MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:
“HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI
CÔNG TY Ô TÔ TOYOTA VIỆT NAM”
* Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
phải có những quyết định sản xuất kinh doanh nhanh chóng, kịp thời và chính xác.
Muốn vậy, nhà quản trị cần được cung cấp những thông tin chính xác và kịp thời từ hệ
thống kế toán trong doanh nghiệp. Kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra các
hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung
cấp thông tin cho những đối tượng quan tâm sử dụng tuỳ theo mục đích của họ.
Thông tin kế toán gồm thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị.
Thông tin kế toán tài chính chủ yếu phục vụ cho các đối tượng bên ngoài đơn vị, còn
thông tin kế toán quản trị lại chủ yếu phục vụ cho nhà quản trị để ra những quyết định
điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy còn non trẻ nhưng kế toán quản trị đã
thực sự trở thành một công cụ khoa học giúp nhà quản trị điều hành hoạt động sản xuất
kinh doanh của đơn vị hiệu quả nhất.
Tuy đã xuất hiện và được các nước phát triển sử dụng từ lâu, nhưng kế toán quản
trị vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam. Các doanh nghiệp chủ yếu mới
chỉ có hệ thống kế toán tài chính hoàn chỉnh còn hệ thống kế toán quản trị chưa thực sự
được quan tâm đến. Hơn nữa, hiện nay, chỉ có kế toán tài chính mới có hệ thống văn
bản pháp quy quy định về hệ thống kế toán tài chính bắt buộc, còn kế toán quản trị mới
chỉ được hướng dẫn trong những văn bản chung chung, không mang tính bắt buộc mà
mang tính chất giải nghĩa các thuật ngữ là chủ yếu.
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thế giới hiện nay, môi trường kinh doanh gặp
khó khăn và thách thức lớn, doanh nghiệp khó gia tăng lợi nhuận nhờ vào việc tăng giá
sản phẩm, chính thực tế này đã đặt ra yêu cầu phải quản lý thật tốt chi phí nói chung và
chi phí sản xuất nói riêng để tối thiểu hoá chi phí và tối đa hoá lợi nhuận. Như vậy,
quản lý chi phí trở thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh
hiện nay. Ý thức được thực tế này, công ty ô tô Toyota Việt Nam đã quan tâm nhất định
đến kế toán quản trị ngay từ khi mới thành lập và hệ thống kế toán quản trị của Công ty
- Những ưu điểm và tồn tại của mô hình này? Phân tích tác động của những mặt
tồn tại đến hiệu quả quản trị chi phí sản xuất tại Công ty?
- Để khắc phục những tồn tại đó cần những biện pháp như thế nào? Điều kiện
thực hiện và tính khả thi của từng biện pháp ra sao?
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với mục tiêu nghiên cứu đã nêu ở trên, đề tài khảo sát và sử dụng thông tin, tài
liệu về kế toán quản trị chi phí sản xuất của Công ty ô tô Toyota Việt Nam trong năm
2011 để minh hoạ.
Như vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài là: hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô của
Công ty ô tô Toyota Việt Nam trong năm 2011.
* Phương pháp nghiên cứu
Khi nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn, tác giả dựa vào phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu và đánh giá vấn đề
một cách toàn diện, hệ thống, logic…
Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp: thu thập thông tin
số liệu, khảo sát thực tế kết hợp cùng các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp,
so sánh đảm bảo kết quả nghiên cứu có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như thực tế đối với
Công ty ô tô Toyota Việt Nam nói riêng và các doanh nghiệp sản xuất nói chung.
* Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Mặc dù còn nhiều hạn chế trong quá trình nghiên cứu cũng như giới hạn về đối
tượng và phạm vi nghiên cứu, nhưng luận văn cũng đóng góp những giá trị nhất định
về lý luận và thực tiễn:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kế toán quản trị chi phí
sản xuất trong giai đoạn hiện nay. Từ đó khái quát hoá những mô hình kế toán quản trị
trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho những doanh nghiệp sản xuất ở Việt
Nam nói chung và doanh nghiệp sản xuất ô tô nói riêng.
- Tìm hiểu đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty ô tô Toyota Việt Nam, phân
tích ảnh hưởng của đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty đến công tác kế toán
quản trị chi phí sản xuất.
