1
LỜI NĨI ĐẦU
Trong tiến trình tồn cầu hố đang diễn ra mạnh mẽ, với những xu thế
vận động và bối cảnh khách quan của nền kinh tế thế giới và khu vực, với
những tác động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… để tránh khỏi bị tụt
hậu Việt Nam đang đứng trước thời cơ mới và thách thức mới. Đối với Việt
Nam, trong điều kiện chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hố tập
trung sang kinh tế thị trường lại có điểm xuất phát thấp, tốc độ tăng trưởng
kinh tế chưa cao, để đưa đất nước phát triển nhanh Đảng ta đã khẳng định ”
Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngồi” Q trình
tham gia vào hội nhập kinh tế thế giới và khu vực là tất yếu.
Nhật Bản là một trong những nước có tầm ảnh hưởng rất lớn trong nền
kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhật Bản là một cường
quốc kinh tế đã trải qua nhiều năm phát triển thần kỳ vào trước thập niên 90
của thế kỷ XX khiến cho cả thế giới khâm phục. Nhiều nước trong khu vực
Châu Á đã phấn đấu noi theo mơ hình phát triển của Nhật Bản, trong đó một
số nước và lãnh thổ Đơng Á đã nhanh chóng trở thành con rồng, con hổ kinh
tế, giải quyết thành cơng nhiều vấn đề đời sống kinh tế – xã hội, chỉ trong
vòng 2 – 3 thập niên. Vì vậy, việc xem xét, nghiên cứu, tìm hiểu học hỏi
những chính sách, biện pháp, giải pháp, chiến lược mà chính phủ Nhật Bản đã
sử dụng để đưa nền kinh tế phát triển mạnh mẽ như vậy đối với Việt Nam là
rất cần thiết nhằm tạo ra sự tăng trưởng cao và bền vững cho việc phát triển
kinh tế - xã hội.
Sau q trình thực tập tại Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản em đã hồn
thành chun đề thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Cải cách kinh tế của Nhật
Bản và mối quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản”.
Vì thời gian ngắn và kiến thức bản thân còn hạn chế nên nội dung
chun đề thực tập này khơng tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các
thầy cơ chỉ bảo, góp ý để chun đề thực tập của em được hồn chỉnh hơn.
tế Nhật Bản - Việt Nam trong tương lai.
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
3
CHƯƠNG I
QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN
I. XU HƯỚNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu
hướng quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc tế. Các nước đang phát triển
(trong đó có Việt Nam) cùng với việc tranh thủ thu hút các nguồn vốn để phát
triển cũng khuyến khích, đẩy mạnh việc quan hệ hợp tác với các nước phát
triển trên thế giới nhằm học hỏi kinh nghiệm cũng như mở rộng thị trường,
tận dụng các nguồn tài nguyên, lao động, tăng nguồn thu lợi nhuận cũng như
tăng cường ảnh hưởng với các nước khác và. Chính vì những lẽ đó mà đã có
rất nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học
đã đưa ra, tổng kết những kinh nghiệm, những vấn đề lý luận, thực tiễn và dự
báo về xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới trong đó có Nhật Bản và
Việt Nam.
II. NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN TỪ CUỐI NHỮNG NĂM 1980
ĐẾN NAY
Nhật Bản, một nước nghèo tài nguyên, không thể đánh mất bất kỳ một
cơ hội thương mại quốc tế nào nếu đó là cơ hội để phát triển kinh tế và duy trì
một mức sống cao. Các chính sách liên quan tới thương mại và đầu tư do vậy
đã chiếm một vị trí nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế. Sau thời kỳ tăng
trưởng kinh tế cao, ở Nhật Bản đã nảy sinh hàng loạt vấn đề đòi hỏi nhà nước
phải điều chỉnh chính sách và tiến hành cải cách trên nhiều lĩnh vực: kinh tế,
xã hội, chính trị, văn hóa…
Phạm vi của đề tài được xác định là những cải cách được tiến hành ở
Nhật Bản trong những năm 1990 đã suy giảm liên tục với động thái tăng
trưởng rất chậm chạp và thất thường. Cụ thể như sau:
Từ 1990 đến 1996: với động thái tăng trưởng kinh tế: 0,5%; 0,6%;
2,8%; và 3,2%.
