BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--o0o-- NGUYỄN DUY MINH GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
GIAO NHẬN VẬN TẢI HÀNG LẺ CỦA CÔNG TY
VINALINK
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
2.1.3. Quy trình công nghệ của vận chuyển hàng lẻ ..................................................18
2.2. THỰC TRẠNG CÁC CÔNG TY GIAO NHẬN VẬN TẢI TẠI TP. HCM ...........19
2.2.1. Tình hình chung.................................................................................................19
2.2.2. Tình hình cung cấp dòch vụ vận chuyển hàng lẻ tại TP. HCM.........................19
2.2.2.1. Thò trường vận chuyển hàng lẻ ...................................................................19
2.2.2.2. Nhân sự .......................................................................................................21
2.2.2.3. Dòch vụ hỗ trợ................................................................................................ 21
2.3. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ
CÔNG TY GIAO NHẬN VẬN TẢI DẪN ĐẦU TẠI THỊ TRƯỜNG TP.HCM .......22
2.3.1. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ..............................22
2
2.3.1.1. Số lượng các công ty mới tham gia vào ngành ...........................................22
2.3.1.2. Sự có mặt của các sản phẩm thay thế.........................................................24
2.3.1.3. Vò thế đàm phán của bên cung ứng ............................................................25
2.3.1.4. Vò thế đàm phán của bên tiếp nhận............................................................25
2.3.1.5. Khả năng cạnh tranh của các công ty giao nhận vận tải ............................26
2.3.2. Ma trận hình ảnh cạnh tranh của các công ty giao nhận vận tải ......................28
2.3.3. Ưu điểm và tồn tại về năng lực cạnh tranh của 5 NVOCC Consolidator.........34
2.3.3.1. Ưu điểm.......................................................................................................34
2.3.3.2. Tồn tại .........................................................................................................35
CHƯƠNG 3 : ĐÓNG GÓP MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH GIAO NHẬN VẬN TẢI CỦA CÔNG TY
VINALINK..............................................................................................37
3.1. QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN GIẢI PHÁP................................................................37
3.1.1. Quan điểm 1: Ưu tiên phát triển các tổ chức giao nhận trong nước ................37
3.1.2. Quan điểm 2: Không ngừng nâng cao chất lượng giao nhận vận tải...............38
3.1.3. Quan điểm 3: Coi trọng nhu cầu của khách hàng trong giao nhận vận
tải ........................................................................................................................................ 38
3.2. MỤC TIÊU THỰC HIỆN GIẢI PHÁP...................................................................39
3.4.1. Đối với Nhà nước..............................................................................................52
3.4.2. Đối với các doanh nghiệp giao nhận vận chuyển hàng lẻ................................52
Kết luận.............................................................................................................................. 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 56
PHỤ LỤC 4
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây thật sự sôi động.
Cạnh tranh trong các ngành kinh tế diễn ra gay gắt và quyết liệt. Hoạt động giao
nhận xuất nhập khẩu ở Việt Nam còn trong giai đoạn hết sức non trẻ cũng chứa
đựng trong mình nó sự xung đột âm ỉ của các doanh nghiệp trong ngành.
Các doanh nghiệp giao nhận vận tải trên đòa bàn TP. HCM hết sức phong
phú về số lượng và đa dạng về chất lượng. Có doanh nghiệp giao nhận là của tư
nhân, có doanh nghiệp là của các tổ chức nước ngoài, có doanh nghiệp là của nhà
nước, cũng có doanh nghiệp là liên doanh hay cổ phần. Dù thuộc bất kỳ thành
phần kinh tế nào, các doanh nghiệp giao nhận nào cũng không hề lơ là cho việc
phát triển thò phần của mình. Có nhiều doanh nghiệp ra đời, rồi lớn mạnh rất
nhanh và trưởng thành thật sự, có doanh nghiệp lại gục ngã ngay giữa vinh quang
trên thò trường bởi quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thò trường hà khắc.
Bản thân người nghiên cứu đề tài đã và đang công tác trong ngành giao
nhận vận tải đã chứng kiến nhiều sự xuất hiện và ra đi như thế. Có trực tiếp trong
ngành mới thấy hết sự nghiệt ngã của thò trường. Nhằm góp chút tiếng nói vào
quá trình phát triển của ngành, của các doanh nghiệp trong ngành, tôi đã chọn đề
trong lónh vực vận tải hàng lẻ, một phương thức vận tải mới .
