TỔNG HỢP ÔN TẬP CÁC DẠNG VĂN 11 HỌC KÌ I - Pdf 24

TỔNG HỢP ÔN TẬP CÁC DẠNG ĐỀ VĂN 11 HỌC KÌ I
Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam :
I. Kiến thức cơ bản cần nắm vững :
1/Vài nét về nhà văn Thạch Lam:
- Thạch Lam ( 1910 – 1942) ; Ông tên thật là Nguyễn Tường Vinh .Ông là một
trong những cây bút viết truyện ngắn tài hoa của nhóm Tự lực văn đòan.
- Tác phẩm của Thạch Lam đậm cảm hứng lãng mạn nhưng không thoát ly hiện
thực đời sống : thấm đượm lòng nhân ái với một văn phong nhẹ nhàng, man mác chất
thơ.
2/Truyện ngắn “Hai đứa trẻ”:
a. Về nội dung :
+ “Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn hay, mang đậm chất Thạch Lam .Truyện thể hiện
niềm thương cảm sâu xa, thấm thía của nhà văn với cảnh sống quẩn quanh, mòn mỏi, tăm
tối của chị em Liên và những người dân nghèo nơi phố huyện. Qua bức tranh thiên nhiên
và tâm trạng của nhân vật chính ( Liên) trong tác phẩm, nhà văn dẫn người đọc vào thế
giới của tâm trạng, cảm giác, bâng khuâng buồn- vui cùng nhân vật.
+ Tác phẩm cũng là truyện ngắn viết bằng cả ký ức tuổi thơ và tình yêu phố huyện của
Thạch Lam. Tác phẩm thấm được chất thơ bình dị của cảnh vật và tâm hồn
b. Về nghệ thuật : Cốt truyện không đơn giản ( kiểu truyện ngắn trữ tình); giọng
văn nhẹ nhàng , trầm tĩnh; lời văn bình dị,tinh tế.
3/ Các nội dung và nghệ thuật trong từng phần:
a/ Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn:
- Không gian tạo vật:
+ Được hiện lên với nhiều âm thanh, màu sắc, hình ảnh và đường nét ( Tiếng
trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran, tiếng muỗi vo ve; phương Tây đỏ rực, đám mây
ánh hồng , dãy tre làng đen lại…)
+ Khung cảnh ấy được nhà văn thể hiện qua những câu văn êm dịu, uyển chuyển,
tinh tế.Mỗi câu như một nét vẽ đơn sơ , không cầu kỳ kiểu cách nhưng lại gợi được cái
hồn của cảnh vật , cái thần thái của thiên nhiên …Mỗi câu văn như mở ra một cảnh : cảnh
trước gọi cảnh sau rất độc đáo và ấn tượng…
 Một bức “họa đồng quê” quen thuộc, gần gũi , bình dị và gợi cảm , không kém

người vẫn không thôi mơ ước những điều tốt đẹp .Bởi lẽ, sống là phải biết ước mơ và
hy vọng. Qua đó thể hiện niềm xót thương da diết của nhà văn.
c/ Bức tranh phố huyện huyện khi tàu đến và táu đi:
- Lúc tàu đến : phố huyện bừng sáng , náo nhiệt trong cái im lặng mênh mông
của đêm tối. Một phố huyện sáng rực, vui vẻ và huyên náo.
- Khi tàu đi : bóng tối lại dày đặc và để lại bao tiếc nuối của mọi người , đặc biệt
là hai chị em Liên.
 Hình ảnh đòan tàu : là biểu tượng của một thế giới thât đáng sống : sức sống
mạnh mẽ, giàu sang và rực rỡ ánh sáng.Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi , nghèo khổ,
tăm tối của người dân phố huyện. Đồng thời, hình ảnh đòan tàu ( với riêng Liên và An )
còn là hình ảnh của Hà Nội, của hạnh phúc, của những ký ức tuổi thơ êm đềm.
* Tóm lại, tác phẩm là ba bức tranh liên hòan , cảnh mỗi lúc một tối hơn, mỗi lúc một
hiu hắt hơn, có sự tương phản giữa : sáng và tối; giữa động và tĩnh, giữa sinh họat
nhàm chán với khỏanh khắc huyên náo khi đòan tàu đi qua.
4/ Gía trị của tác phẩm :
a. Gía trị hiện thực thể hiện ở :
- Bức tranh phố huyện nghèo nàn, tù túng , như bị bỏ quên.
- Cảnh sống buồn chán lặp lại đơn điệu, tối tăm với những con người lầm than, thiếu
thốn cả vật chất lẫn tinh thần.
b.Gía trị nhân đạo:
- Tấm lòng buồn thương, xót xa của nhà văn với những số phận nhỏ bé của người lao
động nghèo.
- Tác giả cũng đã phản ánh sự thức tỉnh của ý thức cá nhân con người : học không
bằng lòng với hiện thực mà luôn khát khát vươn tới ánh sáng và vượt qua số phận .Cuộc
sống của học dù thiếu thốn tất cả nhưng đầy tình người.
 Đây chính là giá trị nhân văn , nhân bản đáng quý của truyện ngắn này
=> Thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm:
+ Đừng bao giờ để cuộc sống của con người chìm vào cái “ao đời phẳng lặng”. Con
người phải sống cho ra sống , phải không ngừng khát khao xây dựng cho mình một cuộc
sống có ý nghĩa.

