Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim mạch, thần kinh - Pdf 24

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o bé quèc phßng
häc viÖn qu©n y

nguyÔn thÞ hiªn
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG
TIM - MẠCH, TÂM - THẦN KINH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC
Y THÁI BÌNH Ở TRẠNG THÁI TĨNH VÀ SAU KHI THI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Hà nội - 2013
1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe không chỉ là vốn quí của mỗi cá nhân mà còn là nhân tố quan
trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong đó sinh viên là lực lƣợng
lao động chất lƣợng cao trong tƣơng lai của xã hội, là “nguyên khí” của mỗi
quốc gia, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức ngày nay. Chăm sóc sức khỏe cho
sinh viên là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của nhà trƣờng mà là của toàn xã
hội. Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ tri thức, đòi hỏi không chỉ tăng trƣởng số lƣợng tri
thức mà yêu cầu phải có sự thay đổi căn bản cách chiếm lĩnh và sử dụng tri
thức của ngƣời đƣợc đào tạo.
Thời đại ngày nay, thời đại của sự hội nhập, toàn cầu hóa với sự phát
triển vƣợt bậc của khoa học kỹ thuật, cùng với ô nhiễm môi trƣờng và yếu tố
nội tại trong cơ thể con ngƣời đã trở thành những tác nhân gây nên stress.
Năm 1992, Tổ chức Liên Hợp Quốc đã đƣa ra một bản báo cáo mang tên
“Bệnh tật trong thế kỷ XX”, trong đó có việc cảnh báo stress có thể mang
nhiều nguy cơ gây hại cho cuộc sống của con ngƣời ở thế kỷ XXI [108].
Stress tác động tới mọi tầng lớp trong xã hội, trong đó có sinh viên.
Cuộc sống của sinh viên ở các trƣờng đại học có nhiều yếu tố gây căng thẳng
(stressor) thần kinh - tâm lý, đặc biệt là đối với sinh viên các trƣờng đại học
Y. Ngoài các stressor chung ở mọi sinh viên (điều kiện sinh hoạt, học tập ),
sinh viên các trƣờng đại học Y là những ngƣời có thời gian học tập tại trƣờng
dài nhất với khối lƣợng kiến thức lý thuyết và thực hành rất lớn cùng với
nhiều kỳ thi, do đó chịu nhiều áp lực gây căng thẳng chức năng tâm lý cao và
trƣờng diễn [60], [81], [84], [85]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các
stressor có thể làm thay đổi chức năng hệ thống miễn dịch, thần kinh, tim
mạch và nội tiết của con ngƣời [58], [93], [94], [99], [103], [114], [119],
[131]. Tuy nhiên các tác động đó không phải tất cả là tiêu cực, nhiều nghiên


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TIM-MẠCH
Nhiều công trình của các tác giả trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc đã sử
dụng các chỉ số tim mạch để đánh giá trạng thái căng thẳng chức năng vì sự
thay đổi nhịp tim là phản ứng tổng hợp của toàn bộ cơ thể đối với bất kỳ tác
động nào của môi trƣờng bên ngoài. Những năm gần đây, ngoài phƣơng pháp
sử dụng những chỉ số đơn giản của hệ tim mạch nhƣ tần số nhịp tim (TSNT)
và huyết áp (HA), một số tác giả đã sử dụng các chỉ số thống kê toán học nhịp
tim (TKTHNT) của Baevski và cs [133] để đánh giá chức năng tim. Một số
nghiên cứu [18], [19], [20], [132], [133], [134] cho thấy căng thẳng trí tuệ và
stress cấp tính gây tăng chỉ số căng thẳng và giảm sự dao động nhịp tim.
1.1.1. Tần số mạch và huyết áp
*Tần số mạch
Tần số mạch hay tần số tim là số lần tim đập trong một phút. Bình
thƣờng tần số tim ở ngƣời trƣởng thành là 70 - 80 lần/phút, thông số này ở nữ
cao hơn so với ở nam trong cùng một độ tuổi.
Tần số tim thay đổi dƣới tác động của nhiều yếu tố. Làm việc căng thẳng
gây tăng nhịp tim là do kích thích hệ thần kinh giao cảm, đồng thời gây ức
chế các tín hiệu của dây X tới tim. Lao động trí óc chịu tác động của nhiều
yếu tố stress dễ dẫn đến tăng nhịp tim, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch [79],
[80]. Hoạt động của tim luôn thay đổi để phù hợp với nhu cầu của cơ thể. Tim
có tính thích nghi và đáp ứng với căng thẳng là nhờ có cơ chế tự điều hòa và
cơ chế thần kinh - thể dịch. Trong điều hòa theo cơ chế thần kinh thì hệ thần
kinh tự chủ có vai trò quan trọng.
4

