Lời mở đầu
Với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của thế giới, sự vơn lên không
ngừng của các nớc trong khu vực về tất cả các lĩnh vực mà đặc biệt là sự
phát triển nh vũ bão về kinh tế, chính trị, xã hội. Điều đó đặt nớc ta vào
một vị thế vô cùng quan trọng, bởi vì nớc ta nằm ở vị trí cực kỳ nhạy
cảm, nhạy cảm cả về vị trí chiến lợc quân sự cũng nh kinh tế trong khu
vực. Chính vì thế mà Đảng và nhà nớc đã nhận thấy rõ công việc của
mình là phải lãnh đạo, định hớng phát triển cho nền kinh tế đất nớc sao
cho thật tốt, để tiến vào kỷ nguyên mới với thành công mới rực rỡ. Để đạt
đợc điều đó Đảng, nhà nớc đã đa ra nhiệm vụ và mục tiêu phải tiến hành
"Công nghiệp hoá và Hiện đại hoá đất nớc".
Để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá thành công, tăng trởng
kinh tế bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nớc trong khu
vực cần phải có nguồn vốn lớn. Mà để có nguồn vốn lớn cần phát triển
thị trờng chứng khoán. Tuy nhiên, việc phát triển thị trờng chứng khoán
ở Việt Nam gặp không ít khó khăn về kinh tế nhng cũng chính nó lại có
thể trở thành vật cản cho nền kinh tế ấy.
Chính vì thế, mà hơn bao giờ hết chúng ta cần phải chuẩn bị một
cách kỹ càng cả về kiến thức cơ bản và các kinh nghiệm của các nớc
khác trên thế giới về cơ cấu quản lý và kiểm soát hoạt động của thị tr-
ờng chứng khoán. Có nh vậy thì thị trờng chứng khoán mới không trở
thành vật cản của nền kinh tế.
1
Chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo Đinh
Xuân Trình, ngời đã giúp chúng em hoàn thành đề tài này. Trong phạm
vi bài tiểu luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đ-
ợc sự góp ý của các thầy cô và các bạn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 6 năm 2002
2
Phần1: chứng khoán và thị trờng chứng khoán
I. chứng khoán
Trái phiếu có thể phân theo nhiều tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào chủ thể phát hành, trái phiếu gồm hai loại chính là:
trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phơng (do chính phủ và
chính quyền địa phơng phát hành) và trái phiếu công ty (do công ty phát
hành).
- Căn cứ vào tính chất chuyển đổi, trái phiếu đợc chia thành loại có
khả năng chuyển đổi (chuyển đổi thành cổ phiếu) và loại không có khả
năng chuyển.
- Căn cứ vào cách thức trả lãi, trái phiếu đợc chia thành các loại
sau:
+ Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu đợc thanh toán cố
định theo định kỳ.
+ Trái phiếu với lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu
đợc thay đổi theo sự biến động của lãi suất thị trờng hoặc bị chi phối bởi
biểu giá, chẳng hạn nh giá bán lẻ.
+ Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thởng và đợc
bán theo nguyên tắc chiết khấu. Tiền thởng cho việc sở hữu trái phiếu
nằm dới dạng lợi nhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập ( nó là phần
chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa- mệnh giá trái phiếu và giá mua).
4
- Trái phiếu có bảo đảm và trái phiếu không có bảo đảm.
2.3. Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán:
- Chứng quyền: là giấy xác nhận quyền đợc mua cổ phiếu mới phát
hành tại mức giải tờng bán ra của công ty. Các chứng quyền thờng đợc
phát hành cho cổ đông cũ, sau đó chúng có thể đợc đem ra giao dịch.
- Chứng khế: là các giấy tờ đợc phát hành kèm theo các trái phiếu,
trong đó xác nhận quyền đợc mua cổ phiếu theo những điều kiện nhất
định.
- Chứng chỉ thụ hởng: là giấy xác nhận quyền lợi của khách hàng là
những nhà đầu t cá nhân trong các quỹ đầu t nhất định. Chứng chỉ này có
vốn ngắn hạn thành dài hạn. Qua thị trờng thứ cấp, những ngời có vốn
nhàn rỗi tạm thời có thể đầu t vào chứng khoán, khi cần tiền họ có thể
bán lại chứng khoán cho nhà đầu t khác. Nghĩa là thị trờng thứ cấp là nơi
làm cho các chứng khoán trở nên lỏng hơn. Thị trờng thứ cấp là nơi xác
định giá của mỗi loại chứng khoán mà công ty phát hành chứng khoán
bán ở thị trờng thứ cấp. Nhà đầu t trên thị trờng sơ cấp chỉ mua cho công
ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trờng thứ cấp sẽ chấp nhận cho
chứng khoán này.
6
Thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp là hai bánh xe của một chiếc
xe. Thị trơng sơ cấp là bánh động lực còn thị trờng thứ cấp là bánh cân
bằng.Nh vậy thị trờng sơ cấp và thị trờng thứ cấp có mối quan hệ nội tại,
trong đó thịtrờng sơ cấp là tiền đề còn thị trờng thứ cấp là động lực.
Xét về phơng diện tổ chức và giao dịch ,TTCK có ba loại:
Thị trờng chứng khoán tập trung:là thị trờng ở đó việc giao dịch
mua bán chứng khoán đợc thực hiện thông qua Sở giao dịch chứng
khoán.
Thị trờng chứng khoán bán tập trung: là thị trờng CK bậc cao.
Thị trờng chứng khoán bán tập trung (OTC) không có trung tâm giao
dịch mà giao dịch mua bán chứng khoán thông qua mạng lới điện tín,
điện thoại. Một điều rất quan trọng là các nhà đầu t trên thị trờng OTC
không trực tiếp gặp nhau để thoả thuận mua bán chứng khoán nh trong
phòng giao dịch của SGDCK, thay vào đó họ thuê các công ty môi giới
giao dịch hộ thông qua hệ thống viễn thông.
Các công ty chứng khoán trên thị trờng OTC có mặt ở khắp nơi trên
đất nớc, mỗi công ty chuyên kinh doanh buôn bán một số loại chứng
7
Công ty
chứng
khoán
có tổ chức
Nhà đầu tư
các nhân
Nhà đầu tư
các nhân
Thị trường
thứ cấp
Thị trường
thứ cấp
SGDCK
SGDCK
OTC
OTC
Thị trường
thứ ba
Thị trường
thứ ba
khoán nhất định. Các công ty chứng khoán giao dịch mua bán chứng
khoán cho mình và cho khách hàng thông qua việc giao dịch với các nhà
tạo thị trờng về các loại chứng khoán đó. Các công ty cũng thực hiện các
nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nh: giao dịch mua bán cho chính
mình, môi giới mua bán cho khách hàng, dịch vụ t vấn đầu t chứng
khoán, bảo lãnh phát hành. Các chứng khoán mua bán trên thị trờng OTC
cũng phải đợc niêm yết công khai cho công chúng biết để có quyết định
đầu t. Các chứng khoán đợc niêm yết trên thị trờng OTC tơng đối dễ
dàng, các điều kiện niêm yết không quá nghiêm ngặt. Nh vậy, hầu nh tất
cả các chứng khoán không đợc niêm yết trên SGDCK đều đợc giao dịch
ở đây. Các chứng khán buôn bán trên thị trờng OTC thờng có mức độ tín
nhiệm thấp hơn các chứng khoán đợc niêm yết trên SGDCK. Song, do thị
trờng nằm rải rác ở khắp các nơi nên độ lớn của thị trờng khó có thể xác
hởng của nó vợt ra ngoài khuôn khổ quốc gia vì đây là những TTCK từ
lâu đợc xếp vào loại hoạt động có tầm cơ quốc tế. Cho nên biến động của
thị trờng tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế của bản thân nớc sở tại, mà
còn ảnh hởng đến thị trờng chứng khoán nớc khác.
2.2. Chức năng thứ hai: thông tin
Thị trờng chứng khoán bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời ( cho
các nhà đầu t và các nhà kinh doanh chứng khoán ) về tình hình cung -
cầu, thị giá của từng loại chứng khoán trên thị trờng mình và trên thị tr-
ờng chứng khoán hữu quan.
9
2.3. Chức năng thứ ba: cung cấp khả năng thanh khoản
Nhờ có thị trờng chứng khoán mà các nhà đầu t có thể chuyển đổi
thành tiền khi họ muốn.Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản bảo
đảm cho thị trờng chứng khoán hoạt động hiệu quảvà năng động.
2.4 Chức năng thứ t:đánh giá giá trị doanh nghiệp
Thị trờng chứng khoán là nơI đánh giá chính xác doanh nghiệp
thông qua chỉ số chứng khoán trên thị trờng .Việc này kích các doanh
nhgiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,kích thích áp dụng công ngệ mới.
2.5 chức năng thứ năm: tạo môI trờng để chính phủ thực hiện
chính vĩ mô
Chính phủ có thẻ mua bán tráI phiếu chính phủ đẻ toạ ra nguồn thu
bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.ngoàI ra chính có thể sử
dụng các chính sách tác động vào thị trờng chứng khoán nhằm định hớng
đầu t.