- Tiến hành tổng hợp phân tích thực trạng, tìm ra ưu điểm và những vấn đề còn
chi phí, tối đa hoá doanh thu và lợi nhuận. Tuỳ theo quan điểm và góc độ xem xét khác
nhau mà có nhiều khái niệm về kế toán quản trị.
Theo kế toán quản trị Mỹ, “Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống thông
tin quản trị trong các tổ chức mà nhà quản trị dựa vào đó để hoạch định và kiểm soát
các hoạt động của tổ chức”. Như vậy, theo quan điểm này, kế toán quản trị đóng vai trò
quan trọng cho các tổ chức xây dựng các dự toán, hoạch định các chính sách và kiểm
soát mọi hoạt động của tổ chức.
Theo kế toán quản trị Pháp, “Kế toán quản trị là một hệ thống thông tin định
lượng cung cấp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định điều hành các tổ chức nhằm đạt
kết quả cao”.
Theo Hiệp hội kế toán hợp chủng quốc Hoa Kỳ, “Kế toán quản trị là quy trình
định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài
chính cho các nhà quản trị để điều hành các hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn”.
Theo Luật kế toán Việt Nam, “Kế toán quản trị là việc thu thập xử lý phân tích và
cung cấp thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài
chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Theo quan điểm của các nhà quản trị, “Kế toán quản trị là một công cụ cung cấp
thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và phân tích các thông tin đó dể
giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định tối ưu”.
Các khái niệm trên tuy khác nhau về hình thức, song đều có 3 điểm cơ bản giống
nhau:
- Kế toán quản trị là công cụ không thể thiếu được trong các doanh nghiệp kinh
doanh theo cơ chế thị trường vì nó là cơ sở khoa học để đưa ra mọi quyết định kinh
doanh.
- Thông tin kế toán quản trị trong các tổ chức hoạt động giúp cho nhà quản trị
thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm tra,
đánh giá và ra quyết định.
Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm kế toán quản trị như sau: “Kế
toán quản trị là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng
đốc và Hội đồng quản trị doanh nghiệp.
- Thứ hai, thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính chất định lượng
nhiều vì gắn với các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp.
- Thứ ba, thông tin kế toán quản trị được cụ thể hoá thành các chức năng cơ bản
của các nhà quản trị như: Xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; phân tích, đánh giá và
ra các quyết định điều phối các hoạt động kinh doanh để tối đa hoá lợi nhuận.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của kế toán quản trị trong hoạt động quản lý
1.1.2.1. Chức năng của kế toán quản trị trong hoạt động quản lý
Để đạt được mục tiêu điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh, công tác quản
trị doanh nghiệp đòi hỏi rất nhiều thông tin. Loại thông tin cần cho việc xây dựng kế
hoạch và kiểm tra hoạt động hàng ngày của đơn vị - đó là những thông tin giúp cho
công tác quản trị biết được những gì đang xảy ra và việc thực hiện các mục tiêu dự
kiến như thế nào. Loại thông tin thứ hai – chủ yếu cần thiết cho quản trị trong việc lập
kế hoạch dài hạn. Những thông tin này được dùng để xây dựng nên những chiến lược
tổng quát và đề ra các quyết định đặc biệt có tác động then chốt đối với đơn vị. Với ba
chức năng: chọn lọc và ghi chép số liệu; phân tích số liệu; lập báo cáo dùng cho quản
trị, kế toán quản trị cung cấp đầy đủ những thông tin để nhà quản lý thực hiện chức
năng quản lý của mình.
Có hai chức năng quản lý quan trọng nhất là hoạch định và kiểm tra chi tiết ở các
chức năng của nhà quản trị: Xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm soát, đánh giá
và ra quyết định.
Trước hết, kế toán quản trị rất cần thiết cho quá trình xây dựng kế hoạch ở doanh
nghiệp vì nó cung cấp thông tin để ra quyết định về kế hoạch nhằm đạt kết quả cao
nhất trong các hoạt động. Kế hoạch này được tiến hành với sự điều khiển của hội đồng
xét duyệt dự toán, có sự tham gia của kế toán trưởng. Chúng được lập hàng năm và
những mục tiêu của quản lý được biểu hiện dưới dạng các chỉ tiêu về số lượng và giá
trị. Để xây dựng kế hoạch, các nhà quản trị thường phải dự đoán, phán đoán kết quả
của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học sẵn có. Trong quá
trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy
rõ sự tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tương lai. Thứ hai, trong
cấp thông tin tài chính cho những người ra quyết định. Để thực hiện được nhiệm vụ
này, kế toán phải thực hiện các công việc sau:
- Ghi nhận, lượng hoá và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng hệ thống
chứng từ và sổ sách để ghi chép các hoạt động kinh doanh hàng ngày.