Hệ thần kinh phó giao cảm có trung tâm điều hòa hoạt động tim nằm ở
hành não, đó là nhân của dây thần kinh số X. Các sợi trƣớc hạch của dây X đi

đập nhanh. Nồng độ ion Ca
2+
trong máu tăng làm tăng trƣơng lực cơ tim.
5

Nồng độ K
+
trong máu tăng làm giảm trƣơng lực cơ tim. pH của máu giảm
làm tim đập nhanh. Nhiệt độ cơ thể tăng làm tim đập nhanh. Ngƣợc lại nhịp
tim giảm trong hạ nhiệt nhân tạo (trong mổ tim phải hạ nhiệt nhân tạo xuống
còn 25
0
C - 30
0
C để cơ thể có thể chịu đựng đƣợc với sự thiếu oxy) [38].
*Huyết áp
Động lực chính làm máu lƣu thông trong động mạch là huyết áp. Huyết
áp là áp lực của máu trong một đoạn mạch nhất định.
Huyết áp động mạch đƣợc tạo ra bởi hai lực: áp lực do tâm thất thu tống
máu ra khỏi tim và phản lực do tính đàn hồi của thành động mạch. Đây là hai
lực ngƣợc chiều nhau và cân bằng nhau, cùng có tác dụng đẩy máu đi.
Huyết áp tâm thu là trị số huyết áp cao nhất trong chu kỳ hoạt động của
tim, đo đƣợc trong lúc tâm thu. Thông số này đánh giá lực co của tâm thất là
chính. Trị số bình thƣờng là 110 mmHg, giới hạn từ 90 - <140 mmHg. Huyết
áp tâm trƣơng là trị số huyết áp thấp nhất trong chu kỳ hoạt động của tim, đo
đƣợc trong lúc tâm trƣơng. Thông số này phản ánh trƣơng lực của động mạch.
Trị số bình thƣờng là 70 mmHg, giới hạn từ 60 - <90 mmHg. Đó là các mốc
đánh giá huyết áp thấp hay tăng huyết áp [16], [38].
Nhiều tác giả đã ứng dụng phƣơng pháp đánh giá chức năng tim mạch
thông qua tần số nhịp tim và huyết áp trong nghiên cứu trên các đối tƣợng thuộc

căng thẳng thần kinh tâm lý cao nhƣ lao động của phi công, bộ đội, cảnh sát,
nhân viên y tế, điều độ viên chỉ huy chạy tàu, nhân viên vận hành các máy
móc tự động, điều phối viên không lƣu… [6], [18], [20], [22], [23].
Nhƣ vậy phƣơng pháp đo tần số nhịp tim (tần số mạch) và huyết áp đƣợc
nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc ứng dụng trong các nghiên cứu ở các dạng
lao động khác nhau để đánh giá chức năng tim mạch cho ngƣời lao động.
7