mẹ con chị Tí …
 Qua ngòi bút miêu tả của Thạch Lam, Liên là một cô bé có tâm hồn nhạy cảm ,
tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người.
=>Bằng sự quan sát ,miêu tả tỉ mỉ, tinh tế với nhiều biến đổi tinh vi, phong phú…
nhà văn đã giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về cảnh vật nơi phố huyện lúc chiều
tàn như thấm vào lòng người hay nỗi buồn của tâm hồn Liên lan tỏa nhuốm vào
cảnh vật.
2/Bức tranh phố huyện lúc đêm về:
- Bức tranh phố huyện lúc đêm về có một sự hòa trộn đầy dụng ý:
+ Ánh sáng trộn vào bóng tối hay ngựơc lại bóng tối trộn vào ánh sáng ( không
gian phố huyện có nhiều quầng sáng, nhưng cũng có nhiều khoảng tối, đến những hòn áa
trên đường vào làng cũng mấp mô thêm vì những hòn đá nhỏ một bên sáng, một bên
tối…).
+ Nhưng ánh sáng thì le lói, chỉ là khe sáng, chấm sáng, hột sáng; bóng đêm thì
vừa mênh mông hiu quạnh vừa dày đặc
( tối hết cả con đường ra sông, con đường vào làng, các ngõ càng thẫm đen hơn nữa, tối
đến mức cả tiếng đàn bầu của bác xẩm và tiếng trống ầcm canh của phố huyện tưởng
chừng như không vang lên được).
 Điều này gợi một nỗi buồn đầy cảm thông, một nhận thức – dù rất mơ hồ- về
những kiếp sống chìm khuất, le lói, những thân phận như “bị bỏ quên’ nơi cái ga xép
của một phố huyện buồn thiu.
3/ Bức tranh phố huyện lúc đoàn tàu đi qua :
- Có một sự tương phản nổi bật giữa hình ảnh đoàn tàu - chút thế giới khác mà
chuyến tàu đêm mang qua phố huyện trong chốc lát ( rồi mang đi) và hình ảnh trở
về trạng thái sống lặng lẽ, tối tăm không thay đổi nơi phố huyện.
- Cũng có một cảm giác xa xôi không biết của nhân vật Liên sau khi đoàn tàu đêm
đi qua ở cuối truyện: “những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên và hình
ảnh thế giới quanh mình, mờ mờ đi trong mắt chị. Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự
xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ.,nhưng
Liên không nghĩ đươc lâu, mắt chị nặng dần, rồi sau Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh,

+ Ánh sáng và bóng tối như là những hình ảnh vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý
nghĩa biểu tựơng, gắn với cảm xúc vui buồn của con người, đời người, mang ý nghĩa
nhân văn.
+Ánh sáng và bóng tối như là những hình ảnh nói lên đặc điểm kết cấu nghệ thuật
của tác phẩm ( đối lập tương phản);….
 Bài làm có thể tổng hợp, kết hợp các góc độ này. Nhưng dù triển khai theo hướng nào
cũng cần phải lưu ý đến ý nghĩa của mối quan hệ giữa hai loại ánh sáng và bóng tối

DÀN Ý
I/ Mở bài :
- Thạch Lam ( 1910-1942) ,là người đôn hậu, điềm đạm, rất đỗi tinh tế .Ông là một cây
bút tài hoa, có biệt tài về truyện ngắn - truyện nhưng không có chuyện.Tác phẩm của ông
chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với biết bao cảm tưởng , cảm giác mơ hồ ,
mong manh …làm đọng lại trong lòng người đọc nhiều dư vi.
- Một trong những tác phẩm thể hiện sức hấp dẫn trong nghệ thuật viết văn ấy của Thạch
Lam là truyện ngắn “Hai đứa trẻ” . Ở đây, nhà văn đã thật thành công trong việc tạo nên
sự tương phản giữa hai hình ảnh ánh sáng và bóng tối mang ý nghĩa biểu tượng, gắn với
cảm xúc vui buồn của con người nơi phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
II/ Thân bài :
1/Hình tượng bóng tối:
a. Bóng tối của thiên nhiên trong tác phẩm đậm đặc, trở đi, trở lại như một ám ảnh
không dứt : - “Đường phố và các ngõ con dần chứa đầy bóng tối; tối hết cả, con
đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà; các ngõ con vào làng lại càng
sẫm đen hơn nữa” .
 Bóng tối gần như chiếm lĩnh cả không gian bao la , tĩnh mịch nơi phố huyện.
b. Bóng tối cuộc đời và bóng tối của cuộc sống con người:
- Đôi mắt Liên “ngập dần vào cái buồn của buổi chiều quê”
- Hình ảnh của bà cụ Thi và tiếng cười khuất dần trong bóng tối như cảnh đời đen tối,
bức bối , vật vờ của cụ Thi
- Mẹ con chị Tý với cái chõng nước và ngọn đèn dầu leo lét…

I/ Mở bài :
- Thạch Lam là nhà văn có sở trường ở thể loại truyện ngắn.Ông thường viết về những
người dân nghèo sống mòn mỏi, bế tắc ở những phố huyện nghèo nàn xơ xác bằng sự
cảm thương sâu sắc.
- Đọc truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam, chúng ta không thể quên nhân vật Liên -
một cô bé nghèo có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con
người.
II/ Thân bài :
1/ Liên là một cô bé có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế :
- Khi chiều về, chứng kiến sự tàn lụi của ánh sáng, nghe tiếng ếch nhái kêu ran ngoài
đồng, nghe tiếng muỗi vo ve trong cửa hàng tạp hóa…Liên cảm thấy “lòng buồn man
mác”.Trái tim ngây thơ của cô bé chắc chưa hiểu được nỗi buồn của kiếp người nhưng
em đã biết rung động trước những đổi thay của thiên nhiên khi chiều xuống.
- Liên còn cảm nhận được mùi riêng của đất, của quê nghèo qua những mùi vị đơn sơ
nhưng thân thuộc “một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn mùi cát bụi quen
thuộc quá”.
- Đêm đầy sao, vũ trụ thăm thẳm đầy bí mật đối với Liên.
- Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu nơi xa xôi cô đơn như chiếc đèn con của chị Tí
chỉ chiếu sáng một vùng rất nhỏ
.=> Nỗi buồn, cô đơn của Liên cũng chính là tấm lòng đồng cảm của em với những số
phận nhỏ bé nghèo khổ nhưng vẫn tự khẳng định mình,vẫn phải sống cuộc sống ở
một phố huyện buồn.
2.Liên còn là một cô bé rất đảm đang, tháo vát , lại giàu lòng nhân ái:
- Tuy còn bé, nhưng Liên vừa trông coi em , lại còn thay mẹ trông coi cửa hàng tạp hóa,
góp phần giúp cha mẹ.Có thể nói ; tuổi thơ của một đứa trẻ nghèo như Liên chẳng còn
,thật đáng cảm thông ,thương xót.
- Đáng trân trọng là tình cảm của Liên giành cho những đứa trẻ nghèo ở phố huyện nhặt
rác lúc chợ tàn…, lễ phép với cụ Thi hơi điên ; thông cảm với nỗi vất vả của mẹ con chị
Tí phải kiếm sống mỗi ngày từ sáng sớm đến đêm khuya…
 Liên cảm nhận được cuộc sống vô vị, buồn tẻ, tăm tối của người dân nơi đây.Họ