Từ 1997 đến 1999: tiến dần đến tình trạng trầm trọng của khủng hoảng.
Khủng hoảng kinh tế Nhật Bản được gắn liền với ảnh hưởng tiêu cực của
khủng hoảng tài chính – tiền tệ Đơng á (1997 – 1998). Lần đầu tiên kể từ sau
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
Chiến tranh Thế giới thứ hai, kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm liên tục trong
2 năm liền(1997: - 0,7% và 1998: -1,1%).Năm 1999: kinh tế Nhật Bản phục
hồi trở lại nhưng tăng trưởng còn mong manh: 0,7%.
Năm 2000: kinh tế Nhật Bản tăng trưởng khả quan: 2,4%.
Năm 2001: suy giảm kinh tế trở lại với chỉ số tăng trưởng: -0,4%.
Năm 2002 đến nay: đang phục hồi yếu 1,6%.
Về đại thể, các chỉ số tăng trưởng GDP hàng năm trên đây đã phản ánh
khái qt nhất về mặt định lượng của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản kéo
dài suốt thập niên 1990 đến nay. Nếu so với cuộc khuủng hoảng kinh tế 1973
– 1975 của thế giới Tư Bản Chủ Nghĩa, trong đó có Nhật Bản thì mức độ
khủng hoảng lần này còn tồi tệ hơn nhiều (cuộc khủng hoảng 1973 – 1975,
năm 1973: tăng trưởng GDP của Nhật Bản là 8%, đến năm 1974 tuy có bị
giảm đột ngột đến mức – 1,2%, song đến năm 1975, lại khơi phục trở lại ngay
với tăng trưởng 3%, tiếp đó năm 1976 là 4%, từ đó bình qn hàng năm cho
đến cuối thập niên 1980 đều đạt tăng trưởng khoảng 5%).
Đó là biểu hiện tổng qt nhất của khủng hoảng kinh tế Nhật Bản qua
động thái suy giảm của tăng trưởng GDP hàng năm.
III. CẢI CÁCH TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ CỦA NHẬT BẢN
Các chính sách và biện pháp cải cách kinh tế ở Nhật Bản kể từ đầu thập
kỷ 1990 đến nay có thể được chia thành hai cum chính sách và biện pháp chủ
ny c hy vng l s thỳc y tiờu dựng cỏ nhõn v kớch thớch tinh thn lm
vic chung. Vic gim thu khuyn khớch xõy dng nh cng ó c
tin hnh mt cỏch rng rói. Hn na, Chớnh ph Nht Bn ó quyt nh
gim t l thu kinh doanh kt hp c quc gia v a phng t mc 46,36%
xung 40,87% tng ng vi 2,4 t t Yờn (0,4% GDP). Thụng qua cỏc
cuc ci cỏch v gim thu ny, Chớnh ph hy vng gim gỏnh nng thu
xung bng mc trung bỡnh ca cỏc nc ó cụng nghip hoỏ.
Cựng vi quỏ trỡnh ny, vic lp quyt nh v ngõn sỏch quc gia v
ci cỏch thu ó a vn c cu vo bn ngh s. Chớnh ph ó tng ngõn
sỏch v nghiờn cu c bn v phỏt trin 8,1%, cỏc thit b thụng tin nh mỏy
vi tớnh, mỏy photcoppy k thut s, v mỏy in tho k thut s s c
thanh lý ngay nu chỳng ớt hn 1 triu Yờn. khuyn khớch s dng cỏc loi
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
7
ơ tơ có hiệu quả và ít gây ơ nhiễm mơi trường, thuế xe khách và các loại xe tải
tương tự sẽ được giảm đi.