1.1.2. Chỉ số thống kê toán học nhịp tim và các nghiên cứu
Những năm gần đây các nhà y học và sinh lý học đã và đang cố gắng
nghiên cứu tìm ra các thông số tim mạch có giá trị để đánh giá, phân loại khả
năng lao động (KNLĐ) cá thể, từ đó tuyển chọn đối tƣợng có khả năng thích
nghi (KNTN) với một số nghề nghiệp đặc biệt. Hiện nay các nhà nghiên cứu
thƣờng sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học nhịp tim để phân tích sự dao
động của các khoảng RR của nhịp tim theo thời gian.
Nghiên cứu trên thế giới về dao động nhịp tim
Năm 1966, tại Moskva đã tổ chức hội nghị chuyên đề về vấn đề "Ứng
dụng các phƣơng pháp toán học để phân tích nhịp tim". Tại đây nhiều báo cáo
về ứng dụng các phƣơng pháp phân tích toán học nhịp tim (THNT) để tiếp tục
hoàn thiện các phƣơng pháp chẩn đoán và để dự báo trạng thái chức năng hệ
tim mạch cũng nhƣ trạng thái chức năng chung của cơ thể, đặc biệt cho các
nhà du hành vũ trụ trong chuyến đi dài ngày. Theo Baevski [132] thì chức
năng hệ tim mạch thay đổi đƣợc coi là chỉ tiêu đánh giá phản ứng thích nghi
của toàn bộ cơ thể, còn nhịp tim là hiệu quả của sự điều khiển của thần kinh
nội tiết. Phƣơng pháp phân tích THNT là phƣơng pháp định lƣợng của phản
ứng thích nghi mà các nhà y học và sinh lý học rất quan tâm.
Baevski và cs [133] đã đƣa ra nguyên lý chung để nghiên cứu biến động
nhịp tim và các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT). Một số chỉ số
TKTHNT đặc trƣng cho dao động của 100 khoảng RR liên tiếp của nhịp tim
hay đƣợc sử dụng là:

Phƣơng pháp phân tích thống kê toán học đánh giá dao động nhịp tim
đƣợc ứng dụng rộng rãi nhằm xác định trạng thái cân bằng hệ thần kinh thực
9

vật; quan hệ hoạt động tƣơng hỗ giữa thần kinh giao cảm và phó giao cảm; mức
điều khiển tự động và mức điều khiển trung ƣơng của hệ thần kinh thực vật,
cụ thể là: AMo, CSCT cao và X, SD ,V thấp là biểu hiện điều khiển nhịp tim
mức trung ƣơng, ngƣợc lại, AMo, CSCT thấp và X, SD,V cao là biểu hiện
điều khiển nhịp tim mức tự động [120].
Nhiều nghiên cứu cho thấy các chỉ số thống kê toán học nhịp tim cho
nhiều thông tin tốt để đánh giá trạng thái chức năng của cơ thể. Chúng là chỉ
số dự báo khả năng thích nghi nghề nghiệp, năng lực và hiệu quả hoạt động
nghề nghiệp để từ đó tuyển chọn đối tƣợng có khả năng thích nghi tốt với một
số điều kiện lao động, đặc biệt là những nghề nghiệp có trạng thái căng thẳng
cảm xúc cao [132], [134], [135], [136], [137], [138].
Baevski [132] đã áp dụng phƣơng pháp phân tích toán học nhịp tim để
nghiên cứu diễn biến nhịp tim của các nhà du hành vũ trụ với mục đích dự
báo những khả năng biến đổi trạng thái cơ thể của họ. Kết quả bƣớc đầu cho
thấy những đối tƣợng có biểu hiện KNTN kém hơn trong điều kiện thử
nghiệm dƣới mặt đất (biểu hiện trội điều khiển giao cảm hơn) thì sau 3 ngày,
trong chuyến bay thật có rối loạn điều khiển nhịp tim nhiều hơn so với đối tƣợng
có biểu hiện thích nghi tốt hơn (điều khiển trội phó giao cảm hơn).
Zemaichiche [134] cho rằng con ngƣời tăng KNTN phụ thuộc vào mức
độ tăng điều khiển phó giao cảm trong quá trình rèn luyện. Giảm ảnh hƣởng
của điều khiển phó giao cảm đồng thời tăng điều khiển giao cảm khi lao động
thể lực và căng thẳng về cảm xúc dẫn tới giảm KNTN đƣợc biểu hiện ở sự
thay đổi các chỉ số TKTHNT.
Zatsiorxki [135] đã sử dụng đặc điểm TKTHNT để đánh giá ảnh hƣởng
của điều kiện môi trƣờng (nhiệt độ cao, tiếng ồn cao) lên chức năng điều
khiển nhịp tim. Tác giả thấy rằng có mối liên quan giữa yếu tố stress nghề