mong manh …làm đọng lại trong lòng người đọc nhiều dư vi.
- Một trong những tác phẩm thể hiện sức hấp dẫn trong nghệ thuật viết văn ấy của
Thạch Lam là truyện ngắn “Hai đứa trẻ” . Ở đây, nhà văn đã thật thành công trong việc
ghi lại bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người với bao cảm xúc vui buồn của
con người vào lúc chiều tàn nơi phố huyện nghèo trước cách mạng tháng Tám.
II/ Thân bài: Gồm 5 luận điểm
1. Cảnh không gian, tạo vật : đẹp, nên thơ, bình dị, gần gũi, quen thuộc nhưng đượm
buồn.
- Được hiện lên với nhiều âm thanh, màu sắc, hình ảnh và đường nét ( Tiếng
trống thu không, tiếng ếch nhái kêu ran, tiếng muỗi vo ve; phương Tây đỏ rực, đám mây
ánh hồng , dãy tre làng đen lại…)
- Khung cảnh ấy được nhà văn thể hiện qua những câu văn êm dịu, uyển chuyển,
tinh tế.Mỗi câu như một nét vẽ đơn sơ , không cầu kỳ kiểu cách nhưng lại gợi được cái
hồn của cảnh vật , cái thần thái của thiên nhiên …Mỗi câu văn như mở ra một cảnh : cảnh
trước gọi cảnh sau rất độc đáo và ấn tượng…
 Một bức “họa đồng quê” quen thuộc, gần gũi , bình dị và gợi cảm , không kém
phần thơ mộng, mang cốt cách của hồn quê Việt Nam.Qua đó thể hiện được tình
cảm và gắn bó của nhà văn với một vùng quê nghèo.
2. Cảnh sống của người dân : tiêu điều, nghèo nàn, lam lũ, khổ cực,
- Cảnh chợ tàn : người về hết , tiếng ồn ào không còn, chỉ còn rác rưởi…
- Hình ảnh người dân xuất hiện với : mấy đứa trẻ con nhà nghèo đang tìm tòi, nhặt
nhạnh rác, mẹ con chị Tý nghèo khổ ngày mò cua bắt ốc, tối đến dọn hàng nước nhỏ trên
cái chõng tre ; bà cụ Thi , vợ chồng Bác Xẩm…
 Tất cả… đều thể hiện sự tàn lụi ( cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ); sự
nghèo đói, khó khăn, tiêu điều đến thảm hại của người dân nơi phố huyện.
3 Tâm trạng của nhân vật liên : buồn, xúc động , cảm thương…
+ Liên thấy “lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.
+ Liên còn cảm nhận được “mùi riêng của đất, của quê hương này”.
+ Liên thấy “động lòng thương” bọn tẻ con nhà nghèo đi nhặt rác…và xót thương cho
mẹ con chị Tí …

gắn với chủ đề tác phẩm.
- “Chí Phèo” ( do nhà văn đặt lần 2): khái quát súc tích và đầy đủ nhất tư tưởng nghệ
thuật của Nam Cao
b. Cốt truyện: ( tóm tắt theo cuộc đời nhân vật)
+ Trước khi vào tù: mồ côi, được nhặt về từ một lò gạch cũ - Sống và lớn lên như một
loài cây dại (qua tay người đàn bà góa và bác phó cối nghèo).20 tuổi, làm canh điền cho
lý Kiến, được bà Ba để ý > Lý Kiến ghen và đẩy Chí vào tù.
+ Từ khi ra tù đến trước khi gặp Thị Nở : Sau 8 năm ở tù , Chí trở về trong sự biến
dạng cả về nhân hình và nhân tính, bị Bá Kiến lợi dụng , Chí nhanh chóng trở thành
thằng lưu manh, trở thành quỷ dữ của làng Vũ Đại.
+ Từ sau khi gặp Thị Nở đến trước khi bị Thị Nở cự tuyệt : Gặp Thị Nở, được Thị
chăm sóc bằng bát cháo hành Chí dần thức tỉnh về nhận thức, về ý thức và khao khát
hòan lương.
+ Bị Thị Nở cự tuyệt : Chí đau đớn, tuyệt vọng.Trong phẫn uất , Chí nhận ra kẻ thù
của mình là Bá Kiến .Chí đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện, rồi đâm chết Bá kiến và tự
sát.
c.Chủ đề :
Tác phẩm miêu tả tình trạng xung đột giai cấp ở nông thôn Vịêt Nam trước
CMT8 và giải quyết mâu thuẫn ấy bằng những biện pháp quyết liệt. Đồng thời , tác
phẩm thể hiện tư tưởng nhân đạo mới mẻ của nhà văn :Phát hiện , miêu tả phẩm chất
tốt đẹp của người nông dân ngay cả khi họ bị xã hội TDPK thối nát biến thành quỷ dữ.
d. Gía trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
- Gía trị nội dung :
+ Gía trị hiện thực : Tác phẩm ghi lại bức tranh về XHTDPK tàn bạo, vô nhân tính .
Đồng thời cũng tái hiện lại chân thực bức tranh cuộc sống khốn cùng, bế tắc của người
dân lao động bị xã hội cũ đẩy vào con đường tha hóa.
+ Gía trị nhân đạo: Nhà văn miêu tả số phận bất hạnh và cảm thông sâu sắc với bi kịch
của người nông dân của .Đồng thời ông còn khẳng định sức sống bất diệt của thiên
lương.Lương thiện,khát khao hạnh phúc là bản tính tự nhiên, tốt đẹp và mạnh mẽ của con
người. Không thế lực bào tàn nào có thể hủy diệt .Từ đó , nhà văn kêu gọi mọi người hãy