Nhằm khuyến khích việc quốc tế hố đồng n, Chính phủ đã ban
hành hệ thống bỏ thầu mở đối với các trái phiếu ngắn hạn, đây là matt hình
thức miễn thuế thu nhập đặc biệt đối với các trái phiếu Chính phủ cho những
người khơng phải cư dân Nhật Bản. Chính phủ cũng đã quyết định huỷ bỏ
thuế giao dịch chứng khốn và ban hành một hệ thống thuế đã được củng cố
trong năm 2001.
- Giảm lãi suất chiết khấu chính thức: Trước tình trạng sản xuất đình
trệ, nhu cầu đầu tư trong nước giảm sút, Chính phủ Nhật Bản đã liên tục giảm
lãi suất cho vay chính thức của ngân hàng nhằm kích thích đầu tư. Đây cũng
là một trong những hướng cơ bản của chính sách kích cầu trong nước. Trong
suốt những năm 1990, lãi suất chính thức đã ln được giảm đi trước tình
trạng kinh tế suy thối. Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã duy trì một tỷ lệ
lãi suất thấp tới mức chưa từng có trong lịch sử Nhật Bản (0,5%) trong suốt
nghip Mt khỏc, Chớnh ph ó thc thi cỏc gii phỏp khuyn khớch u
t vo cỏc nghnh cụng ngh mi nh u ói v thu khuyn khớch cỏc
hot ng u t nghiờn cu trin khai (R&D), thc hin tr cp cho cỏc
chng trỡnh v d ỏn quan trng cú qui mụ ln, v cỏc d ỏn trong cỏc lnh
vc mi cú nhiu ri ro. Chớnh ph cng thc hin h tr cho cụng tỏc nghiờn
cu ti cỏc trng, cỏc vin v kờu gi vn ca khu vc t nhõn tp trung vo
nghiờn cu c bn, sỏng ch quy trỡnh cụng ngh mi.
Th hai, cựng vi cỏc bin phỏp kớch cu ca Chớnh ph, cỏc cụng ty
Nht Bn ó thc hin hng lot cỏc gii phỏp nh:
+ Ct gim chi phớ sn xut, trc ht l chi phớ lao ng. Trong sut
nhng nm 1990, cỏc cụng ty Nht Bn ó ht sc hn ch vic tuyn thờm
cụng nhõn mi, gim cụng nhõn hp ng, khuyn khớch nhng ngi cao
tui v hu sm, v ộp cỏc xớ nghip va v nh lm thu khoỏn phi gim ti
a cỏc chi phớ sn xut ph tựng. Kt qu l tht nghip gia tng v cỏc cụng
nhõn thng xuyờn cũn c tuyn m phi lm thờm gi song tin lng li
khụng c tng mt cach tng ng. Chớnh vỡ th trong sut nhng nm
1990, nhng c hi tỡm kim cụng n vic lm ti cỏc cụng s nh nc ln
khu vc t nhõn cho nhng ngi dõn Nht Bn tui lao ng, c bit
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
9
là những sinh viên mới và đang chuẩn bị tốt nghiệp ra trường, đã trở nên rất
khó khăn. Đối với những ai lần đầu tiên đi tìm kiếm cơng ăn việc làm thì quả
thật là cơ hội rất mỏng manh. Bởi vì phần đơng các cơng ty Nhật Bản trong
những năm này ln ở trong tình trạng suy thối, họ phải co nhỏ lại quy mơ
họat động kinh doanh để tránh tổn thất và sa thải cơng nhân. Một số nhỏ các
cơng nhân được thun chuyển tới các xí nghiệp vừa và nhỏ với những cơng
việc mang tính chất tạm thời.
+ Tiến hành thu hẹp và giảm đầu tư vào nhiều khâu sản xuất cần nhiều
lao động, khơng còn cạnh tranh được với hàng nhập khẩu, đồng thời chuyển
vn tip tc tng nhanh, chng t Chõu ngy cng tr thnh mt th trng
xut khu quan trng ca Nht Bn. Vớ d, xut khu ca Nht Bn sang
Chõu trong 6 thỏng u nm 1995 ó lờn ti 99,8 t ụla, cao hn c xut
khu ca Nht Bn sang M v EU cng li (97,3 t ụla). (Trnh Ngc -
Kinh t Nht Bn phc hi trong s trỡ tr. Nghiờn cu Nht Bn, s 1(5),
3/1996).
+ Tng cng liờn doanh, liờn kt vi nc ngoi trong vic nghiờn
cu v phỏt trin cỏc sn phm mi. ng thi tn hnh o to li lao ng,
hp nht cỏc c s sn xut khụng cú hiu qu, hoc bỏn li cho cỏc nh u
t nc ngoi
Th ba, trong lnh vc ti chớnh, Bing Bang c coi l mt trong
nhng cuc ci cỏch cú v trớ quan trng hng u. õy l mt cuc ci cỏch
ton din, sõu sc, v trit vi mc tiờu c bn l: lm cho thi trng ti
chớnh Nht Bn nng ng hn, linh hot hn, t do hn, minh bch, chun
mc hn v cú th sỏnh vai vi nhng trung tõm ti chớnh ln nh New York
v Luõn ụn. Nhng ni dung ch yu ca cuc ci cỏch ny l:
+ M rng s la chn cho cỏc nh u t v nhng ngi i vay.
+ Ci tin cht lng phc v ca cỏc trung gian ti chớnh v thỳc y
s cnh tranh gia cỏc ngõn hng.
+ Phỏt trin mt th trng em li nhiu li ớch hn.
+ Thit lp nhng khung kh phỏp lý v nhng quy nh ỏng tin cy
cho s giao dch bỡnh ng, minh bch.
Trờn c s nhng hng ci cỏch c bn núi trờn, Chớnh ph Nht Bn
ó ban hnh v thc hin hng lot cỏc chớnh sỏch v bin phỏp ci cỏch c
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
11
thể đối với từng lĩnh vực của hệ thống tài chính. Trong đó, đặc biệt là các
chính sách cơ cấu lại Bộ Tài Chính, chính sách tăng cường vai trò của Ngân
hàng trung ương Nhật Bản, chính sách cơ cấu lại các ngân hàng thương mại,
2/97
4/98
10/98
12/98
12/98
9/98
12/98
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
12/98
10/99
10/99
10/99
3. S dng th trng thõn thin,
nhiu hn
Ci tin mua bỏn ngoi t v xoỏ
b mc n dnh cho cỏc loi chng
khoỏn cú trong danh sỏch
Tng cng chc nng ca th
trng ng ký qua mỏy
Xoỏ b thu giao dch chng khoỏn
v thu th trng hi oỏi
Xoỏ b mt phn thu ca nhng
ngi cú JGBs 12/98
12/98
ỏnh gia k toỏn th trng bng
im
12/98
3/01 THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
14
CHƯƠNG II
MỘT SỐ THÀNH CƠNG BƯỚC ĐẦU CỦA CẢI CÁCH KINH TẾ
Ở NHẬT BẢN
Có thể thấy tư sau cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực Đơng á
Nhật Bản đã có những cố gắng xúc tiến mạnh hơn chương trình cải cách nền
kinh tế của mình. Trên thực tế cuộc khủng hoảng đã làm bộc lộ rõ những
điểm hạn chế trong bản thân nền kinh tế Nhật Bản, nhất là trong hệ thống Tài
chính Ngân hàng buộc Nhật Bản phải có sự cải cách tồn diện. Nhìn lại các
cuộc cải cách trong những năm gần đây ta thấy Nhật Bản khơng chỉ chú trọng
vào phương diện tạo cầu, kích cầu mà còn chú ý cả khía cạnh cung của nền
kinh tế nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sởphát triển mạnh các
ngành kinh tế kỹ thuật cao.
Trên phương diện cầu, Chính phủ Nhật Bản đã có nhiều chương trình
kích thích kinh tế hàng năm nhằm mở rộng đầu tư. Bên cạnh đó là những cố
gắng tập trung giải quyết các khoản nợ khó đòi, nhằm tạo sự lành mạnh trong
hệ thống ngân hàng, kích thích các hoạt động đầu tư tư nhân. Trong các
chương trình cải cách của Thủ tướng Nhật Bản trước ơng Koizumi lại chú
trọng kích thích đầu tư tư nhân, hạn chế, giảm tài trợ đầu tư cơng cộng nhằm
tiến tới cân bằng ngân sách. Chẳng hạn theo dự tốn ngân sách năm tài chính
này cũng đã dẫn tới sự cơ cấu lại các cơng ty và sự phát triển mạnh của các
thị trường vốn độc lập. Hơn 10 năm trước dây, người Nhật Bản khơng thể
nghĩ rằng sự xuất hiện của thị trường vốn sẽ là một lực lượng quan trọng thúc
đẩy sự cơ cấu lại nền kinh tế Nhật Bản và làm thay đổi phong cách quản lý
truyền thống trong các cơng ty của Nhật Bản. Sự ra đời của một ban giám đốc
độc lập và quyền lợi của các cổ đơng là những vấn đề đáng chu ý hiện nay ở
các cơng ty Nhật Bản. Chế độ làm việc suốt đời và trả lương theo thâm niên
cũng đã trở nên khơng còn thích hợp nữa. Nếu như trong những năm 1980,
người ta khơng thể tuyển mộ sinh viên giỏi từ một trường đại học có tiếng ở
Nhật Bản vào làm việc cho một cơng ty mà khơng phải là lớn hoặc khơng
phải Bộ tài chính; và người Nhật Bản cũng khơng thích thú vào làm việc
trong các cơng ty nước ngồi, thì trong những năm gần đây, tình hình đã hồn
tồn khác. Những sự thay đổi này, một phần chính là kết quả của những cuộc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
16
cải cách kinh tế trong những năm 1990, đặc biệt là cuộc cải cách hệ thống tài
chính trong những năm gần đây của Nhật Bản.
1. Những tiến bộ trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Kể từ khi nền kinh tế “bong bóng” bị sụp đổ, Chính phủ Nhật Bản đã
ban hành khá nhiều giải pháp kích thích cả gói với quy mơ lớn cùng với các
luật cải cách tài chính và tỷ lệ lãi suất thấp nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
Những giải pháp này đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của khu
vực kinh tế tư nhân. Các nhà lãnh đạo kinh doanh của khu vực tư nhân đã
phần nào lấy lại được lòng tin trong việc đưa khu vực tư nhân thành khu vực
đi đầu trong việc đem lại sự phục hồi kinh tế cho Nhật Bản. Dưới tác động
của các chính sách cải cách, các tập đồn cơng ty của Nhật Bản đã và đang
tiến hành việc cơ cấu lại theo hướng phù hợp với xu thế tồn cầu hố kinh tế.
Có 4 tín hiệu chứng tỏ các tập đồn cơng ty Nhật Bản đang tự chuyển đổi
theo hướng một cơ cấu có khả năng cạnh tranh mạnh hơn.
tiền đầu tư, đã đưa vào Nhật Bản các quan điểm của các nhà đầu tư và các
kiểu quản lý cơng ty khơng chỉ mới mà còn có thể áp dụng đối với các xí
nghiệp Nhật Bản truyền thống. Nếu như trước đây người Nhật Bản đã khơng
thích thú làm việc trong các cơng ty nước ngồi ở Nhật Bản thì trong những
năm gần đây tình trạng này đã được cải thiện rất nhiều. Ví dụ, nhiều người
Nhật Bản đã hoan nghênh sự sát nhập của Nissan và Renault nhằm cứu vãn sự
sống còn của Nissan, trong khi thừa nhận rằng sự sống còn khơng thể có được
nếu khơng chấp nhận sự cơ cấu lại tập đồn một cách đau đớn như sa thải
cơng nhân,…
Tất cả những nhân tố kể trên đã góp phần tạo ra một sự chuyển dịch
đáng kể trong nội bộ các ngành kinh tế của Nhật Bản. Nhiều ngành cơng
nghiệp mới đã ra đời và phát triển như: Thơng tin liên lạc, viễn thơng, điện tử
và điện dân dụng…, nhiều ngành cơng nghiệp truyền thống đã được điều
chỉnh theo hướn thu hẹp sản xuất, hoặc liên doanh liên kết, hoặc tăng cường
năng lực sản xuất nhằ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh như: ơtơ, sắt
thép, xây dựng…(Điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh tồn
cầu hố, Chủ biên Vũ Văn Hà, Nxb. KHXH, Hà Nội, 2002).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
18
Có thể nói rằng, kể từ đầu thập kỷ 90 đến nay Nhật Bản đã và đang ở
trong một q trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế sâu sắc. Nền kinh tế Nhật Bản
đang chuyển dịch theo hướng giảm sự can thiệp của Chính phủ và tăng cường
sự cạnh tranh của một nền kinh tế mở theo cơ chế thị trường, và theo hướng
một nền kinh tế mà sự tiến bộ của ký thuật thơng tin đang được lan rộng một
cách nhanh chóng đem lại những khả năng cạnh tranh mới cho các cơng ty
trên thị trường. Trước và ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nơng nghiệp
và dệt là những ngành đặc trưng của cơ cấu kinh tế Nhật Bản kiểu cũ. Trong
những thập kỷ gần đây, cơ cấu kinh tế Nhật Bản lại được đặc trưng bởi các
chính Nhật Bản đã trở nên có sức cạnh tranh hơn, sự thâm nhập của nước
ngồi vào khu vực này cũng trở nênít khó khăn hơn, các thị trường vốn độc
lập cũng đã được phát triển thêm một bước. Các cơ quan tài chính Nhật Bản
đã hồn tồn được tự do trong các hoạt động của mình và các phương tiện
quản lý tài sản đã được cải thiện một cách có ý nghĩa, sự thâm nhập lẫn nhau
về cơng việc kinh doanh của các ngân hàng, các cơng ty chứng khốn và cơng
ty bảo hiểm, cùng với xu hướng hợp nhất các loại cơ quan này đã được đẩy
mạnh, các thị trường vốn đã được phát triển thêm một bước, đặc biệt là mạng
lưới thị trường thơng qua hệ thơng trao đổi thương mại điện tử và qua
Internet; Sự liên doanh, liên kết với nước ngồi và sự thâm nhập của các cơng
ty ài chính nước ngồi vào Nhật Bản đã được đẩy mạnh dưới các hình thức
như: FDI, mua cổ phần, tham gia trực tiếp vào cơng việc quản lý của các cơng
ty Nhật Bản và các thị trường chứng khốn ở Nhật Bản; Và chất lượng quản
lý tín dụng của các cơ quan trong hệ thống tài chính Nhật Bản đã được cải
thiện rất đáng kể (Hệ thống tài chính Nhật Bản: Những đăc trưng cơ bản và
cuộc cải cách hiện nay; chủ biên Trần Quang Minh, Nxb KHXH, Hà Nội,
2003).
II. NHỮNG CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP CẢI CÁCH TRONG
TỪNG LĨNH VỰC CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH
Mặc dù đã từng có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế
của Nhật Bản, đặc biệt là trong thời kỳ tăng trưởng ngoạn mục (1955 – 1973),
hệ thống tài chính Nhật Bản mà trong đó các ngân hàng đóng vai trò trung
tâm, kể từ cuối thập kỷ 80 đến nay đã bộc lộ rất nhiều những yếu kém và bất
cập, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong suốt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
20
hơn một thập kỷ vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã phải thực hiện khá nhiều
chính sách và biện pháp nhằm cơ cấu lại hệ thống tài chính thích ứng với
những đòi hỏi của tình hình kinh tế trong nước và bối cảnh quốc tế mới. Tuy
Như chúng ta đã biết, ngân hàng trung ương là một định chế quản lý
nhà nước về tiền tệ – tín dụng. Nó nằm trong bộ máy quyền lực quốc gia.
Song, tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước, HNTW có thể độc lập
hay trực thuộc Chính phủ. Chẳng hạn ở Mỹ và Đức, thực hiện thể chế NHTW
độc lập với Chính phủ. Trong thể chế này, Chính phủ khơng được can thiệp
vào hoạt động của NHTW. Nhưng ở Nhật, Anh, Pháp và một số nước khác
thực hiện thể chế NHTW trực thuộc Chính phủ, Chính phủ có ảnh hưởng
quyết định đối với hoạt động của NHTW.
Khác với tính chất quản lý nhà nước của các bộ, NHTW thực hiện việc
quản lý nhà nước qua các nghiệp vụ kinh doanh có đem lại lợi nhuận. Song,
việc kinh doanh này chỉ là phương tiện nâng cao hiệu suất của cơng tác quản
lý, chứ khơng phải là mục đích của hoạt động chính của NHTW.
Mục đích hoạt động của NHTW là cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế,
điều hồ lưu thơng tiền tệ và quản lý hệ thống ngân hàng, nhằm bảo đảm lưu
thơng tiền tệ ổn định, từ đó tạo diều kiện tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm và
kiềm chế lạm phát. Với 3 chức năng cơ bản là: phát hành tiền tệ, ngân hàng
của các ngân hàng và ngân hàng của nhà nước, NHTW đóng vai trò quan
trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội như điều tiết khối lượng
tiền trong lưu thơng, ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản (DOJ) ra đời vào năm 1886 theo sáng
kiến của Bộ trưởng Tài chính Masayoshi Matsuka. Đây là một phần trong
chương trình hiện đại hố tài chính Nhật Bản của thời Minh Trị. Mục tiêu là
để cải cách hệ thống tiền tệ, thiết lập một đồng tiền chung trong cả nước, tạo
cơ sở cho tài chính quốc gia và thúc đẩy sự phát triển của ngân hàng nói
chung. Gần 60 năm sau Pháp lệnh BOJ được thay thế bằng một luật NHTW
mới được thực hiện trong thời kỳ Chính phủ do giới qn sự lắm quyền vào
năm 1942. Sự sửa đổi lần đó có thêm vào quyền hạn của NHTW trong chính
sách tiền tệ, nhưng vẫn coi HNTW là một bộ phận của Bộ Tài Chính. Sau
Chiến tranh Thế giới thứ II, BOJ hầu như khơng có sự thay đổi. Hai sáng kiến
nhằm cải cách Luật NHTW – một lần vào cuối những năm 1950 và một lần
thng ngõn hng. Nhng kim toỏn viờn cng do Ni cỏc b nhim, nhng
cỏc giỏm c iu hnh v cỏc c vn thỡ do B trng Ti chớnh b nhim
theo s gii thiu ca Ban Chớnh sỏch. Lut ghi rừ 6 thnh viờn c la chn
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
23
phải là chun gia kinh tế hoặc tài chính, hoặc những người có kiến thức un
thâm về kinh tế – xã hội để tăng cường tính minh bạch và có thể hạn chế sự
can thiệp của Bộ Tài chính. Như vậy luật mới đã lành mạnh hố chức năng
của Ban Chính sách tiền tệ, trong tổng số 9 người của ban thì 4 thành viên
mới được bổ nhiệm vào tháng 4 năm 1998 đều độc lập với Chính phủ. Trong
Ban Chính sách tiền tệ, khơng một thành viên nào có quyền áp đặt quan điểm
của riêng mình, mọi người đều có thể thẳng thắn nêu ý kiến. Bắt đầu từ tháng
1 năm 1998, BOJ đã thực hiện các cuộc họp định kỳ 1 hoặc 2 lần trong một
tháng về chính sách tiền tệ, và sau 5 hoặc 6 tuần sẽ cơng bố cơng khai nội
dung các cuộc họp. Đây có thể coi là một đột phá để đưa Nhật Bản tiến đến
các tiêu chuẩn quốc tế về tính minh bạch trong hoạt động ngân hàng. Ngồi
ra, trong việc quản lý nhân sự BOJ đã bãi bỏ quy chế thăng chức tự động
hàng năm, tăng cường hiệu quả nguồn nhân lực, áp dụng một cách then trọng
hệ thống thăng chức dựa vào sự đóng góp của các cá nhân cho hoạt động của
ngân hàng.
Như vậy vai trò, chức năng, cơ cấu tổ chức của BOJ đã có những thay
đổi đáng kể theo hướng độc lập, tự quyết chứ khơng phải là tổ chức chỉ biết
thực thi những mệnh lệnh của Bộ Tài chính như trước kia. Tuy nhiên, những
thay đổi này vẫn chưa thể theo kịp các đồng sự phương Tây của họ. Có những
phê phán cho rằng BOJ tuy đã được độc lập trong thực thi chính sách tiền
tệnhưng lại bị hạn chế trong việc quản lý tiền tệ. Khi nói về quan hệ với
Chính phủ, Điều 4 của Luật mới lại ghi “tiền mặt và quản lý tiền tệ là một bộ
phận trong chính sách kinh tế tổng thể, BOJ cần phải giữ quan hệ mật thiết
với Chính phủ và trao đổi ý kiến đầy đủ, như vậy thì chính sách tiền tệ mới có
mối quan hệ gần gũi và trao đổi quan diểm với Chính phủ một cách đầy đủ để
đảm bảo chính sách của BOJ hài hồ với chính sách kinh tế của Chính phủ.
Luật ngân hàng mới nhấn mạnh khái niệm “minh bạch” với quy định rằng
BOJ sẽ thơng báo ra cơng chúng nội dung các quyết định cũng như q trình
ra quyết địnhcó liên quan tới vấn đề quản lý tiền và ngoại hối. Có thể thấy
cuộc cải cách đối với BOJ tương đối tồn diện vì khơng chỉ về cơ cấu luật
pháp bên ngồi mà còn về cấu trúc và động lưc bên trong của nó, tạo điều
kiện để BOJ trở thành một ngân hàng hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế. Điều
này đã được chứng minh trong thời gian 4 năm qua khi BOJ ln kiên định
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
25
duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ của mình với việc điều chỉnh lãi suất linh
hoạt, can thiệp kịp thời vào thị trường ngoại hối. Chẳng hạn, trong thời gian
qua khi đồng n lên giá q mức, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu của
Nhật Bản. Chỉ tính từ cuối tháng 5/ 2002 đến đầu tháng 7/2002, BOJ đã 7 lần
tung đồng n ra để mua Đơla Mỹ và trong lần can thiệp thứ 6, BOJ đã u
cầu Cục dự trữ Liên bang Mỹ và NHTW châu Âu giúp cho việc bán đồng
n. Đây là lần đầu tiên BOJ có sự phối hợp với NHTW của các nước khác.
1.2. Đối với các NHTM
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng và
có thể hiểu đó là một trung gian tài chính đi vay để cho vay. Có nhiều loại
hình NHTM như NHTM cơng, NHTM tư, NHTM trong nước, NHTM nước
ngồi, NHTM tồn quốc, NHTM địa phương, NHTM duy nhất hoặc NHTM
mạng lưới, dựa trên tiêu thức doanh số người ta phân biệt NHTM nhỏ,
NHTM lớn hoặc siêu lớn.
NHTM có 3 chức năng: trước hết, NHTM hoạt động với tư cách là một
trung gian tín dụng. Một mặt, thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội bao
gồm tiền của các doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan nhà
nước. Mặt khác, nó ding chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với