LỜI NÓI ĐẦU
Vốn luôn được coi là một trong những nhân tố quyết định cho quá trình
sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Đặc biệt là để
đạt tăng trưởng kinh tế cao, vấn đề tạo nguồn vốn và sử dụng nó một cách có
hiệu quả càng trở nên cần thiết đối với tất cả các quốc gia muốn trở thành
nước công nghiệp hoá với thời gian ngắn nhất.
Công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam đã qua một chặng đường hơn
10 năm. Nền kinh tế đã thu được những kết quả đáng khả quan như tốc độ
tăng trưởng nhanh, lạm phát ở mức có thể kiểm soát được, nhưng để duy trì
tốc độ tăng trưởng như vậy thì nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn. Trong khi đó
nền kinh tế nước ta lại có xuất phát điểm thấp, nghèo nàn, lạc hậu nên nguồn
vốn trong nước không thể đáp ứng hết nhu cầu về vốn đầu tư đó. Vì vậy,
nguồn vốn đầu tư nước ngoài nói chung và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA) nói riêng là rất quan trọng.
Nguồn vốn ODA đã góp phần đáng kể vào việc đạt được những thành
tựu kinh tế xã hội của đất nước. Để có thể thu hút và sử dụng có
hiệu quả nguồn ODA trong phát triển kinh tế - xã hội cần có những biện pháp
cụ thể và toàn diện.
Em xin trình bày một số hiểu biết của em về ODA trong bài này.
1
1
Chương I
TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH
THỨC (ODA).
I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ODA.
1. Khái niệm.
Theo cách hiểu chung nhất, ODA là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn
lại và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp của các
Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liệp hợp quốc, các tổ chức phi Chính
phủ (NGO), các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB ) giành cho các
nước nhận viện trợ. ODA được thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các
- Viện trợ không hoàn lại: bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên
nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo
sự thoả thuận trước giữa các bên.
Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng:
+ Hỗ trợ kỹ thuật.
+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật.
- Viện trợ có hoàn lại: nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền
(tuỳ theo một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian
trả nợ thích hợp.
Những điều kiện ưu đãi thường là:
+ Lãi suất thấp (tuỳ thuộc vào mục tiêu vay và nước vay).
+ Thời hạn vay nợ dài (từ 20 - 30 năm)
+ Có thời gian ân hạn (từ 10 - 12 năm)
- ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA
không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của tổ
chức Hợp tác kinh tế và phát triển.
b. Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại:
- ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến
nước kia thông qua hiệp định được ký kết giữa hai Chính phủ.
3
3
- ODA đa phương: là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF,
WB
1
) hay tổ chức khu vực (ADB, EU, ) hoặc của một Chính phủ của một
nước dành cho Chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện
thông qua các tổ chức đa phương như UNDP (Chương trình phát triển Liên
hiệp quốc), UNICEF (quĩ nhi đồng Liên Hiệp quốc) có thể không.
Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu:
+ Ngân hàng thế giới (WB).
+ Quĩ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA)
+ Tổ chức y tế thế giới (WHO)
+ Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO)
+ Quĩ phát triển nông nghiệp quốc tế (IFDA).
- Các tổ chức tài chính quốc tế:
+ Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF)
+ Ngân hàng thế giới (WB)
+ Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)
- Liên minh Châu Âu (EU).
- Các tổ chức phi Chính phủ (NGO)
- Tổ chức xuất khẩu dầu mỡ (OPEC)
- Quĩ Cô - Oét.
* Các nước viện trợ song phương:
- Các nước thành viên Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) của tổ chức Hợp
tác và phát triển kinh tế (OECD).
- Các nước đang phát triển.
4. Quy trình thực hiện dự án ODA.
Mỗi quốc gia có những quy định riêng đối với các cách quản lý và điều
hành nguồn vốn này. Dưới đây là một số nội dung về quy định của pháp luật
Việt Nam liên quan đến các vấn đề xung quanh các hoạt động thu hút và sử
dụng nguồn vốn ODA.
5
5
1. Quy hoạch ODA.
Bộ kế hoạch - Đầu tư căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội;
quy hoạch tổng thể và kế hoạch hàng năm chủ trì việc điều phối với các Bộ,
các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan để nghiên
cứu chủ trương và phương hướng vận động ODA, soạn thảo quy hoạch ODA
và lập các danh mục chương trình, dự án ưu tiên sử dụng ODa trình Chính
phủ phê duyệt.
5. Đàm phán ký kết.
Sau khi nội dung đàm phán với bên nước ngoài được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt, Bộ Kế hoạch - Đầu tư chủ trì với sự tham gia của Văn phòng
Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng nhà nước Việt Nam và
các cơ quan liên quan tiến hành đàm phán với bên nước ngoài.
Trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ chỉ định một cơ quan khác chủ
trì đàm phán với các bên nước ngoài thì cơ quan này phải thống nhất ý kiến
với Bộ Kế hoạch - Đầu tư về nội dung đàm phán và với Bộ Tài chính về hạn
mức và điều kiện vay trả (nếu là ODA hoàn lại).
Kết thúc đàm phán, nếu đạt được các thoả thuận với bên nước ngoài thì
cơ quan chủ trì đàm phán phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung làm
việc, kết quả đàm phán và những ý kiến đề xuất có liên quan.
Nếu văn bản ODA ký với bên nước ngoài là Nghị định thư, Hiệp định
hoặc văn kiện khác về ODA cấp Chính phủ thì cơ quan được Thủ tướng
Chính phủ chỉ định đàm phán phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ nội dung
văn bản dự định ký kết và các đề xuất người thay mặt Chính phủ ký các văn
bản đó. Văn bản trình Thủ tướng Chính phủ phải kèm theo ý kiến chính thức
bằng văn bản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (trường hợp cơ quan khác trình Thủ
tướng Chính phủ), Bộ ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính.
Trong trường hợp Nghị định thư và Hiệp định hoặc các văn bản khác về
ODA yêu cầu phải ký kết với danh nghĩa Nhà nước Công hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (hoặc cơ quan khác với Chính phủ chỉ
định đàm phán) phải báo cáo với văn phòng Chủ tịch nước ngay từ khi bắt
đầu đàm phán với bên nước ngoài về nội dung các văn kiện dự định ký kết,
7
7
đồng thời thực hiện các thủ tục Quy định tại điều 6 khoản 3, điều 7 và điều 8
của Nghị định 182/HĐBT ngày 28/5/1992 của Chính phủ.
6. Quản lý thực hiện.
Bộ Kế hoạch - Đầu tư phối hợp cùng với Bộ Tài chính và Ngân hàng
hình thực hiện các chương trình và dự án ODA gửi về Bộ Kế hoạch - Đầu tư,
Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bộ ngoại giao, và Văn phòng
Chính phủ.
7. Đánh giá.
Sau khi kết thúc, giám đốc chương trình, dự án ODA phải làm báo cáo
về tình hình thực hiện và có phân tích, đánh giá hiệu quả dự án với sự xác
nhận của cơ quan chủ quản và gửi về Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao, và Văn phòng Chính phủ.
II. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ODA.
1. Đặc điểm của ODA.
Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện một số đặc điểm quan trọng sau:
Thứ nhất, tỉ trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương
có xu thế giảm đi. Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới và xu thế
hội nhập đã tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế, chính trị giữa các quốc
gia ngày càng được đẩy mạnh và tăng cường. Hoạt động của một số tổ chức
đa phương tỏ ra kém hiệu quả làm cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp
cho các tổ chức này. Điều đó là nguyên nhân chính tạo nên sự chuyển dịch, tỉ
trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương có xu hướng
giảm đi. Điều đó đã được chứng minh trên thực tế là trong các năm 1980 -
1994 trong tổng số ODA của thế giới, tỉ trọng ODA song phương từ 67% tăng
lên 69% trong khi đó tỉ trọng ODA đa phương giảm từ 33% xuống 31%.
(Nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu tư).
Thứ hai, sự cạnh tranh ngày càng tăng trong quá trình thu hút ODA.
Trên thế giới, một số nước mới giành được độc lập hoặc mới tách ra từ
các nhà nước liên bang tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA. Một số
nước công hoà thuộc Nam Tư cũ và một số nước Châu Phi bị tàn phá nặng nề
trong chiến tranh sắc tộc đang cần đến sự hỗ trợ quốc tế. ở Châu á, Trung
Quốc, các nước Đông Dương, Myanmar cũng đang cần đến nguồn ODA lớn
để xây dựng kinh tế, phát triển xã hội. Số nước có nhu cầu tiếp nhận ODA là
rất lớn vì vậy sự cạnh tranh giữa các nước ngày càng trở nên gay gắt. Các vấn
phụ thuộc rất nhiều vào ý muốn chủ quan của nhà tài trợ. Lúc đầu họ chỉ quan
tâm đến việc thiết lập các mối quan hệ với các nước láng giềng của mình,
nhưng sau họ lại nhận thấy rằng cần thiết lập các quan hệ với các nước khác
trên thế giới để tìm kiếm thị trường trao đổi buôn bán hay đầu tư mà việc đầu
tiên thiết lập quan hệ ngoại giao bằng cách viện trợ ODA. Mặt khác chính
10
10
những yếu tố trong nội bộ của quốc gia cũng tạo nên những khác biệt lớn
trong quá trình nhận viện trợ như các mối quan hệ với các nước phát triển,
hay những thành tích trong phát triển đất nước hay cũng có thể là do nhu cầu
hết sức cần thiết như chiến tranh, thiên tai
Thứ tư, triển vọng gia tăng nguồn vốn ODA ít lạc quan.
Mặc dù Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã khuyến nghị dành 1% GNP của
các nước phát triển để cung cấp ODA cho các nước nghèo. Nhưng nước có
khối lượng ODA lớn như Nhật Bản, Mỹ thì tỷ lệ này mới chỉ đạt ở mức trên
dưới 0,3% trong nhiều năm qua. Tuy có một số nước như Thụy Điển, Na uy,
Phần Lan, Đan Mạch đã có tỷ lệ ODA chiếm hơn 1% GNP, song khối lượng
ODA tuyệt đối của các nước này không lớn. Thêm vào đó tình hình kinh tế
phục hồi chậm chạp ở các nước đang phát triển cũng là một trở ngại gia tăng
ODA. Ngoài ra, hàng năm các nước cung cấp ODA dựa vào kết quả hoạt
động của nền kinh tế của mình để xem xét khối lượng ODA có thể cung cấp
được. Nhưng hiện nay các nước phát triển đang có những dấu hiệu đáng lo
ngại trong nền kinh tế của mình như khủng hoảng kinh tế hay hàng loạt các
vấn đề xã hội trong nước, chịu sức ép của dư luận đòi giảm viện trợ để tập
trung giải quyết các vấn đề trong nước.
Tuy nhiên, ở các nước phát triển, kinh tế tăng bình quân 6%/năm trong
các năm 1991 - 1994 (4%/năm trong thập kỷ 80). Đời sống nhân dân đang
được cải thiện rõ rệt. Do sự phục hồi kinh tế ở các nước phát triển, nguồn vốn
chuyển dịch vào các nước đang phát triển có thể sẽ giảm sút trong các năm
tới, ODA là một khoản vốn mà các nước phát triển hỗ trợ cho các nước đang
Tầm quan trọng của ODA đối với các nước đang và kém phát triển là
điều không thể phủ nhận. Điều này được thể hiện rõ qua những thành công
mà các nước tiếp nhận ODA đã đạt được.
Đầu tiên, trong khi các nước đang phát triển đa phần là trong tình trạng
thiếu vốn trầm trọng nên thông qua ODA song phương có thêm vốn để phục
vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. ODA mang lại nguồn lực cho đất
nước.
Thứ nữa, theo các nhà kinh tế, việc sử dụng viện trợ ở các nước đang
phát triển nhằm loại bỏ sự thiếu vốn và ngoại tệ, tăng đầu tư vốn đến điểm mà
ở đó sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho các nước này đạt được đến quá
trình tự duy trì và phát triển.
12
12
Tạo điều kiện để các nước tiếp nhận có thể vay thêm vốn của các tổ chức
quốc tế, thực hiện việc thanh toán nợ tới hạn qua sự giúp đỡ của ODA.
ODA còn có thể giúp các nước đang lâm vào tình trạng phá giá đồng nội
tệ có thể phục hồi đồng tiền của nước mình thông qua những khoản hỗ trợ lớn
của các tổ chức tài chính quốc tế mang lại.
ODA giúp các nước nhận hỗ trợ tạo ra những tiền đề đầu tiên, đặt nền
móng cho sự phát triển về lâu dài thông qua lĩnh vực đầu tư chính của nó là
nâng cấp cơ sở hạ tầng về kinh tế.
ODA tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của các địa phương
và vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn: nguồn vốn này trực tiếp
giúp cải thiện điều kiện về vệ sinh y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ môi
trường. Đồng thời nguồn ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển
cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển nông nghiệp, xoá đói giảm nghèo
ODA giúp các doanh nghiệp nhỏ trong nước có thêm vốn, tạo điều kiện
nâng cao hiệu quả đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dần dần mở rộng qui mô
doanh nghiệp.
Ngoài ra ODA còn giúp các nước nhận viện trợ có cơ hội để nhập khẩu
khu vực thu hút nhiều ODA nhất.
Châu Phi: Là khu vực tập trung hầu hết các nước nghèo, kém phát triển
nên nguồn viện trợ chủ yếu là viện trợ không hoàn lại và thường chiếm tỉ lệ
cao.
2. Nhà tài trợ lớn nhất:
a. ODA song phương:
Mục đích của các nước cung cấp viện trợ đều là xác lập vị trí toàn diện
và áp đặt vai trò của mình ở khu vực muốn thôn tính. Do đó việc phân bổ
ODA diễn ra khác nhau giữa các khu vực.
Trong số các nước cung cấp ODA song phương, Hoa Kỳ và Nhật Bản là
những nước dẫn đầu thế giới.
Cụ thể:
- Ở Châu Á : Nhật Bản với mục tiêu là phải thiết lập được mối quan hệ
tốt đẹp giữa các nước trong khu vực, sao cho Nhật sẽ là nước đóng vai trò chủ
đạo về kinh tế nên đứng đầu trong danh sách các nhà tài trợ ở Châu á là Nhật
Bản.
14
14
- Châu Phi: Nước cung cấp ODA chiếm tỉ lệ cao nhất là Pháp.
- Châu Mỹ La Tinh: Mỹ là nước có tỉ lệ viện trợ lớn nhất.
- Châu Đại Dương: Pháp đứng đầu với tỉ lệ viện trợ 46,9%.
- Trung Đông: Mỹ có tỉ lệ viện trợ ODA cao nhất.
b. ODA song phương:
Các tổ chức tài chính quốc tế thường là những nhà tài trợ lớn với lượng
vốn cung cấp lớn hơn nhiêù lần so với các quỹ của Liên hiệp quốc.
Một số tổ chức đa phương cung cấp ODA
Nhiều nhất trong năm 1996.
(Nguồn: Bộ kế hoạch - Đầu tư - tháng 7/1997).
15
15
Từ đầu thập niên 90 với sự kết thúc chiến tranh lạnh, nguồn vốn ODA
được mở rộng ra khắp các nước trên thế giới không kể thuộc hệ thống chính
trị nào. Các nước nhận được nguồn hỗ trợ nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào vị
thế kinh tế của từng khu vực, từng nước. Những năm gần đây, vốn ODA trên
thế 0giới có chiều hướng tập trung vào Châu á, đặc biệt là khu vực Đông Nam
á. Trung quốc là nước thu hút nhều ODA nhất trong khu vực này.
16
16
17
17
Chương II
THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TẠI
VIỆT NAM
I. TÌNH HÌNH THU HÚT ODA:
1. Giai đoạn trước tháng 10/1993.
Trước đây, nước ta nhận được hai nguồn ODA song phương chủ yếu.
Một từ các nước thuộc tổ chức SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế) trong đó chủ
yếu là Liên xô (cũ). Hai là từ các nước thuộc tổ chức DAC (Uỷ ban hỗ trợ
phát triển) và một số nước khác, trong đó chủ yếu là Thuỵ điển, Phần Lan,
Đan mạch, Nauy, Pháp, ấn độ
Các khoản ODA trên giúp chúng ta xây dựng một số ngành quan trọng
nhất của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế nước ta. Sau cuộc khủng
hoảng chính trị ở Liên xô cũ và Đông âu, SEV giải thể đã làm cho nguồn viện
trợ từ các nước này chấm dứt dẫn tới rất nhiều khó khăn cho nước ta, nhiều kế
hoạch không có vốn để hoàn thành.
3/2/1994 Hoa Kỳ xoá bỏ cấm vận với Việt Nam. Cùng vói các chính
sách đối ngoại mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực tạo điều kiện cho
Việt Nam nhận được một số lượng viện trợ lớn từ các nước phát triển và các
tổ chức quốc tế.
2. Giai đoạn phát triển hợp tác mới từ tháng 10/1993:
hơn 10 tỷ USD, chiếm gần 70% tổng số vốn ODA đã cam kết.
Việt Nam dành được sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng tài trợ quốc tế
và các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không quan tâm tới Việt Nam nếu như họ
không tin tưởng vào triển vọng phát triển tốt đẹp ở đất nước ta. Điều quan
trọng chính là sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế về những gì mà Việt
Nam đã làm trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế, trong kế
hoạch 5 năm lần thứ nhất (đây là kế hoạch hoàn thành quá trình cải tổ và đầu
tư vào nhưngx ngành trọng điểm của nền kinh tế nhằm xây dựng một nền
kinh tế có hiệu quả để hoà nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, thì cần
phải có nhiều sự trợ giúp hơn nữa). Tiếp theo đó là những kết quả đáng mừng
trong giai đoạn này.
II. TÌNH HÌNH GIẢI NGÂN (SỬ DỤNG ) ODA:
19
19
Tình hình giải ngân là biểu hiện bước đầu hiệu quả của nguồn vốn ODA.
Tổng mức giải ngân đã tăng đều từ 0,413 tỷ USD năm 1993 đến 1,452 tỷ
USD năm 1999.
Trong thời gian qua đã có 1 số chương trình, dự án ODA đã thực hiện
xong và hiện đang phát huy tác dụng tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội Việt Nam như nhà máy điện tử dụng khí thiên thiên phú Mỹ 2 - giai
đoạn 1, nhiều bệnh viện ở các thành phố, các trường học đã được cải tạo và
nâng cấp.
Nguồn ODA cũng đã hỗ trợ tăng cường năng lực phát triển thể chế cho
nhiều lĩnh vực quan trọng như tài chính, ngân hàng
Đối với nhiều chương trình, dự án ODA đã thực hiện phương thức đấu
thầu cạnh tranh quốc tế, do đó cơ quan hưởng thụ Việt Nam đã lựa chọn được
các công ty thực hiện dự án vừa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật và công nghệ,
vừa tiết kiệm được vốn vay.
III. NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI TRONG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG
VÀ TIẾP NHẬN ODA Ở VIỆT NAM.
vốn thường bị kéo dài, tốc độ giải ngân chậm so với các nước khác trên thế
giới.
- Khó khăn trong việc tiếp nhận ODA một phần xuất phát từ bên cung
cấp viện trợ:
+ Đôi khi nhà tài trợ đặt ra những yêu cầu rất chi tiết và chuẩn mực trong
khi Việt Nam chưa có đủ kinh nghiệm tiếp nhận và kĩ thuật cần thiết để đáp
ứng những nhu cầu đó.
+ Thủ tục giải ngân do các nhà tài trợ đề ra khá phức tạp.
+ Một số dự án do các nhà tài trợ thiết kế không sát với tình hình thực
tiễn ở Việt Nam nên phía Việt Nam lại mất thời gian để điều chỉnh cho phù
hợp hơn.
IV. NHỮNG TỒN TẠI TRONG QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG VỐN ODA:
- Cơ chế quản lí và sử dụng các nguồn viện trợ còn nhiều điểm chồng
chéo, rườm rà nên đôi lúc dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc thành lập các
ban quản lý dự án.
21
21
- Sự thống nhất giữa các cơ quan liên quan với cấp bộ và ban quản lý dự
án chưa được chú trọng.
- Các thủ tục xem xét và trình tự duyệt dự án còn phức tạp, phải qua
nhiều cấp , nhất là khâu đấu thầu và chấm thầu khiến cho thời gian dự án bị
chậm lại.
- Nhiều người coi viện trợ là của “cho” nên việc sử dụng và quản lí các
nguồn viện trợ thường không được đảm bảo đúng chế độ tài chính, thậm chí
hết sức lãng phí và tuỳ tiện dẫn đến góp phần làm giảm hiệu quả sử dụng
nguồn vốn ODA.
- Nhân sự và kĩ năng nhân sự trong công tác điều hành sử dụng vốn
ODA ở những cấp khác nhau hiện đang thiếu về số lượng và yếu về chất
lượng dẫn đến làm cho hiệu quả sử dụng vốn ODA giảm
22
2. Về sử dụng vốn:
Việt Nam là một nước đang phát triển do đó nguồn vốn ODA có vai trò
rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đây sẽ là
nguồn tài nguyên chủ yếu để Chính phủ đầu tư tái thiết cơ sở hạ tầng đang
trên đà xuống cấp, lạc hậu nghiêm trọng và cần được khẩn trương nâng cấp,
đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và mở rộng
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng. ODA cũng là nguồn tài trợ
cần thiết cho các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tiềm năng của các
nguồn tài nguyên, thực trạng kinh tế xã hội, tình hình của các ngành, lãnh vực
trong nền kinh tế quốc dân, những thông tin thu thập, được sẽ là căn cứ xác
đáng cho quản lý vĩ mô.
Nhận thức được vai trò của nguồn vốn ODA đối với công cuộc phát triển
kinh tế xã hội của đất nước, chúng ta đã có một số thành công lớn trong công
tác vận động đầu tư và là dấu hiệu chứng tỏ sự ủng hộ của quốc tế đối với
công cuộc cải cách kinh tế xã hội đang được thực hiện có kết quả tại Việt
Nam. Tuy nhiên có được nguồn vốn mới chỉ là tiền đề, điều quan trọng hơn
hết là làm thế nào để hấp thụ, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nói trên. Để góp
phần xử lí vấn đề này cần phải thực hiện cho được những biện pháp sau:
Thứ nhất, cần thay đổi nhận thức về vai trò và bản chất của viện trợ nước
ngoài. Tính chất ưu đãi của nguồn vốn ODA (thời gian, lãi suất ) thường làm
cho các cơ quan trong nước (quản lí tiếp nhận) có quan niệm hết sức dễ dãi và
chủ quan về sự phân phối và sử dụng nguồn vốn này. Họ không chú ý đến yêu
cầu hiệu quả, bỏ qua yếu tố chi phí thời cơ trong thẩm định, đánh giá dự án,
chưa quan tâm đầy đủ đến việc xác định các ưu tiên đầu tư, vẫn còn dựa dẫm
chủ yếu vào nguồn vốn nước ngoài và xem nhẹ sự đối ứng của nguồn vốn
trong nước, triển khai dự án chậm có khi còn lãng phí. Những quan niệm sai
lầm trên cần sớm được chấn chỉnh, luôn luôn lưu ý rằng đây là nguồn vốn
phải hoàn trả vốn gốc và lãi vì vậy nếu sử dụng kém hiệu qủa vẫn có thể rơi
vào khủng hoảng nợ nần như đã xảy ra ở nhiều nước.
- Thứ hai, thiết lập các định hướng ưu tiên đầu tư và tiến hành nghiên