3. Những mặt tích cực và tiêu cực
3.1. Những mặt tích cực:
3.1.1. Khuyến khích dân chúng tiết kiệm và sử dụng mọi nguồn vốn
nhàn rỗi vào công cuộc đầu t:
Muốn phát triển thì phải đầu t. Đầu t, bất cứ một doanh nghiệp nào,
dù là khu vực Nhà nớc hay khu vực t nhân cùng đều có hai giải pháp cơ
đầu t nớc ngoài có nhiều chính sách và biện pháp có thể thực hiện ở nớc
ta.
3.1.5. Thị trờng chứng khoán lu động hóa mọi nguồn vốn trong nớc
11
Các cổ phiếu, trái phiếu tợng trng cho một số vốn dầu t đợc mua đi
bán lại trên TTCK nh một thứ hàng hóa. Ngời có vốn (có cổ phiếu, trái
phiếu...) không sợ vốn của mình bị bất động tức là không sợ bị chôn tại
nơi mà mình không thể lấy ra đợc khi không vừa ý. Vì khi cần, họ sẽ bán
lại các cổ phiếu, trái phiếu trên TTCK để mua lại cổ phiếu, trái phiếu
khác. Nhờ vậy, sinh hoạt kinh tế thêm sôi động.
3.1.6. Thị trờng chứng khoán là điều kiện tiên đề cho quá trình cổ
phần hóa.
Cổ phần hóa là quá trình chuyển từ doanh nghiệp Nhà nớc sang
công ty cổ phần. Nó đòi hỏi phải có TTCK. Bởi vì TTCK và công ty cổ
phần nh hình với bóng. Chỉ có thông qua TTCK thì Nhà nớc mới có thể
thực hiện cổ phần hóa đối với bất cứ loại doanh nghiệp nào, dù doanh
nghiệp đang kinh doanh có lãi hay thua lỗ. Vì TTCK là nơi tập trung đợc
toàn bộ quan hệ cung cầu về vốn, là nơi tập trung các nhà đầu t. Do vậy,
có thể nói TTCK là tiền đề vật chất cho quá trình cổ phần hóa.
3.1.7. Thúc đẩy các doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng hơn
Nhờ TTCK, các doanh nghiệp mới có thể đem bán, phát hành các cổ
phiếu, trái phiếu của họ. Với sự tự do lựa chọn của ngời mua cổ phiếu, để
bán đợc cổ phiếu, không có cách nào khác hơn là nhà quản lí các doanh
nghiệp phải tính toán, làm ăn đàng hoàng hơn và có hiệu quả hơn.
3.2. Những mặt tiêu cực:
3.2.1.Yếu tố đầu cơ: Đầu cơ là một yếu tố có tính toán của những
ngời chấp nhận rủi ro. Yếu tố này dễ gây ảnh hởng dây chuyền làm cho
cổ phiếu có thể tăng giá giả tạo.
3.2.2. Mua bán nội gián: Một cá nhân nào đó lợi dụng việc nắm đợc
những thông tin nội bộ của một đơn vị kinh tế để mua hoặc bán cổ phiếu
Các tổ chức này thờng xuyên mua bán chứng khoán với số lợng lớn
và có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm
để nghiên cứu thị trờng và đa ra các quyết định đầu t. Đầu t thông qua
các tổ chức này có u điểm là đa dạng hoá danh mục đầu t và các quyết
định đầu t đợc thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm.
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu t là các công ty tài
chính. Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thơng mại
cũng có thể trở thành những nhà đầu t chuyên nghiệp khi họ mua chứng
khoán cho mình.
4.3. Các tổ chức kinh doanh chứng khoán
4.3.1. Công ty chứng khoán
Các công ty này hoạt động với nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát
hành, tự doanh, môi giới, quản lý danh mục đầu t và t vấn đầu t chứng
khoán.
4.3.2. Các ngân hàng thơng mại
Các ngân hàng thơng mại có thể sử dụng vốn để đầu t chứng khoán
nhng chỉ đợc trong giới hạn rất định để bảo vệ ngân hàng trớc những biến
động của giá chứng khoán.
4.4. Các tổ chức có liên quan đến thị trờng chứng khoán
4.4.1. Cơ quan quản lý nhà nớc
Cơ quan này đợc thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nớc
đối với thị trờng chứng khoán. cơ quan này có những tên gọi khác nhau
tuỳ từng nớc. Tại Anh có Uỷ ban đầu t chứng khoán (SIB- Securities
14
Investment Board), tại Mỹ có Uỷ ban chứng khoán và Giao dịch chứng
khoán (SEC - Securities And Exchange Comission) hay ở Nhật Bản có
Uỷ ban giám sát chứng khoán và Giao dịch chứng khoán (ESC -
Exchange Surveillance Comission) đợc thành lập vào năm 1992 và đến
năm 1998 đổi tên thành FSA - Financial Supervision Agency. Và ở Việt
Nam có Uỷ ban chứng khoán nhà nớc đợc thành lập theo Nghị địng số