các yếu tố stress trong cuộc sống và trong lao động gây ra, đồng thời có thể
dự báo khả năng thích nghi nghề nghiệp của đối tƣợng.
1.1.3. Stress và nguy cơ các bệnh tim mạch
Nhiều năm qua các nhà khoa học luôn cho rằng stress có thể sẽ dẫn đến
bệnh tim, tuy nhiên có rất ít chứng cứ y học có thể chứng minh đƣợc điều này.
Gần đây các nhà khoa học Anh đã tiến hành nghiên cứu trên 514 đối tƣợng cả
nam lẫn nữ ở độ tuổi trung bình 62, trƣớc khi nghiên cứu những đối tƣợng
này đều không mắc các chứng bệnh về tim. Các đối tƣợng nghiên cứu đƣợc
làm trắc nghiệm stress, đồng thời đƣợc xét nghiệm nồng độ cortisol và chụp
cắt lớp vi tính động mạch. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng xác suất
mắc chứng bệnh tích tụ mỡ trong động mạch của những đối tƣợng bị stress
cao gấp 2 lần so với những đối tƣợng không bị stress. Nghiên cứu trên đã gợi
ý căng thẳng tâm lý có thể là yếu tố nguy cơ dẫn đến các chứng bệnh về động
mạch vành [79]. Trên cơ cở nghiên cứu ngang này, Hamer và cộng sự [80] đã
tiến hành một nghiên cứu dọc trên 466 đối tƣợng nam và nữ có độ tuổi trung
bình 62,7 ±5,6, không có tiền sử tim mạch. Sau 3 năm theo dõi tác giả đã phát
hiện có mối liên quan giữa phản ứng cao của cortisol với căng thẳng và tiến
triển của vôi hóa động mạch vành (OR= 1,27, 95% CI, 1,02-1,60). Những dữ
liệu này ủng hộ quan điểm cho rằng căng thẳng tâm lý gây tăng cortisol (một
hormon stress) có thể ảnh hƣởng đến nguy cơ mắc bệnh mạch vành và rối
loạn nhịp tim. Cơ chế mà HPA hoạt động ảnh hƣởng trực tiếp đến xơ vữa
động mạch vẫn còn chƣa đƣợc hiểu rõ, mặc dù có một số bằng chứng cho
thấy tăng mức cortisol máu có thể thúc đẩy viêm quanh mạch [126].
Ngày càng có nhiều nghiên cứu thử nghiệm xem liệu các đáp ứng mạnh
mẽ của tim mạch với căng thẳng tinh thần có thể dự đoán các bệnh tim mạch
trong tƣơng lai hay không, nhƣng kết quả của các nghiên cứu rất đa dạng
[67], [69], [79], [80], [111]. Nghiên cứu của Roemmmich [111] trên thanh,
thiếu niên cho thấy căng thẳng gây phản ứng tim mạch, đặc biệt là phản ứng
12

thể phòng ngừa và điều trị các bệnh tim mạch, nâng cao chất lƣợng cuộc sống
của con ngƣời [67], [69].
Căng thẳng không những gây biến động về tim mạch mà còn gây rất
nhiều các biến động về chức năng tâm - thần kinh của con ngƣời.
1.2. MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TÂM - THẦN KINH
1.2.1. Hoạt động trí tuệ
1.2.1.1. Các quan điểm về trí tuệ
Trí tuệ là hoạt động tâm lý phức tạp bao gồm khả năng nhận thức, ngôn
ngữ vận động và khả năng thích ứng với xã hội. Trí tuệ là một trong những
đặc tính tâm lý và tƣ duy chỉ có ở con ngƣời, vì vậy nghiên cứu về năng lực
trí tuệ là vấn đề luôn đƣợc quan tâm đặc biệt trong giới khoa học. Cho đến
nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về trí tuệ, Fredman tập hợp các quan
điểm thành 3 khuynh hƣớng chính:
Khuynh hƣớng thứ nhất coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học
tập của cá nhân. Theo Huarte J. thì trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri
thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo. J.P Ducanson [71] coi trí thông minh là
năng lực học tập. Philipvecnon định nghĩa năng lực trí tuệ thông qua hệ số
thông minh. Ushinski K.D. cho rằng trí tuệ là một hệ thống tri thức có tổ chức
tốt, luôn luôn đƣợc điều chỉnh và làm phong phú thêm, không phải chỉ trong
những biểu hiện cụ thể về những sự vật hoặc sự kiện riêng biệt mà còn đƣợc
khái quát thành khái niệm [55]. Năng lực trí tuệ trƣớc hết phải là sản phẩm
của trí tuệ, biểu hiện năng lực nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn của
con ngƣời.
Khuynh hƣớng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tƣ duy trừu tƣợng. Ngƣời
đại diện cho khuynh hƣớng này là Terman L. Ông cho rằng chức năng của trí
tuệ là sử dụng hiệu quả các khái niệm. Quan niệm này có phần hạn chế về
khái niệm và phạm vi thể hiện của trí thông minh. Theo Menchinskaia M.N.,
14