• Giới hạn nghiên cứu :
Từ thực tiễn hoạt động trong ngành, việc nghiên cứu được giới hạn ở lónh
vực vận tải hàng lẻ, trong phạm vi khu vực TP.HCM, Bình Dương và Đồng Nai
(chủ yếu là ở Thành Phố Hồ Chí Minh)
• Kết cấu luận văn :
Gồm 3 Chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương 2 : Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh giao nhận vận tải hàng lẻ
của công ty Vinalink
Chương 3 : Đóng góp một số giải pháp nâng cao năng lực canh tranh giao
nhận vận tải hàng lẻ của công ty Vinalink
Vì trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài chắc chắn không tránh
khỏi có những thiếu sót nhất đònh.
Kính mong nhận được sự góp ý của các Quý Thầy Cô trong Hội đồng đánh
giá luận văn.
Xin chân thành cảm ơn.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
Kinh tế thò trường là một hình thái trong phát triển kinh tế xã hội. Trong
đó, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua
mua bán hàng hóa, dòch vụ trên thò trường và thái độ cư xử của từng chủ thể kinh
tế là nhằm hướng vào việc tìm kiếm lợi ích cho chính mình theo sự dẫn dắt của
giá cả thò trường.
Nói kinh tế thò trường là nói nền kinh tế vận động chủ yếu theo cơ chế thò
trường. Đó là hình thức tổ chức kinh tế mà trong đó cá nhân người tiêu dùng và
nhiều người đã trở nên lúng túng, không tìm được lối ra, dẫn đến làm ăn ngày
càng thua lỗ.
Kinh tế thò trường là tính tới lợi ích, lợi ích đó đạt được qua cạnh tranh.
Không có cạnh tranh, động lực hoạt động của kinh tế thò trường bò tiêu diệt. Chính
vì vậy, kinh tế thò trường với đặc trưng cạnh tranh, có thể nói là một công nghệ
hiện đại để phát triển kinh tế trong thời nay.
1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH.
Thuật ngữ năng lực cạnh được sử dụng rất rộng rãi trong giao tiếp hàng
ngày, trong sách báo chuyên môn , cũng như trên các phương tiện thông tin đại
chúng của các nhà kinh doanh, các chuyên gia kinh tế, các chính khách…
Đặc biệt là thời gian gần đây, khi nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu khác
thường (tăng trưởng chậm, thiểu phát, đầu tư giảm sút…) mà một trong những
nguyên nhân đó là do hàng hóa nước ta kém sức cạnh tranh trên thò trường trong
và ngoài nước.
Năm 1999, Việt Nam đứng thứ 48 trong số 59 quốc gia trên thế giới được
xếp hạng về sức cạnh tranh của thò trường.
8
Bảng 1: Vò thế cạnh tranh của thò trường các quốc gia Đông Nam Á năm 1999
STT Quốc gia Xếp hạng Ghi chú
1 Singapore 1
2 Malaysia 16
3 Thái Lan 30
4 Philipines 33
5 Indonesia 37
6 Vietnam 48
Có 59 quốc
gia được xếp
hạng về sức
Hình 1: Khối kim cương các lợi thế cạnh tranh
Vấn đề là yếu tố nào trong nền kinh tế quốc dân - với tư cách là nền
móng, chỗ dựa của công ty - giữ vai trò quyết đònh. Vì chỉ số năng suất, đến lượt
nó, phụ thuộc vào trình độ phát triển và tính năng động của các công ty, cho phép
các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên một lónh vực cụ thể.
Chiến lược, cơ cấu của
công ty và đối thủ cạnh
tranh
Các ngành hổ trợ và
các ngành liên quan
Các điều kiện về
nhân tố sản xuấ
t
Các điều kiện về
cầu
1.2.1.2. Ở cấp độ ngành/ công ty.
Theo quan điểm lý thuyết thương mại truyền thống, năng lực cạnh tranh
của sản phẩm ở cấp độ ngành/ công ty được xem xét qua lợi thế so sánh về chi
phí sản xuất và năng suất. Vì chi phí các yếu tố sản xuất thấp vẫn được coi là
thay thế
Vò thế đàm
phán của bên
tiếp nhận
Vò thế đàm
phán của bên
cung ứng
Khả năng tranh đua
của các công ty đang
tranh đua với nhau
1. Số lượng các công ty mới tham gia vào ngành:
Trong quá trình vận động của lực lượng thò trường, thường có những công
ty mới gia nhập thò trường và những công ty yếu hơn rút ra khỏi thò trường. Chẳng
hạn từ khi xuất hiện các công ty liên doanh lớn như Coca-Cola, Pepsi… người ta
11
đã không thấy đậm nét nhãn hiệu Tribeco một thời nổi tiếng trên thò trường nước
giải khát Việt Nam.
