèo là 0,0%. Sở dĩ việc các hộ nghèo
không vay ở NHNN&PTNT vì do mức lãi suất của NHNN&PTNT còn khá cao, vào
thời điểm điều tra tức là vào năm 2011, mức lãi hàng tháng của ngân hàng này là
1.3%. Đây là mức lãi xuất còn khá cao đối với khả năng chi trả các hộ nghèo và hơn
thế nữa, đối với sản xuất nông nghiệp thì việc chi trả mức lãi xuất này còn khó khăn
hơn nhiều. Ngoài ra việc những hộ thuộc diên hộ nghèo không vay vốn tại
NHNN&PTNT ta có thể đưa ra các lí do là các diện thuộc hộ nghèo thường vay vốn
tai NHCSXH với mức lãi suất 0.65%, đây là mức lãi xuất thấp hơn nhiều so với

những hộ chăn nuôi hoặc trồng cây lâu năm. Tuy nhiên theo khảo sát chung nhất và
phỏng vấn sâu đối với cán bộ xã thì cũng có một số hộ trong xã vay vốn ở quỹ tín
dụng.
Hộp 1
23
….“ Ở xã cũng có một số hộ vay vốn ở QTDND nhưng hầu hết là những hộ
làm ngành nghề buôn bán lớn và đã vay ở nơi khác rồi giờ cần vốn nên phải
vay ở đó”…… ( phỏng vấn sâu cán bộ xã)
Theo điều tra số liệu từ QTDND Tân Kỳ đặt trại đại bàn xã Quang Phục thì
trong năm 2011 toàn xã có 107 lượt người vay với số vốn là 3 tỷ 800 triệu đồng. Như
vậy có thể thấy số hộ vay vốn trong toàn xã tại tổ chức này cúng khá nhiều và việc
những hộ sản xuất nông nghiệp hay các ngành nghề khác với quy mô nhỏ lẻ thì khó có
thể tiếp cận nguồn vốn vay này.
Việc vay vốn từ người thân cũng được các hộ lựa chọn khá nhiều( 10 lượt hộ)
chiếm tỷ lệ 50%. Tỷ lệ các nhóm hộ chọn nguồn vay này cũng khác nhau trong đó tỉ
lệ hộ khá giả là 20%, hộ trung bình 50%, hộ nghèo 30%. Với nguồn vốn này tỷ lệ hộ
trung bình là những hộ vay chủ yếu và số hộ khá giả và hộ nghèo vay là khá ít. Một số
hộ nghèo cho rằng cũng muốn vay của người thân nhưng thời gian vay là ngắn với khả
năng có thể vay được là không cao nên họ ít vay.
Hộp 2:
“ Gia đình cũng muốn vay của người thân nhưng mình nghèo, khả năng chi
trả là kém nên họ cũng không muốn cho vay còn anh em ruột thịt thì cũng
không có nên không vay được” ( phỏng vấn sâu một hộ nông dân, thôn Bích
Cẩm)
Như vậy với việc tiếp cận vốn của người thân thì khả năng chi trả và mối quan
hệ chính là điều kiện để người dân có thể vay được.
Cuối cùng việc tiếp cận với nguồn vốn vay từ các đại lý và các nguồn khác
chiếm tỷ lệ khá ít. Với nguồn vay đại lý chỉ có 3/20 hộ đã vay và với những nơi khác
là 2/20 hộ đã vay.Trong nguồn vay đại lý tỷ lệ loại hộ vay là cân bằng nhau ( cùng
33.33%) cho thấy nguồn vay từ địa lý là nguồn vay khá dễ dàng và các loại hộ đều có

%)
Nơi
vay
NHNN&PTNT 7 4 54,1 3 42,9 0 0,0
NHCSXH
12 1 8,3 4 33,3 7 58,4
QTDNĐ
0 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Vay người thân
10 2 20,0 5 50,0 3 30,0
Vay đại lý
3 1 33,3 1 33,3 1 33,3
Vay nơi khác
2 0 0,0 2 100,0 0 0,0
Nguồn: Số liệu nghiên cứu thực tế tháng 3 năm 2012
Việc tiếp cận với các nguồn vốn vay còn thể hiện ở lượng vốn mà các hộ được
vay. Nhìn chung lượng vốn vay của các hộ thường giao động từ 5 – 200 triệu. Tuy
nhiên những loại hộ khác nhau thì lượng vốn được vay là không đồng đều, nó phụ
thuộc vào điều kiện kinh tế và khả năng trả nợ của từng hộ. Số lượng tiền của các hộ
được vay chủ yếu giao động từ 5 – 50 triệu trong đó có 9 hộ vay từ 1 -20 triệu trong
những hộ đó chủ yếu là những hộ nghèo chiếm 66,7% ( bảng 2.5). Ta có thể thấy tỷ
lệ hộ nghèo tiếp cận với lượng vốn cao là rất ít mà chủ yếu là ở mức tiền vừa phải và
thấp bởi vì những hộ đó chủ yếu vay ở NHCSXH và vay người thân vì vậy lượng tiền
không được cao. Trong khi đó tỷ lệ những hộ giàu tiếp cận nhiều lượng vốn khác nhau
và chỉ có hộ khá giả vay lượng vốn cao trên 100 triệu.Với những hộ trung bình cũng
chỉ tiếp cận với lượng vốn vừa phải chủ yếu là trên 20 triệu tới dưới 85 triệu. Với
lượng vốn chủ yếu các hộ được vay của tất cả các hộ như trên cho ta thấy lượng vốn
mà các hộ được tiếp cận vẫn còn khá hạn chế và những hộ có điều kiện mới có thể tiếp
cận được những lượng vốn lớn còn những hộ không có điều kiện thì lượng vốn chủ
yếu là nhỏ dẫn tới việc mở rộng quy mô sản xuất của các hộ đó gặp nhiều khó khăn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status