- Phân loại, hệ thống hoá và tập hợp các nghiệp vụ để ghi sổ theo các chỉ tiêu tổng
hợp và chi tiết.
- Tổng hợp và tính toán các chỉ tiêu thông tin theo yêu cầu quản lý trong và ngoài
doanh nghiệp
- Sau cùng là cung cấp số liệu để ra quyết định quản lý.
Là một trong hai nhánh của kế toán nói chung, kế toán quản trị là một phương
pháp xử lý các dữ kiện để đạt được các mục tiêu sau đây:
- Biết được từng thành phần chi phí, tính toán và tổng hợp chi phí sản xuất, giá
thành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ.
- Xây dựng được các khoản dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt động.
- Kiểm soát thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệch giữa chi phí theo
dự toán và thực tế.
- Cung cấp các thông tin cần thiết để có các quyết định kinh doanh hợp lý.
1.1.3. Phân biệt kế toán quản trị và kế toán tài chính
1.1.3.1. Những điểm giống nhau
Kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai bộ phận của hệ thống thông tin kế
toán, đều có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các cấp quản trị về tình hình tài sản,
nguồn vốn, quan hệ tài chính, do vậy chúng giống nhau ở ba điểm chính sau đây:
Thứ nhất, cả kế toán quản trị và kế toán tài chính đều đề cập đến các nghiệp vụ
kinh tế của doanh nghiệp từ khi thành lập cho đến khi giải thể hoặc phá sản. Các
nghiệp vụ kinh tế chủ yếu phản ánh các khâu cung cấp, sản xuất, tiêu thụ và xác định
kết quả thường gắn với một chu kỳ kinh doanh của một doanh nghiệp.
Thứ hai, chúng đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán đó là hệ thống
chứng từ. Hệ thống chứng từ bắt buộc và hệ thống chứng từ hướng dẫn là cơ sở để ghi
nhận thông tin ban đầu cho hệ thống thông tin kế toán quản trị trước khi đưa vào xử lý.
Thứ ba, thông tin kế toán quản trị và thông tin kế toán tài chính đều chịu trách
(cổ đông, nhà đầu tư, cơ quan
thuế, đối tác, ngân hàng…)
Đặc điểm của
thông tin
- Thông tin hướng tới tương lai,
hiện tại và rất linh hoạt; thường thể
hiện tính kịp thời, tốc độ để kịp đưa
ra các quyết định hàng ngày.
- Sử dụng nhiều loại thước đo (hiện
vật, giá trị, thời gian…), tuỳ theo
mục tiêu nghiên cứu và các quyết
định cụ thể mà coi trọng thước đo
nào.
- Mang tính sử dụng nội bộ doanh
nghiệp và thuộc về bí mật doanh
nghiệp. Tính bí mật phụ thuộc vào
tính chất của thông tin và vai trò
của từng cấp quản trị trong doanh
nghiệp.
- Thông tin thường phản ánh
quá khứ và tuân theo các
chuẩn mực, chế độ kế toán
hướng dẫn, mang tính chính
xác cao.
- Sử dụng thước đo giá trị là
cơ bản. Sản phẩm cuối cùng là
hệ thống báo cáo kế toán thể
hiện bằng thước đo giá trị.
- Mang tính công khai
Phạm vi thông
cao do phục vụ cho bên ngoài
(cơ quan Nhà nước, Ngân
hàng…) và là căn cứ để xác
định nghĩa vụ nộp thuế cũng
như ra quyết định của các cơ
quan chức năng đối với doanh
nghiệp trong hoạt động kinh
doanh.
1.2. KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT
1.2.1. Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của kế toán quản trị chi phí sản xuất
1.2.1.1. Khái niệm kế toán quản trị chi phí sản xuất.
Như đã phân tích ở trên, kế toán quản trị là một môn khoa học thu nhận, xử lý và
cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị
cụ thể; các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan
đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các
hoạt động của đơn vị.