Cạnh tranh sẽ loại bỏ những công ty yếu kém, không thích nghi với môi
trường, đồng thời làm tăng khả năng của một số công ty khác.
Số lượng các công ty mới tham gia vào một ngành nhiều hay ít phụ thuộc
vào đặc điểm kỹ thuật của ngành và mức độ hấp dẫn của thò trường đó. Mức độ
hấp dẫn càng cao, số lượng các công ty mới tham gia càng nhiều, tính cạnh tranh
càng quyết liệt.
2. Sự có mặt (hay thiếu vắng) các sản phẩm thay thế:
Sản phẩm thay thế phần lớn là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ để tạo
ra những sản phẩm mới có cùng công năng, thay thế sản phẩm hiện tại. Người ta
sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế khi giá cả của sản phẩm hiện tại quá
cao.
Tranh đua giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong những
yếu tố phản ánh bản chất của cạnh tranh. Sự có mặt của các công ty cạnh tranh
chính trên thò trường và tình hình hoạt động của họ là lực lượng tác động trực tiếp,
mạnh mẽ và tức thì tới năng lực cạnh tranh của các công ty.
Các công ty chính đóng vai trò chủ chốt, có khả năng chi phối và khống
chế thò trường. Các công ty trong ngành cần phải nghiên cứu, đánh giá khả năng
cạnh tranh của các công ty chính, để xây dựng cho mình một chiến lược cạnh
tranh thích hợp với năng lực cạnh tranh chung của ngành.
Các yếu tố trên đồng thời tạo nên môi trường cạnh tranh mà M.Porter gọi
là 5 lực lượng hay 5 áp lực cạnh tranh trên thò trường ngành. Các áp lực này ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh trong ngành.
Tóm lại ở cấp độ ngành, công ty, có 3 quan điểm về năng lực cạnh tranh :
+ Quan điểm của lý thuyết thương mại truyền thống : Xem xét năng lực
cạnh tranh qua lợi thế so sánh về chi phí và năng lực sản xuất.
13
+ Quan điểm tổng hợp: Xem xét năng lực cạnh tranh qua việc tạo ra và
duy trì lợi nhuận và thò phần trên thò trường.
+ Quan điểm của M.Porter: Năng lực cạnh tranh chòu ảnh hưởng bởi 5 yếu
tố và trong môi trường cạnh tranh là 5 áp lực cạnh tranh.
Những quan điểm trên, đặc biệt là của M. Porter, về năng lực cạnh tranh
cả hai cấp độ: Quốc gia và Ngành, sẽ được vận dụng để phân tích, đánh giá, tìm
ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty trong ngành.
1.2.2. CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP TRONG NGÀNH.
Để đo lường tính cạnh tranh của các doanh nghiệp, ngoài các chỉ tiêu về
công suất máy móc thiết bò, năng suất lao động, sản lượng, lợi nhuận… người ta
còn tiến hành xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh.
Ma trận hình ảnh cạnh tranh sẽ cho một cái nhìn toàn diện năng lực của
các công ty trong môi trường cạnh tranh trong ngành.
quan
trọng
Phân
loại
Điểm
quan
trọng
Phân
loại
Điểm
quan
trọng
Liệt kê
các chỉ
tiêu
Tổng số
điểm
quan
trọng Tóm lại, cạnh tranh là tất yếu khách quan trong nền kinh tế thò trường. Sự
tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, hay sự phát đạt của ngành, công ty phụ
thuộc vào sản phẩm của họ có hay không sức cạnh tranh trên thương trường.
Phân tích thực trạng môi trường cạnh tranh để có những giải pháp nâng cao
tính cạnh tranh là công việc đầu tiên, cần thiết đối với các doanh nghiệp giao
nhận vận tải.
15
thường là hàng của một chủ. Khi chở hàng đóng container bằng tàu đònh chuyến
(tàu thường xuyên) theo phương thức FCL/FCL thì:
- Người gửi hàng (hoặc người giao nhận ủy thác của người gửi hàng)
yêu cầu người chuyên chở cung cấp vỏ container hoặc thuê vỏ container đưa về
kho của mình đóng hàng, mời cơ quan Hải quan kiểm hóa, kẹp chì, niêm phong.
- Sau đó đưa đến giao cho người chuyên chở tại bãi container
(container yard - CY) của họ hoặc đưa đến bến cảng xếp tàu theo chỉ dẫn của họ.
- Tiếp sau, hàng được chuyên chở đến cảng đích, người chuyên chở
đưa về bãi container của mình hoặc bãi cảng để giao cho người nhận hàng.
- Người nhận hàng làm thủ tục Hải quan lấy hàng ra, nếu được Hải
quan chấp thuận thì đưa container nguyên niêm chì về kho bãi của mình hay của
người giao nhận, mời Hải quan kiểm hóa để lấy hàng ra.
Như vậy, người chuyên chở chòu trách nhiệm từ khi nhận nguyên vẹn cho
đến khi giao nguyên vẹn container.
Trách nhiệm ấy không chỉ bắt đầu khi nhận hàng lên tàu và kết thúc khi
dỡ hàng khỏi tàu như quy đònh của Quy tắc Hague mà còn mở rộng từ khi nhận
container vào CY hay bến cảng cho đến khi giao xong cho người nhận hàng tại
CY của mình bat bến cảng ở cảng đích.
LCL (Less Container Load): Là gửi hàng lẻ, không đủ cho một container
vào chung một container, tức là container chung chủ do người chuyên chở gom
lại.
Khi gửi hàng theo phương thức LCL/LCL thì:
- Người chuyên chở nhận các lô hàng lẻ vào trạm đóng hàng
(container freight station - CFS) của mình, đóng chung vào container, chòu chi phí
đóng hàng và xếp tàu, chở đến cảng đích.
- Tại cảng đích, người chuyên chở bốc container lên, đưa về CFS của
mình, lấy hàng ra phân phối cho những người nhận hàng. Chi phí do người
17
chuyên chở chòu. Thủ tục Hải quan đối với hàng hóa do người nhận hàng đảm
hàng không có sử dụng container trong vận chuyển. Hình thức hàng lẻ ra đời sau
hàng nguyên container một thời gian dài nhưng có tốc độ phát triển nhanh chóng
vì có những lợi thế tuyệt đối mà hình thức vận tải hàng nguyên container không
có được.
Vai trò của vận tải hàng lẻ hết sức quan trọng vì các nguyên do sau:
Vận tải hàng lẻ là sản phẩm hữu ích đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khi
mới bắt đầu kinh doanh. Điều này có thể được lý giải rằng các doanh nghiệp mới
khởi nghiệp thường có quy mô xuất hàng hóa không lớn, nhu cầu vận chuyển
hàng hóa một lần thường không sử dụng hết khoảng không gian của một
container loại nhỏ nhất 20’ là khoảng 23-25 mét khối hàng hóa. Do vậy, sẽ là
không hiệu quả khi các doanh nghiệp này mua cước của cả một container để rồi
vận chuyển chỉ vài ba khối hàng hóa của mình.
Từ chỗ tiết kiệm được chi phí khi mua cước hàng lẻ, các doanh nghiệp có
thể giảm giá thành sản phẩm xuất khẩu. Từ đó tăng sức cạnh tranh về giá cho
hàng hóa của họ, thò phần thế giới của họ ngày càng lớn và nhu cầu xuất nhập
hàng hóa lại càng tăng từ đó quay lại góp phần phát triển tiếp tục dòch vụ vận
chuyển hàng lẻ .
Cũng có một số loại hàng hóa có dung lượng hàng xuất hoặc nhập rất lớn
nhưng vì cường độ xuất không cao hoặc kích thước hàng hóa không lớn nên nhu
cầu thuê cả không gian của một container trong một lần xuất hoặc nhập là không
cần thiết.
Thủ tục vận chuyển hàng lẻ ngày nay đã được các Công ty Gom hàng
thực hiện chuyên nghiệp và giảm giá thành rất thấp. Chính vì thế mà hoạt động
này hết sức tiện lợi cho người xuất khẩu. Người xuất khẩu có thể yên tâm về chất
lượng hàng hóa trong quá trình vận chuyển cũng như tính bảo đảm cho việc nhận
hàng của người nhận hàng.
Vận chuyển hàng lẻ đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt
động xuất nhập khẩu của bất kỳ quốc gia nào. Cùng với vận chuyển hàng nguyên
container, vận chuyển hàng lẻ đã đáp ứng được nhu cầu kinh doanh xuất nhập
19
1996 7.255
1997 9.185
1998 9.360
1999 11.540
2000 14.000
Nguồn: Niên giám thống kê, năm 2000
Việc gia nhập AFTA năm 2006 của Việt Nam cũng như Hiệp đònh thương
mại Việt Mỹ vừa được ký kết cũng hứa hẹn mở ra nhiều khả năng tốt cho hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong những năm tới. Điều đó
cũng đồng nghóa với nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu cũng gia tăng
và vận chuyển hàng lẻ càng có cơ hội để khẳng đònh mình.