- Tha hóa : sự biến đổi nhân cách theo chiều hướng xâu.
- Trong tác phẩm, tình trạng tha hóa của Chí Phèo được thể hiện ở 2 phương diện :
+ Không được sống như bản chất làm người của mình.: Chí Phèo vốn là một nông
dân lương thiện mà phải sống như quỷ dữ .
+ Những sản phẩm do mình tạo ra lại trở thành xa lạ, thậm chí lại thù địch với
chính mình : những người nông dân như Chí Phèo đã xây dựng nên làng Vũ Đại, nhưng
cái làng ấy lại không chấp nhận Chí Phèo quay về, thậm chí còn thù ghét, sợ hãi anh ( khi
Chí chết, cả làng thấy mừng rỡ).
3/ Bi kịch tinh thần của Chí:
- Bị tha hóa từ lâu , nhưng trước khi gặp Thị Nở Chí không hề thấy khổ, chưa nhận
thấy đời mình bi kịch.Mãi đến khi bị ốm, gặp Thị Nở , Chí mới tỉnh ra và thấy buồn và cô
độc Chí thèm lương thiện.Chí hy vọng tình thương của Thị Nở sẽ là nhịp cầu đưa Chí
về cuộc sống hòan lương.
- Bị Thị Nở cự tuyệt, Chí rơi vào tuyệt vọng.Anh thấm thía sâu sắc bi kịch tinh thần
của con người sinh ra làm người nhưng lại không được làm người.
- Sau khi đâm chết Bá Kiến, Chí Phèo tìm đến cái chết.Vì chỉ có cái chết mới giúp
anh thoát khỏi kiếp sống của một con vật lạ.Trước đây, để tồn tại, Chí phải bán bộ mặt
người, linh hồn người cho quỷ dữ.Gìơ, linh hồn đã trở về , Chí phải đổi bằng mạng sống
của mình.
 Như thế, rõ ràng với Chí Phèo, niềm khao khát được sống lương thiện cao hơn cả
tính mạng .* Đề 2 : Tóm tắt những đặc sắc về nghệ thuật trong truyện ngắn “Chí Phèo” của
Nam Cao
( 2 điểm)
Định hướng trả lời

1. Tác phẩm thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật ( tiêu biểu là Bá Kiến và
Chí Phèo : Đây là nhưng nhân vật điển hình sắc nét vừa có ý nghĩa tiêu biểu, vừa hết sức

1. Trước hết, Chí Phèo từ một người nông dân hiền lành , lương thiện trở thành
thằng lưu manh:
a. Trước khi bị bắt đi ở tù:
- Chí là một người nông dân nghèo khổ, lương thiện như nhiều nông dân
khác.Hắn nguyên là một đứa trẻ mồ côi, được người dân làng Vũ Đại đem về nuôi.Năm
20 tuổi ,Chí làm canh điền cho nhà Lý Kiến : Khỏe mạnh nhưng hắn “hiền lành như đất”,
thậm chí còn nhút nhát.Chính Bá Kiến ( khi đó còn là Lý Kiến) đã tận mắt chứng kiến
cảnh Chí “vừa bóp đùi cho bà Ba vừa run run ”
- Chí từng có một mơ ước giản dị và lương thiện như trăm ngàn người dân khác :
“một gia đình nho nhỏ.Chồng cuốc mướn, cày thuê.Vợ dệt vải .Chúng lại bỏ một con lợn
nuôi làm vốn liếng.Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”.
- Chí còn là người biết tự trọng.Vì tự trọng nên anh nông dân 20 tuổi ấy đã thấy
nhục khi bị bà Ba Bá Kiến sai làm những việc “không chính đáng”.Để rồi, chỉ vì một cơn
ghen của Bá Kiến mà Chí Phèo lập tức phải vào tù.
b.Sau khi ra tù :
- Chí trở về làng sau 7,8 năm ở nhà tù thực dân.Cái nhà tù tàn bạo ấy đã biến Chí từ
một anh canh điền hiền lành, lương thiện thành một thằng lưu manh, biến dạng cả về
nhân hình lẫn nhân tính :
+ Về nhân hình :Chí mang hình dáng của một thằng lưu manh với « cái đầu trọc
lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mặt gườm gườm trông
gớm chết…Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm
chùy ».
+ Về nhân tính : Chí không còn « hiền như đất » nữa, mà hắn trở nên« hung
hăng », « liều lĩnh ».Hành động và lời nói của hắn là của một một tên đầu bò chính cống
: « Hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế
chiều », « rồi say khướut, hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà Bá Kiến gọi tên tục ra
mà chửi ». Hắn vừa rạch mặt vừa ăn vạ…liều lĩnh, chửi bới.
 Cứ vậy,Chí chìm ngập trong những cơn say : ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say,
thức dậy vẫn còn say…Cuộc đời Chí là những cơn say dài vô tận…


- Đặc biệt, đến với truyện ngắn “Chí Phèo”, một trong những truyện ngắn viết về đề
tài người nông dân nghèo trước CMT8 của Nam Cao, chúng ta không thể không cảm
thông và xót xa, đau đớn trước bi kịch bị cự tuyệt của Chí Phèo được thể hiện ở đọan
cuối của truyện.Đồng thời qua đó chúng ta cảm nhận sâu sắc giá trị hiện thực và giá trị
nhân đạo của tác phẩm.
II/ Thân bài :
1. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo:
a.Ứớc mơ muốn làm người lương thiện :
- Cứ tưởng Chí Phèo mãi mãi sống kiếp thú vật , rồi sẽ kết thúc bằng cách vùi xác ở
một bờ bụi nào đó.May thay, tình cờ Chí đã gặp thị Nở và được thị thương yêu chăm
sóc.Người đàn bà xấu như ma chê quỷ hờn ấy với tình yêu thương mộc mạc , chân thành,
đã đánh thức phần nhân tính còn lại trong con người Chí, khiến Chí muốn trở lại làm
người lương thiện : “Trời ơi ! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người
biết bao!Thị Nở sẽ mở đường cho hắn.Thị có thể sống yên ổn với hắn sao người khác lại
không thể được”
- Mùi cháo hành đã đẩy lùi hơi ruợu trong Chí, và ngọn lửa lương tri tưởng đã tắt , giờ
lại bùng lên với một ước mơ được sống luơng thiện .
2.Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm ngườ i :
- Nhưng sự mong ước được sống lương thiện của Chí một lần nữa lại không trở thành
hiện thực .Thị Nở không thể giúp gì thêm cho hắn.Bởi lẽ :
+ Bà cô thị kiên quyết ngăn cản mối tình này. Bà không thể đồng ý cho cháu gái bà
“đâm đầu” đi lấy thằng Chí Phèo – con quỷ dữ của làng Vũ Đai- bấy lâu chỉ có mỗi một
nghề rạch mặt ăn vạ.
+ Nghe những lời bà cô mắng, thị Nở thấy “lộn ruột”, nhưng cũng phải nghe theo.Rồi
thị giận dữ nói lại tất cả những lời bà cô với Chí Phèo .Điều này khiến Chí “ ngẩn người”
và thất vọng, lúc này hắn vẫn chưa tuyệt vọng vì hắn vẫn lại như hít thấy hơi cháo hành .
+ Khi Thị ra về, Chí đuổi theo nắm lấy tay thị. Điều đó chứng tỏ Chí khao khát tình
yêu, thiết tha đến với thị Nở - đến với cuộc đời lương thiện - biết chừng nào.
- Khi thấy không cách gì níu giữ được thị Nở , Chí rơi vào tình thế tuyệt vọng. Lúc
này đây Chị thật sự thấm thía sâu sắc cái “bi kịch tinh thần của con người sinh ra làm

thiện và h. phúc
* Đề 5 : Phân tích quá trình hồi sinh của Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo của
Nam Cao

Định hướng làm bài
I/ Mở bài :
- Nam Cao ( 1917- 1951) , là nhà văn tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam ở cả hai giai
đọan trước và sau Cách mạng tháng Tám.Ông là một nhà văn có quan điểm nghệ thuật
tiến bộ,có tấm lòng đôn hậu,chan chứa tình thương, gắn bó sâu nặng với quê hương và
những người nông dân nghèo khổ.
- Đặc biệt, đến với truyện ngắn “Chí Phèo”, một trong những truyện ngắn viết về đề
tài người nông dân nghèo trước CMT8 của Nam Cao, chúng ta không thể không cảm
động trước quá trình hồi sinh trong cuộc đời của Chí Phàeo - một người đã tưởng đã là
quỷ dữ của làng Vũ Đại

II/ Thân bài :
Sau một thời gian dài hòan tòan bị tha hóa, Chí Phèo sống trềin miên trong những
cơn say, không ý thức được hành động và cuộc sống của chính mình.Cho đến khi Chí
Phèo gặp Thị Nở, Chí đã thật sự được hồi sinh.Có thể nói, đây là giai đọan quan trọng
nhất trong cuộc đời của Chí với những thời khắc bừng sáng ngắn ngủi và hạnh phúc,
để rồi sau đó tắt ngấm ngay.Chí lại rơi vào bế tắc và thảm kịch đã xảy ra : đâm chết Bá
Kiến rồi tự sát.Qúa trình hồi sinh ấy của Chí có thể tìm hiểu qua hai 2 giai đọan :

1 /Trước hết là trạng thái tâm lý của Chí đi từ tỉnh rượu đến tỉnh ngộ:
Sau một tối say rượu, Chí đã tình cờ gặp Thị Nở.Họ ăn nằm với nhau.Thế rồi nửa
đêm, Chí đau bụng, nôn mửa.
- Bắt đầu là tỉnh rượu : Sáng hôm sau, Chí tỉnh dậy khi “trời đã sáng lâu”.Kể từ khi
mãn hạn tù trở về, đây là lần đầu tiên “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” đã hết say, hòan
tòan tỉnh táo. Chí thấy lòng “bâng khuâng, mơ hồ buồn”.Lần đầu tiên, Chí nghe thấy bản
nhạc rộn ràng của cuộc sống lao động : đó là tiếng chim hót viu vẻ, tiếng anh thuyền chài

Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt ăn vạ và đâm chém người?”. Cái “bản tính ngày của hắn,
ngày thường bị lấp đi” đã trỗi dậy mạnh mẽ.Chí đã đã sống đúng với con người thật
của mình, trở lại nguyên hình của anh canh điền ngày xưa.
b.Tiếp đến, tâm trạng Chí đi từ xúc động đến ăn năn, hồi tỉnh:
-Chí mong muốn được trở lại làm người , làm một người dân hiền lành, lương thiện ở
làng Vũ Đại “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện , hắn muốn làm hòa với mọi người biết
bao! Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người
lương thiện”.
- Cùng với mong ước cháy bỏng được làm người lương thiện, Chí khao khát hạnh phúc
và một mái ấm gia đình.
+ “Gía cứ thế này mãi thì thích nhỉ?”- “cứ thế này” là thế nào? Đó là cứ được ăn
cháo hành, được sống bên cạnh thị Nở, được thị quan tâm, chăm sóc, yêu thương và được
làm nũng với thị…được như thế thì “thích nhỉ”- tức là sung sướng, hạnh phúc nào bằng.
+ “Hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” -tức là về sống chung một nhà,
hình thành một mái ấm gia đình vui vẻ, hạnh phúc.Câu nói này giống như một lời cầu
hôn của Chí với thị Nở - một lời cầu hôn “rất canh điền”, chất phác, giản dị.

III/ Kết bài:
Tóm lại, có thể nói đọan văn viết về quá trình hồi sinh của Chí Phèo trong tác phẩm là
một trong những đọan văn thể hiện sâu sắc ý nghĩa nhân văn….và giá trị nhân đạo của
tác phẩm: Nhà văn miêu tả số phận bất hạnh và cảm thông sâu sắc với bi kịch của người
nông dân của .
- Đồng thời ông còn khẳng định sức sống bất diệt của thiên lương.Lương thiện,khát
khao hạnh phúc là bản tính tự nhiên, tốt đẹp và mạnh mẽ của con người. Không thế lực
bào tàn nào có thể hủy diệt .
- Từ đó , nhà văn kêu gọi mọi người hãy luôn tin vào con người, tin vào bản chất tốt đẹp
của mổĩ người và cùng nhau xây đắp phần Người trong mỗi con người để cuộc sống ngày
càng tốt đẹp hơn.
Truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân :
I/ Kiến thức cơ bản cần nắm vững:

+ “Tài viết chữ rất nhanh rất đẹp”, được người khắp vùng tỉnh Sơn khen.
+ Lời ngợi ca và mong ước cháy bỏng của quản ngục “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm,
vuông lắm”; “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời”.
+ “Nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời
con người”
 Nét chữ, nết người , thể hiện phẩm chất , nhân cách cao đẹp của Huấn Cao.
- Là người có tâm hồn trong sáng cao đẹp :
+ “Không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối”.
+ Ông mới chỉ cho chữ “ba người bạn thân”.
+ Do cảm “ tấm lòng biệt nhỡn liên tài” và hiểu ra
 Là người trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữ những người tri kỷ.Đồng thời thể
hiện lẽ sống của Huấn Cao : Sống là phải xứng đáng với những tấm lòng.Phụ tấm
lòng cao đẹp của người khác là không thể tha thứ.
- Là một trang anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang, bất khuất :
+ Huấn Cao dám chống lại triều đình mà ông căm ghét.
+ Hành động “rỗ gông” của Huấn Cao và thái độ “không thèm chấp” lới dọa dẫm của
tên lính áp giải thể hiện sự tự do về tinh thần trong gông cùm.
+ “Thản nhiên nhận rượu” như “việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh”  phong
thái ung dung , coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
+ Dưới mắt Huấn Cao, việc những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị làm chỉ là
“những trò tiểu nhân thị oai”.Ông trả lời quản ngục một cách khinh bạc đến điều.
+ Thái độ “lễ phép” ,”xin lĩnh ý”và sự thừa nhận của ngục quan : Huấn Cao là
người “Chọc trời quấy nước”, “đến trên đầu…còn chẳng biết có ai nữa”.
* Tóm lại,
- Huấn Cao là người có tài , vừa có tâm; hiên ngang , bất khuất trước cái ác, cái
xấu nhưng mềm lòng trước cái thiện, cái đẹp.
- Qua nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân thể hiện quan niệm thẩm mĩ tiến bộ :Một nhân
cách đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài.Nhà văn yêu mến, ca
ngợi Huấn Cao và tiếc nuối những người như Huấn Cao ( mà Huấn Cao lại là người
kết tinh, lưu giữ vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc) , từ đó nhà văn kín đáo thể

- Cho lời khuyên:
+ Nội dung lời khuyên: Huấn Cao khuyên viên quản ngục từ bỏ chốn ngục tù nhơ bẩn,
tìm về chốn thanh tao để tiếp tục sở nguyện cao quý và giữ thiên lương cho lành vững.
+ Ý nghĩa. của lời khuyên: Là lới di huấn của Huấn Cao ( cũng là của nhà văn ) nhắn
tới quản ngục và tất cả mọi người : Muốn chơi chữ phải giữ lấy thiên lương ; trong môi
trường của cái ác, cái đẹp khó tồn tại vững bền; Chữ nghĩa, thiên lương không thể sống
chung với tội ác và nơi ngục tù đen tối. .
+ Tác dụng của lới khuyên : Hành động bái lĩnh của ngục quan … sức mạnh cảm
hóa con người.Bằng con đường của trái tim, sức mạnh ấy càng được nhân lên gấp bội.
* Đặc sắc về nghệ thuật của đọan văn:
+ Thủ pháp tương phản : đối lập giữa ánh sáng và bóng tối; giữa cái hỗn độn xô bồ
của nhà giam với cái thanh khiết, cao cả của nền lụa trắng, nét chữ đẹp và thoi mực thơm;
giữa kẻ tử tù đang ban phát cái đẹp, cái thiện với viên quan coi ngục “khúm núm”, “lĩnh
hội”  làm nổi bật tư thế của Huấn Cao với sự vươn lên, thắng thế của ánh sáng với
bóng tối, cái đẹp với cái xấu xa nhơ bẩn; cái thiện với cái ác.…
+ Nhịp điệu chậm rãi, câu văn giàu hình ảnh, sử dụng nhiều từ Hán Việt… gợi
lên không khí thiêng liêng, trang trọng của cảnh cho chữ
Tóm lại, đọan văn , Nguyễn Tuân thể hiện niềm tin vững chắc vào con người .Nhà
văn khẳng định: Thiên lương là bản tính tự nhiên của con người.Dù trong hòan cảnh
nào, con người vẫn luôn khao khát hướng tới CHÂN- THIỆN- MỸ Đây chính là
chiều sâu giá trị nhân văn của tác phẩm.
e/Gía trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm:
- Về nội dung:
+ Niềm tin và sự khảng định của nhà văn về sự chiến thắng của cái đẹp đối với cái
xấu, cái thệin với cái ác.
+ Tấm lòng yêu quý truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
+ „ Nhân chi sơ tính bản thiện“, hướng thiện, trong chân, tìm mỹ là bản tính tự nhiên
của con người.
- Nghệ thuật :
+ Tình huống truyện độc đáo.

ấy. ( kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại khát khao ánh sáng của chữ nghĩa với
Huấn Cao người từ tù có tài viết chữ đẹp nổi tiếng) .Lẽ ra đây phải là cuộc hội ngộ tương
đắc của những người “biệt nhỡn liên tài”, của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp.
- Tình huống này dẫn đến xung đột trong việc lựa chọn của viên quan ngục : Hoặc
làm tròn phận sự thì phải chà đạp lên tấm lòng tri kỷ với cái tài viết chữ đẹp của Huấn
Cao.Hoặc muốn trọn lòng tri kỷ thì phải vượt qua phép tắc của triều đình. Như vậy, nếu
theo cách thứ nhất, thì chiến thắng thuộc về tầm thường; còn theo cách thứ 2, chiến thắng
thuộc về cái „đẹp“.Và rồi, ngục quan đã chọn cách ứng xử thứ 2, chứng tỏ ông là một
người dám sống với lòng biệt nhỡn liên tài.
- Nhưng oái oăm thay, trong mắt Huấn Cao, quản ngục chỉ là một kẻ tiểu nhân đáng
khinh. Cho đến khi nhận được phiến trát thứ hai đòi giải tử tội về kinh, ông Huấn mới có
dịp nhận ra viên quản ngục là một con người cao đẹp  sự xung đột được mở ra.

2. Kết thúc truyện là cảnh cho chữ và cho lời khuyên giữa lòng ngục tối .Đây là một
cảnh tượng xưa nay chưa từng có, vì :
-Việc cho chữ xưa nay vốn chỉ diễn ra ở nơi thư phòng hoặc những nơi tao nhã.Ở đây
lại diễn ra giữa buồng giam tử tội, nơi ngự trị của các ác.Chính nơi đây, những chữ đẹp
– cái đẹp được sản sinh.
- Vị thế của các nhân vật đều đảo lộn : kẻ có quyền hành thì khúm núm trước người tù
vốn bị tước bỏ mọi thứ quyền.Kẻ có nhiệm vụ cải huấntội phạm thì giờ đây lại thành kính
nhận từng lời dạy bảo về nhân cách , về lẽ sống của người tù - bậc thầy đáng tôn sùng >
Tất cả bị đảo lộn vì cái đẹp của nhân cách và của tài hoa. * Đề 2: Phân tích vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao
trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.


+ “Không vì vàng ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối”.
+ Ông mới chỉ cho chữ “ba người bạn thân”.
+ Do cảm “ tấm lòng biệt nhỡn liên tài” và hiểu ra tấm lòng tri âm của quản ngục,
nên ông đã cho quản ngục chữ trước khi về kinh chịu án chém.
 Là người trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữ những người tri kỷ.Đồng thời thể
hiện lẽ sống của Huấn Cao : Sống là phải xứng đáng với những tấm lòng.Phụ tấm
lòng cao đẹp của người khác là không thể tha thứ.
3/ Là một trang anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang, bất khuất :
+ Huấn Cao dám chống lại triều đình mà ông căm ghét.
+ Hành động “rỗ gông” của Huấn Cao và thái độ “không thèm chấp” lới dọa dẫm của
tên lính áp giải thể hiện sự tự do về tinh thần trong gông cùm.
+ “Thản nhiên nhận rượu” như “việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh”  phong
thái ung dung , coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.
+ Dưới mắt Huấn Cao, việc những kẻ đại diện cho quyền lực thống trị làm chỉ là
“những trò tiểu nhân thị oai”.Ông trả lời quản ngục một cách khinh bạc đến điều.
+ Thái độ “lễ phép” ,”xin lĩnh ý”và sự thừa nhận của ngục quan : Huấn Cao là
người “Chọc trời quấy nước”, “đến trên đầu…còn chẳng biết có ai nữa”.
III/ Kết bài :
- Huấn Cao là người có tài , vừa có tâm; hiên ngang , bất khuất trước cái ác, cái
xấu nhưng mềm lòng trước cái thiện, cái đẹp.
- Qua nhân vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân thể hiện quan niệm thẩm mĩ tiến bộ :Một nhân
cách đẹp bao giờ cũng là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài.Nhà văn yêu mến, ca
ngợi Huấn Cao và tiếc nuối những người như Huấn Cao
( mà Huấn Cao lại là người kết tinh, lưu giữ vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc) ,
từ đó nhà văn kín đáo thể hiện tình cảm yêu mến, trên trọng đối với những giá trị văn hóa
truyền thống  tinh thần dân tộc và lòng yêu nước kín đáo của nhà văn.Đề 3:
Phân tích ý nghĩa tác dụng lời khuyên của ông Huân Cao “Tôi bảo thực đấy,

lương trong sáng, về giá trị của cái đẹp nên đã tiếp nhận lời khuyên của Huấn Cao một
cách thành tâm, đầy xúc động): “Ngục quản cảm động, vái người tử tù một vái, chắp
tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghen ngào : Kẻ mê muội
này xin bãi lĩnh”.  Bằng con đường của trái tim, sức mạnh ấy càng được nhân lên
gấp bội.
- Khẳng định thiên lương trong sáng của nhân vật Huấn Cao.
III. Kết bài:
- Có thể nói, Nguyễn Tuân đã chọn một cách kết thúc tác phẩm thật sâu sắc và ý nghĩa
bằng lời khuyên của người tử tù với viên cai ngục.
- Lời khuyên ấy đầy tình người và đã trở thành sức mạnh cảm hóa một tâm hồn bấy lâu
vẫn cam chịu nô lệ , giúp cho một con người lầm đường sẽ trở về với cuộc sống lương
thiện.
- Câu nói nghẹn ngào trong nước mắt của viên quan ngục đẽ nêu bật sự chiến thắng của
cái đẹp , cái thiện, của thiên lương con người.
*Đề 4 : Phân tích nhân vật viên quan ngục
trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

I/ Mở bài:
- Nguyễn Tuân là một nhà văn tài hoa- khí phách. Ngay từ Cách mạng tháng Tám, ngòi
bút ấy đã biết hướng thiện, hướng mĩ để tìm ra và lưu giữ lại cho đời những về đẹp của
một thời vang bóng.
- Trong truyện ngắn Chữ tử tù là của Nguyễn Tuân ( in trong tập truyện Vang bóng
một thời (xuất bản năm 1940) ) , bên cạnh hình tượng nhân vật Huấn Cao ( một người có
vẻ đẹp tài hoa, khí phách, có thiên lương), thì hình ảnh của viên quan ngục cũng để lại
rất nhiều tình cảm cho người đọc về một con người biết say mê cái đẹp và quý trong cái
đẹp, có tầm lòng “biết giá người , biết trọng người ngay”.

* Đề 5 :
Cảnh Huấn Cao cho chữ viên quan ngục ở cuối tác phẩm Chữ người tử tù của
Nguyễn Tuân là sự chiến thắng của ánh sáng với bóng tối, của cái đẹp, cái cao thượng
đối với sự phàm tục nhơ bẩn; của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ.
Hãy phân tích cảnh Huấn Cao cho chữ để làm sáng tỏ điều đó !
I/ Mở bài:
- Có thể nói chủ đề của truyện ngắn Chữ người tử tù và vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao
đã được bộc lộ sáng ngời trong cảnh Huấn Cao cho chữ viên quan ngục .
- Đây không đơn thuần là cảnh cho chữ , mà “đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối
với bóng tối, của cái đẹp , cái cao thượng đối với sự phàm tục nhơ bẩn, của tinh thần bất
khuất trước thái độ cam chịu nô lệ”
II/Thân bài:
1/ Sự chiến thắng của ánh sáng với bóng tối:
- Mở đầu cảnh cho chữ , Nguyễn Tuân đã viết đây là “một cảnh tượng xưa nay chưa
từng có”.Vì : Bình thường sẽ không có cảnh cho chữ đẹp và trang nghiêm trong chốn tù
ngục tăm tối và dơ bẩn.Nhưng ở đây lại có, vì sự chiến thắng của “thiên lương”con
người .Với nghệ thuật đặc tả tài tình, với thủ pháp đối lập sắc sảo, nhà văn đã dựng lên
những cảnh tượng đối lập để nêu bật ý nghĩa sâu xa và thâm thúy của sự chiến thắng đó.
- Cảnh cho chữ diễn ra vào lúc đêm khuya trong nhà ngục.Nhà ngục đã tối tăm, lại vào
lúc đêm khuya khoăt, càng dày đặc bóng tối.“Trong một không khí khói tỏa như đám
cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc ”  ánh sáng của bó đuốc đã như xua
tan,đẩy lùi cái bóng tối dày đặc trong phòng giam.Miêu tả ánh sáng của bó đuốc chính
là dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Tuân, bởi lẽ :
+ Ở đây, không chỉ là sự đối lập của ánh sáng và bóng tối theo ý nghĩa sắc màu vật
lý, mà sâu xa hơn , khái quát hơn, đây chính là sự đối lập mang ý nghĩa nhân sinh của

ĐỌAN TRÍCH “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA”
( Trích tiểu thuyết “Số Đỏ” của Vũ Trong Phụng)I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG:

1/ Vài nét về nhà văn Vũ Trong Phụng (1912-1939) :
- Vũ Trong Phụng quê ở Hà Nội, là một trong những nhà văn hiện thực phê phán xuất
sắc của văn học Việt Nam trước CMT8. Ông xuất thân trong một gia đình “nghèo gia
truyền” ( cách nói của nhà văn Ngô Tất Tố). Cuộc sống của ông chật vật, bấp bênh bằng
nghề viết văn , làm báo .
- Sống ở đất Hà Thành, Vũ Trong Phụng tận mắt chứng kiến sinh họat của những tầng
lớp thượng lưu chạy theo văn minh âu hóa  ông tỏ thái độ căm ghét và bất mãn với xã
hội đương thời.
- Vũ Trong Phụng là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào.Tác phẩm của ông đa dạng về
thể loại , đặc biệt ông thành công ở thể loại phóng sự  được mệnh danh là “Vua phóng
sự đất Bắc”.
2/ Tiểu thuyết “Số đỏ”:
a/Hòan cảnh sáng tác : Tác phẩm được ra đời vào năm 1936, năm đầu của Mặt trận
dân chủ Đông Dương, không khí đấu tranh dân chủ sôi nổi.Chế độ kiểm duyệt sách báo
khắt khe của chính quyền thực dân tạm thời được bãi bỏ.Bối cảnh ấy đã tạo điều kiện cho
các nhà văn công khai, mạnh mẽ vạch trần thực chất thối nát , giả dối, bịp bợm của các
phong trào Âu hóa, Thể thao, Vui vẻ trẻ trung…được bọn thống trị khuyến khích và lợi
dụng đã từng lên cơn sốt vào những năm 30 của thế kỷ XX.
b.Cốt truyện :
Xuân là một đứa trẻ mồ côi lang thang kiếm sống bằng nhiều nghề :trèo me, hái sấu,
nhặt banh , quảng cáo, bán thuốc lậu. Nhờ số đỏ, tình cờ Xuân lọt vào mắt xanh của bà
Phó Đoan- một mụ me Tây dâm đãng.Từ đó Xuân từng bước nhập cuộc vào thế giới
thượng lưu của cái gia đình đại tư sản thối nát của cụ cố Hồng với một đám con cháu như
:Vợ chồng ông Văn Minh, Vợ chồng cô Hòang Hôn, Cô Tuyết, cậu Tú Tân …và các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status