Đối với chi phí sản xuất: dưới góc độ của kế toán tài chính, chi phí sản xuất là
những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất trong một kỳ hạch toán,
có những khoản chi phí phát sinh của kỳ này nhưng không được tính vào chi phí trong
kỳ để xác định kết quả hoặc ngược lại, có những khoản chi phí chưa phát sinh ở kỳ này
nhưng đã được tính vào chi phí trong kỳ để xác định kết quả. Dưới góc độ của kế toán
quản trị, chi phí sản xuất được coi là những khoản phí tổn thực tế gắn liền với các
phương án, sản phẩm trong sản xuất; chi phí sản xuất mang tính cụ thể nhằm để xem
xét hiệu quả của các bộ phận sản xuất như thế nào, đó chính là cơ sở để đưa ra các
quyết định đầu tư, chọn phương án tối ưu.
Như vậy, kế toán quản trị chi phí sản xuất là một bộ phận của hệ thống thông tin
kế toán, nó thu nhận, xử lý, phân tích, đánh giá, tổng hợp và cung cấp thông tin định
tính và định lượng về những phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất theo các
đối tượng phù hợp, từ đó giúp cho các nhà quản trị ra quyết định trong việc hoạch định,
Một trong những thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là
các thông tin về chi phí, vì mỗi khi chi phí tăng thêm sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi
nhuận. Do vậy, các nhà quản lý cần phải kiểm soát chặt chẽ chi phí của doanh nghiệp,
trong đó không thể không kể đến chi phí sản xuất. Trong kế toán quản trị, chi phí sản
xuất được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, mỗi tiêu thức phân loại đều có ý
nghĩa đối với các nhà quản trị trong quá trình kiểm soát các loại chi phí nói chung và
chi phí sản xuất nói riêng. Mặt khác, các tiêu thức phân loại chi phí còn có ý nghĩa
cung cấp thông tin cho mọi đối tượng bên ngoài nhằm đạt được các mục tiêu khác
nhau. Có năm cách phân loại chi phí, đó là: Phân loại chi phí theo chức năng, theo mối
quan hệ với mức độ hoạt động, theo khả năng quy nạp, theo tính liên quan, theo khả
năng kiểm soát.
a. Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Việc phân loại chi phí theo chức năng hoạt động để phục vụ hai mục đích chính.
Thứ nhất là để xác định vai trò, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp. Thứ hai là để cung cấp thông tin có tính
hệ thống cho việc lập các báo cáo tài chính. Theo chức năng hoạt động, chi phí được
chia thành hai loại: Chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
* Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là các khoản chi phí phát sinh trong phạm vi sản xuất của doanh
nghiệp (phân xưởng, tổ, đội…). Chi phí sản xuất là sự tiêu hao của các yếu tố sản xuất
như lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và các chi phí khác để tạo ra giá thành
của sản phẩm hay dịch vụ trong kỳ. Chi phí sản xuất thường được chia thành ba khoản
mục cơ bản:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là các khoản chi về các loại vật liệu mà có thể
tập hợp thẳng cho các đối tượng chịu chi phí. Đặc điểm của chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp thường mang tính chất biến phí, nó cấu thành nên thực thể của sản phẩm,
chiếm tỉ trọng khá cao trong chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Thông thường, chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp có thể định mức cho một đơn vị sản phẩm vừa là cơ sở xây
dựng dự toán, vừa là cơ sở để kiểm soát chi phí.
Ngoài nguyên vật liệu chính, việc sản xuất sản phẩm cũng thường cần có các chi
trưởng…) hoặc các nhân viên của các bộ phận không tham gia vào quá trình trực tiếp
tạo nên sản phẩm.
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định phục vụ quá trình sản xuất. Thời gian khấu hao
của tài sản cố định phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, thông thường, các máy móc có
công nghệ biến đổi nhanh thường áp dụng phương pháp khấu hao giảm dần, các tài sản
cố định như nhà xưởng thường áp dụng phương pháp khấu hao bình quân.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài (tiền điện, tiền nước…) phục vụ quá trình sản xuất
+ Chi phí khác liên quan đến quá trình sản xuất: thiệt hại trong sản xuất…
Chi phí sản xuất chung có bốn đặc điểm: Thứ nhất, bao gồm nhiều khoản mục chi
phí khác nhau; thứ hai, các khoản mục thuộc chi phí sản xuất chung đều có tính gián
tiếp với từng đơn vị sản phẩm, nên không thể tính thẳng vào sản phẩm; thứ ba, cơ cấu
chi phí sản xuất chung gồm cả biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp; thứ tư, do gồm
nhiều khoản mục chi phí nên chúng được nhiều bộ phận khác nhau quản lý và rất khó
kiểm soát.