2.1.3. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ CỦA VẬN CHUYỂN HÀNG LẺ.
- Giai đoạn 1 : Công ty gom hàng (NVOCC consolidator) gom các lô
hàng của shipper về kho sau đó xếp vào container.
- Giai đoạn 2 : Gửi container “gom” cho đại lý ở Singapore/ Hồng
Kông để:
+ Chia lẻ ra các final destination.
+ Gom hàng lần thứ hai (từ nhiều nước khác gửi về).
+ Đóng các lô hàng lẻ đã gom lần lần thứ vào container.
- Giai đoạn 3 : Đại lý ở Singapore gửi container gom lần thứ hai đến
cảng đích.
- Giai đoạn 4 : Đại lý tại cảng đích giao hàng cho người nhận
(consignee)
21
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÁC CÔNG TY GOM HÀNG LẺ TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
2.2.1. TÌNH HÌNH CHUNG.
Ngành vận chuyển hàng lẻ ra đời tại TP.HCM năm 1994, muộn hơn
Singapore 14 năm (Singapore đầu năm 1980). Hai năm sau ngành này đã xuất
5. CÔNG TY MPI: Ra đời vào năm 1999 nhưng ký hợp đồng được một
đại lý ở Singapore có giá chuyền tải hàng hàng lẻ rất cạnh tranh. Do có được
nhà thầu phụ tốt nên MPI đã có sự tăng trưởng thò phần nhanh chóng mặc dù xuất
hiện trên thò trường muộn hơn .
2.2.2.1. THỊ TRƯỜNG VẬN CHUYỂN HÀNG LẺ .
Có thể chia ngành vận chuyển hàng lẻ tại TP.HCM thành 2 khu vực.
1. Khu vực hàng chỉ đònh (nominated shipment)
Khách hàng ở khu vực này hầu hết là các nhà máy sản xuất gia công hoặc
bán giá FOB nên phần vận chuyển đều do người mua ở nước ngoài chỉ đònh hãng
vận chuyển. Vì thế các công ty được chỉ đònh đa số là đại lý của các hãng giao
nhận nước ngoài như Kuehne Nagel, Birkar, Panalpinal, Shenker, Geo Logistic,
KWE, Nippon Express… Thông thường, người mua ở nước nào sẽ chỉ đònh hãng
giao nhận ở nước họ hoặc các hãng giao nhận đa quốc gia. Do khách hàng của
khu vực này thường là các nhà máy nên lượng hàng xuất rất lớn nhưng các công
ty giao nhận, công ty gom hàng lẻ Việt Nam không thể tấn công được vào khu
vực bất khả xâm phạm này được.
2. Khu vực hàng tự do (freehand-shipment).
Khách hàng của khu vực này đa số là các cơ sở sản xuất nhỏ, shop bán
hàng cho khách du lòch và họ thường bán hàng theo giá CNF hoặc được người
mua ủy quyền gửi hàng. Vì thế đây chính là mảnh đất màu mỡ của 5 Công ty
gom hàng dẫn đầu cùng khoảng gần 500 công ty nhỏ khác cạnh tranh với nhau.
Sự cạnh tranh gay gắt ngày càng trở nên khốc liệt hơn và thò trường trở nên quá
nhỏ bé cho nhiều người. Tuy nhiên , hầu hết hàng hàng lẻ thuôc khu vực hàng tự
do đều tập trung cho 5 công ty gom hàng lẻ lớn vì các công ty nhỏ còn lại không
có khả năng gom hàng nên đều phải sử dụng lại dòch vụ .
23
2.2.2.2. NHÂN SỰ.
Tổ chức dòch vụ vận chuyển gom hàng cần những nhân viên được đào tạo
Các doanh nghiệp
mới tiềm năng Hình 3: Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
2.3.1.1. SỐ LƯNG CÁC CÔNG TY MỚI THAM GIA VÀO NGÀNH.
Trước năm 1986, hoạt động xuất nhập khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh có
đầu mối là công ty Vinalink (trước kia là Vinatrans). Thực tế cũng có một số công
ty lớn có chức năng xuất nhập khẩu trực tiếp và làm ủy thác cho các công ty
khác, nhưng nhìn chung các công ty dạng này không nhiều. Nhưng từ năm 1986
trở lại đây, do Nhà nước thực hiện chính sách cải cách kinh tế theo hướng mở cửa
hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, nhiều công ty đã được phép thực hiện
Thế mặc cả
của các nhà
cung cấp
Mối đe dọa của sản
phẩm thay thế
Thế mặc cả
của người
mua
Tranh giành giữa các