đặc trƣng của trí tuệ là sự tích lũy vốn tri thức và các thao tác trí tuệ.

rộng rãi ở các nƣớc trên thế giới nhƣ Nga, Mỹ, Ba Lan, Đức, Pháp…
Trắc nghiệm Raven
Test Raven hay trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn do J.C.Raven (Anh)
xây dựng và công bố năm 1936. Đây là loại trắc nghiệm phi ngôn ngữ về trí
tuệ. Sau hai lần chuẩn hóa vào các năm 1945, 1956, đến năm 1960 test Raven
đƣợc UNESCO chính thức sử dụng để chẩn đoán trí tuệ của con ngƣời. Đến
nay test này đã đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới.
Khi thực hiện các bài trắc nghiệm này, các quá trình tâm lý cơ bản đƣợc
thể hiện là chú ý, tri giác và tƣ duy.
Test Raven đƣợc dùng để đo năng lực tƣ duy trên bình diện rộng nhất và
đƣợc sử dụng rộng rãi cho cá nhân cũng nhƣ cho nhóm ngƣời có độ tuổi từ 6
đến 60. Toàn bộ test gồm 60 bài tập, chia làm 5 bộ A,B,C,D,E, mỗi bộ gồm 12
bài tập (khuôn hình) đƣợc đánh dấu nhƣ sau: A1- A12; B1- B12; C1- C12;
D1- D12; E1- E12. Các bài tập từ 1-12, từ A - E đƣợc xây dựng theo mức độ
phức tạp dần. Do đó trong bộ test Raven, bài dễ nhất là bài 1 của bộ A, tức là
khuôn hình A, bài khó nhất là bài E12. Trật tự này đƣợc xem nhƣ một phƣơng
thức hƣớng dẫn làm việc. Các bộ A-E đƣợc xây dựng theo các nguyên tắc sau:
+ Bộ A: thể hiện tính liên tục, toàn vẹn của cấu trúc.
+ Bộ B: thể hiện sự giống nhau giữa các cặp hình.
+ Bộ C: thể hiện sự thay đổi tiếp diễn trong các cấu trúc.
+ Bộ D: thể hiện sự thay đổi logic vị trí các hình .
+ Bộ E: thể hiện sự phân tích cấu trúc các bộ phận trắc nghiệm .
16

Năm bộ bài tập là 5 cách đánh giá về năng lực trí tuệ của cá nhân. Tổng
điểm số của từng cá nhân là một chỉ số về năng lực trí tuệ.
Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, sự vắng mặt của các bài tập ngôn
ngữ trong test Raven cho phép loại trừ, trong một mức độ nào đó, ảnh hƣởng
của trình độ học vấn, kinh nghiệm sống và những khác biệt về văn hóa xã hội
của đối tƣợng nghiên cứu. Do vậy, test này có thể sử dụng rộng rãi trên nhiều

trƣờng dân lập Đông Đô (sử dụng test Gille)…Đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu về lĩnh vực này nhƣ công trình nghiên cứu trí tuệ của học sinh cấp
I. II, III và của sinh viên đại học [25], [28], [33], [40], [49], [36]. Nhƣ vậy,
trong số các test trí tuệ, test Raven là một trong những test đƣợc sử dụng rộng
rãi nhất (theo [1]).
1.2.1.4. Một số yếu tố di truyền, môi trường ảnh hưởng đến hoạt động trí tuệ
Di truyền tác động lên trí thông minh
Vai trò của di truyền và môi trƣờng tác động lên trí thông minh là một đề
tài nghiên cứu từ rất lâu. Khả năng thừa kế của một gene lên thế hệ sau đƣợc
biểu diễn bằng một số trong khoảng từ 0 đến 1, gọi là hệ số di truyền. Một số
nghiên cứu cho thấy hệ số di truyền trung bình ở trẻ em là 0,5, hệ số di truyền
ở ngƣời có thể lên đến 0,8. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kì vào năm 1995 trong
công trình "Intelligence: Knowns and Unknowns" (Trí thông minh: những
điều đã biết và chƣa biết) kết luận rằng hệ số di truyền là "khoảng 0,75"[102].
Môi trường
Yếu tố môi trƣờng đóng vai trò rất lớn trong việc xác định trí thông
minh. Một số nghiên cứu về yếu tố môi trƣờng cho rằng thời kỳ thai phụ hay
lúc cho con bú nếu tiếp xúc với những loại độc tố hay thiếu các vitamin và
muối khoáng quan trọng có thể ảnh hƣởng đến chỉ số IQ của đứa bé. Trong xã
18

hội đã phát triển, môi trƣờng trong gia đình có thể tạo ra 25% sự khác biệt về
chỉ số IQ. Tuy nhiên, khi lớn lên, điều này hầu nhƣ biến mất [128].
Sự chậm phát triển trí não
Khoảng 75-80% số trẻ chậm phát triển trí não là do di truyền và 20-25%
còn lại là do những nguyên nhân bên trong cơ thể nhƣ sự bất thƣờng ở các
nhiễm sắc thể hay chấn thƣơng ở não [128].
Nghiên cứu của Trung tâm Điều khiển và Phòng chống Dịch bệnh
(CDC) cho thấy tỉ lệ mắc chứng kém phát triển trí tuệ ở nam cao hơn ở nữ.
Đối với chủng tộc, tỉ lệ chung về mắc chứng kém phát triển trí tuệ là 1,66%

Một ngƣời có trí thông minh cao thƣờng ít bị bệnh hơn và sống lâu hơn. Điều
đó có thể là do họ có khả năng né tránh những chấn thƣơng tốt hơn và chăm sóc sức
khỏe của mình tốt hơn, mặt khác họ thƣờng có đời sống kinh tế khá giả hơn [109].
Nghiên cứu ở Scotland cho thấy những ngƣời có chỉ số IQ thấp hơn bình thƣờng 15
điểm thì họ sẽ mất đi một phần năm cơ hội mừng sinh nhật thứ 76 của mình. Những
ngƣời có chỉ số IQ thấp hơn 30 điểm thì tỉ lệ đó lên đến 37% [90].
Sự phát triển kinh tế và chỉ số IQ
Một cuốn sách gây tranh cãi “IQ and the Wealth of Nations” (IQ và sự
thịnh vƣợng của quốc gia) cho rằng sự giàu có của một quốc gia, phần lớn có
thể giải thích bằng cách nhìn vào chỉ số IQ trung bình của nƣớc đó. Thông tin
này đang đƣợc đặt câu hỏi để nghiên cứu thêm [128].
1.2.2. Trí nhớ
Bản chất của trí nhớ (memory) là quá trình hoạt động thần kinh lặp lại
trên một mạch neuron. Mạch neuron này dẫn truyền xung động cảm giác do
kích thích từ bên ngoài vào trung tâm thần kinh (dẫn truyền hƣớng tâm).
Mạch xung động đó là con đƣờng mới (new pathways) hay còn gọi là con
20

đƣờng mòn dấu vết nhớ. Sau đó nếu không có kích thích bên ngoài, nhƣng nếu
tâm trí ta nghĩ tới thì có thể hoạt hóa con đƣờng mòn đó và nhớ lại đƣợc [39].
Trí nhớ là khả năng lƣu giữ thông tin từ môi trƣờng bên ngoài tác động
lên cơ thể, cũng nhƣ các phản ứng xảy ra trong cơ thể và tái hiện lại những
thông tin đã đƣợc lƣu giữ hoặc những kinh nghiệm cũ và sử dụng chúng trong
lĩnh vực ý thức hoặc tập tính. Nơi lƣu giữ thông tin chủ yếu là các cấu trúc
của vỏ não hoặc dƣới vỏ. Trí nhớ liên quan đến quá trình học tập, nhờ đó mà
chúng ta có đƣợc kỹ năng học tập, kỹ năng lao động và tiếp thu đƣợc các kiến
thức khoa học. Trí nhớ ngắn hạn là nhớ kéo dài đƣợc từ vài ngày đến vài tuần,
đó là những thông tin cần thiết cho nhu cầu cơ thể trong một giai đoạn nhất định,
sau đó mất đi hoặc chuyển thành trí nhớ dài hạn. Trí nhớ ngắn hạn liên quan với
sự tuần hoàn của các luồng xung động thần kinh trong các vòng neuron. Các

Trí nhớ có vai trò quan trọng trong học tập cũng nhƣ trong xử lý thông tin
trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Ở các độ tuổi khác nhau thì trí nhớ
cũng khác nhau. Nghiên cứu về khả năng nhớ của Trần Thị Loan [40] trên
học sinh từ 6 đến 17 tuổi cho thấy khả năng nhớ ngắn hạn của học sinh tăng
theo tuổi nhƣng không đều, từ 6 đến 11 tuổi tăng nhanh, đặc biệt là từ 9 đến
11, từ 11đến 17 tuổi tăng chậm hơn. Nghiên cứu của Mai Văn Hƣng [33] trên
sinh viên đại học sƣ phạm Hà Nội cho thấy trí nhớ ở các sinh viên này chủ
yếu thuộc loại khá và giỏi. Nghiên cứu của Lại Thế Luyện về biểu hiện stress
22

trên sinh viên trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy có
biểu hiện giảm trí nhớ cao thứ hai sau khó tập trung chú ý [41].
Theo J. Lazaus, stress làm tổn thƣơng trí nhớ, gây ra sự bất ổn về tinh
thần, không có khả năng tập trung, do dự, thiếu quyết đoán, thiếu chú ý, đầu
óc trống rỗng…là những triệu chứng thƣờng xuất hiện. Nhiều nghiên cứu cho
thấy khi bị căng thẳng lúc làm việc, các thông số tâm lý nhƣ trí nhớ, tƣ duy và
chú ý đều giảm một cách đáng kể [5].
Tác động của căng thẳng lên quá trình học tập và trí nhớ là những khía
cạnh thiết yếu của chức năng não của con ngƣời. Điều này đặc biệt đúng trong
điều kiện stress. Trong điều kiện căng thẳng, chúng ta có khả năng tìm hiểu
và giải thích ý nghĩa dự đoán các kích thích môi trƣờng. Điều này rất quan
trọng cho việc lựa chọn các chiến lƣợc đối phó thích hợp đối với các tác nhân
đe dọa [82]. Nhiều nghiên cứu [41], [110] đã chỉ ra rằng stress ảnh hƣởng đến
học tập, trí nhớ và nhiều bằng chứng cho thấy các glucocorticoid và
catecholamine là những chất chính phản ứng lại những kích thích gây căng
thẳng, tác động lên quá trình nhận thức [82], [87], [96]. Ví dụ, các
glucocorticoid điều chỉnh học tập không gian ở chuột, cũng nhƣ củng cố trí
nhớ và phục hồi trí nhớ ở ngƣời. Tuy nhiên, tác dụng của các chất trung gian
căng thẳng lên học tập và trí nhớ rất phức tạp. Căng thẳng đôi khi tạo điều
kiện thuận lợi nhƣng có khi gây bất lợi cho quá trình học tập và ghi nhớ. Các

phút sau khi tiếp xúc căng thẳng, ngăn chặn thông tin không liên quan đến
stressor và tăng cƣờng củng cố nhớ các thông tin liên quan đến stressor. Nếu
căng thẳng là nhƣ vậy, kinh nghiệm trong quá trình học tập, những tác động
ban đầu của hoạt động điều hòa căng thẳng và tác động muộn của các
glucocorticoid lên củng cố trí nhớ sẽ tăng cƣờng hiệu suất hoạt động của bộ
nhớ sau này. Tuy nhiên, nếu sự xuất hiện của các kích thích gây căng thẳng xảy
ra tại một thời gian dài trƣớc khi học hoặc một thời gian ngắn trƣớc khi phục

Trích đoạn Bảng phõn loại hệ số thụng minh của Wechsler Bảng đỏnh giỏ trạng thỏi căng thẳng cảm xỳc theo Spielberger Sơ đồ thời gian cứu trờn sinh viờn sau buổi thi Biểu đồ nồng độ cortisol huyết thanh của sinh viờn trong trạng thỏ Thời gian thực hiện phản xạ thị giỏc-vận động và tốc độ xử lý thụng tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status