* Chi phí ngoài sản xuất
Để tổ chức và thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp còn phải thực hiện
một số khoản chi phí ở khâu ngoài sản xuất được gọi là chi phí ngoài sản xuất. Chi phí
ngoài sản xuất gồm hai loại: chi phí bàn hang và chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Chi phí bán hàng: là các khoản chi phí phục vụ cho việc tiêu thụ hàng hoá, sản
phẩm của các tổ chức hoạt động kinh doanh. Chi phí này gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố
thường bao gồm cả định phí và biến phí. Chi phí bán hàng thường gồm: chi phí nhân
viên bán hàng (lương, tiền thưởng, phụ cấp, các khoản trích theo lương của nhân viên
bán hàng); chi phí vật liệu phụ cho bán hàng (văn phòng phẩm, bao gói sản phẩm); chi
phí công cụ dụng cụ phục vụ cho bán hàng (dụng cụ quầy hàng, tủ hàng…); chi phí
khấu hao tài sản cố định phục vụ bán hàng; chi phí mua ngoài (tiền điện, nước, dịch vụ
quảng cáo, tiếp thị…) và các chi phí khác (tiếp khách, hoa hồng cho khách…)
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí điều hành, tổ chức và phục
vụ hành chính. Chi phí này cũng bao gồm nhiều yếu tố cả định phí và biến phí. Do đó
các nhà quản trị muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cũng cần kiểm soát trên hai bộ phận
là định phí và biến phí. Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm: chi phí nhân viên bộ máy
xuất hay quy mô hoạt động. Biến phí thường có hai đặc điểm sau: Thứ nhất, biến phí
tính cho một đơn vị sản phẩm thường không thay đổi. Xét theo tổng quy mô hoạt động
thì biến phí thay đổi và khi đó tổng chi phí biến đổi của hoạt động thường tỷ lệ với kết
quả sản xuất, nếu doanh nghiệp không hoạt động thì biến phí không phát sinh. Dựa vào
đặc điểm này, các nhà quản trị xây dựng định mức biến phí để kiểm soát các khoản chi
phí. Thứ hai, biến phí của doanh nghiệp có nhiều loại khác nhau, nếu chia theo tính
chất tác động, biến phí gồm hai loại cơ bản là biến phí tỷ lệ và biến phí cấp bậc. Biến
phí tỷ lệ là biến phí hoàn toàn tỷ lệ thuận với kết quả sản xuất hoặc quy mô hoạt động.
biến phí cấp bậc là biến phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhiều và rõ
ràng ( ví dụ như chi phí bảo dưỡng máy móc…).
Biến phí sẽ biến đổi theo căn cứ được xem là nguyên nhân phát sinh ra chi phí đó
– thường được gọi là hoạt động căn cứ. Các hoạt động căn cứ thường được dùng gồm:
Sản lượng sản xuất; số giờ máy hoạt động; số giờ lao động trực tiếp; số km vận
chuyển; mức tiêu thụ sản phẩm; diện tích gieo trồng…. Tuỳ theo từng loại chi phí cụ
thể phát sinh trong doanh nghiệp, nhà quản trị cần xác định được hoạt động căn cứ của
từng loại chi phí để có thể xây dựng hệ thống định mức cũng như kiểm soát tốt nhất chi
phí phát sinh.
Đặc điểm của biến phí được minh hoạ theo hai đồ thị dưới đây
chi
phí
chi
phí
biến
phí
cấp
bậc
biến phí tỷ lệ
mức độ hoạt động mức độ hoạt động
Sơ đồ 1.1 Đồ thị minh hoạ biến phí.
* Định phí (chi phí cố định): là những khoản chi phí không thay đổi trong giới
bình phương bé nhất, phương pháp hồi quy bội, phương pháp đồ thị phân tán và các
phương pháp khác.
- Phương pháp cực đại – cực tiểu:
Thực chất của phương pháp này là quan sát mức độ cao nhất và thấp nhất của chi
phí hỗn hợp gắn với quy mô hoạt động, từ đó bộ phận biến phí được xác định bằng
cách lấy chênh lệch chi phí ở mức độ hoạt động cao nhất và thấp nhất chia cho chênh
lệch của mức độ hoạt động ở hai điểm này.
Biến phí 1 đơn vị sản phẩm =
Từ đó tính ra tổng định phí bằng cách lấy tổng chi phí hỗn hợp (ở mức độ hoạt
động cao nhất hoặc thấp nhất) trừ đi tổng biến phí.
Tổng định phí = Tổng chi phí – Tổng biến phí
Và xây dựng phương trình dự đoán chi phí hỗn hợp có dạng:
= a + b.x
Trong đó: a là định phí
b là biến phí 1 đơn vị sản phẩm
x là quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Phương pháp này có ưu điểm là công việc tính toán đơn giản, song độ chính xác
chưa cao khi dự đoán chi phí hỗn hợp ngoài phạm vi hoạt động của quy mô xác định.
- Phương pháp bình phương bé nhất: dựa trên sự biến thiên của hàm chi phí tuyến
tính có dạng: Y = a + b.x
Trong đó: a là định phí
b là biến phí 1 đơn vị sản phẩm
x là quy mô hoạt động của doanh nghiệp
Từ phương trình tuyến tính căn bản này với n phần tử nghiên cứu ta xây dựng hệ
phương trình bậc nhất có hai ẩn số là a và b
Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất để tách định phí và biến phí trong chi
phí hỗn hợp cho kết quả chính xác hơn phương pháp cực đại – cực tiểu vì nó sử dụng
phân tích thống kê để xác định đường hồi quy cho các điểm, tuy nhiên công việc tính
toán lại phức tạp hơn.
- Phương pháp hồi quy bội: dựa trên cơ sở hàm hồi quy bội có dạng tổng quát:
kỳ hạch toán, và có tính đại diện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ.
d. Phân loại chi phí theo tính liên quan
Căn cứ theo sự ảnh hưởng tới việc lựa chọn các phương án, chi phí được chia
thành ba loại: chi phí chênh lệch, chi phí chìm và chi phí cơ hội.
* Chi phí chìm: là khoản chi phí mà doanh nghiệp vẫn phải chịu mặc dù các nhà
quản trị chọn bất kỳ phương án kinh doanh nào. Nó thường là chi phí đã phát sinh
trong quá khứ và không bị ảnh hưởng bởi các phương án hoạt động trong hiện tại cũng
như trong tương lai.
* Chi phí cơ hội: Trong thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp hầu như các
khoản chi phí phát sinh đều được ghi nhận vào hệ thống sổ kế toán. Tuy nhiên có
những loại chi phí rất quan trọng thường tồn tại nhưng không được ghi vào sổ kế toán
– đó chính là chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là phần lợi nhuận tiềm năng bị từ bỏ khi lựa
chọn một phương án thay vì phương án khác.
* Chi phí chênh lệch: Trong kinh doanh, mọi quyết định đều liên quan đến ít nhất
hai phương án lựa chọn. Chi phí chênh lệch là chi phí khác nhau giữa hai phương án và
chỉ chi phí chênh lệch mới liên quan đến việc lựa chọn các phương án.
e. Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát
Căn cứ theo mối quan hệ của chi phí với mức độ kiểm soát của các nhà quản trị,
chi phí được chia thành hai dạng: chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát
được.
* Chi phí kiểm soát được: là khoản chi phí mà nhà quản trị có quyền quyết định
hoặc nhà quản trị có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ phát sinh chi phí.
* Chi phí không kiểm soát được: là những chi phí mà nhà quản trị không có
quyền quyết định hoặc nhà quản trị có ảnh hưởng không đáng kể tới mức độ phát sinh
chi phí.
1.2.2.2. Các phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm, dịch vụ
Xác định chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản trị trong
việc đưa ra mọi quyết định kinh doanh. Mục đích xác định chi phí là để cung cấp thông
tin về giá thành đơn vị sản phẩm, dịch vụ cần thiết cho nhà quản trị để điều hành các
hoạt động sản xuất kinh doanh như:
Quá trình vận động của chứng từ được khái quát theo sơ đồ sau: