Cải cách hệ thống ngân hàng - Pdf 24

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mở đầu
Hiện nay, sự phát triển của hệ thống tài chính đóng vai trò nh một yếu
tố đầu vào đối với sự tăng trởng kinh tế. Một hệ thống tài chính hoạt động có
hiệu quả sẽ thực hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ những
ngời có tiết kiệm tới những ngời có nhu cầu về vốn.
Trong hệ thống tài chính, các ngân hàng thơng mại là mạch máu quan
trọng. Không thể nói đến một nền kinh tế mạnh với một hệ thống ngân hàng
yếu kém và ngợc lại. Trong những thập kỷ qua, nhiều nớc công nghiệp,
chuyển đổi và đang phát triển đã từng gặp phải những vấn đề của hệ thống
ngân hàng. Các vấn đề này thờng gắn liền với những cuộc khủng hoảng kinh
tế vĩ mô. Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ trong khu vực
mà một trong những nguyên nhân cơ bản là do hệ thống ngân hàng yếu kém
và mắc nhiều sai lầm. Việt Nam tuy không bị khủng hoảng nhng cũng bị ảnh
hởng mạnh, qua đó hệ thống ngân hàng đã bộc lộ những nhợc điểm vốn có.
Cải cách ngân hàng, do đó, đóng một vai trò lớn trong cải cách hệ
thống tài chính nói riêng cũng nh phục hồi nền kinh tế nói chung. Các chính
phủ, trong đó có chính phủ Việt Nam đã nhận thấy điều này và đang tập
trung tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng. Bài thảo luận này gồm 3 phần:
đó là những vấn đề cơ bản về cải cách ngân hàng, những cải cách Việt Nam
đã thực hiện đợc, và kinh nghiệm cải cách hệ thống ngân hàng của các nớc
gần gũi với Việt Nam sau cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, từ đó rút ra
những bài học cho Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình hớng dẫn, chỉ bảo của thầy giáo:
thạc sỹ Đào Hùng đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu. Em cũng xin
chân thành cảm ơn th viện nhà trờng đã cung cấp t liệu cho bài viết.

1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về cải cách
hệ thống ngân hàng

này, những trung gian tài chính có thể giúp thúc đẩy nền kinh tế năng động
và hiệu quả hơn. Lý do là ở chỗ: có những chi phí thông tin và chi phí giao
dịch lớn trong nền kinh tế. Khi có các trung gian tài chính tham gia vào nền
kinh tế, những chi phí này giảm xuống đáng kể.
Tiết kiệm do quy mô: một giải pháp cho vấn đề chi phí giao dịch cao
là góp những vốn muốn cho vay của nhiều nhà đầu t với nhau, do vậy, họ có
thể thu đợc lợi ích nhờ phơng pháp tiết kiệm do quy mô. Nhờ gộp các vốn
của những nhà đầu t lại với nhau, chi phí giao dịch cho mỗi cá nhân nhà đầu
t nhỏ hơn nhiều, tổng chi phí của việc thực hiện một giao dịch trong thị trờng
tài chính tăng lên chỉ một chút ít khi quy mô giao dịch tăng.
Mở rộng hiểu biết để giảm các phí giao dịch: Những trung gian tài
chính cũng xuất hiện bởi vị họ có khả năng tốt hơn để mở rộng hiều biết
nhằm hạ thấp chi phí giao dịch. Các ngân hàng trở thành những chuyên gia
lành nghề vì tiếp thu đợc những kiến thức pháp lý thích hợp, do đó họ có thể
không tốn kém gì mà vẫn viết đợc hợp đồng vay chặt chẽ.
Hoạt động ngân hàng và lợng tiền cung ứng
Các ngân hàng đóng một vai trò đáng kể trong việc tạo ra tiền, không
phải vì việc in những tờ tín phiếu, mà do việc cho vay: những khoản tiền cho
vay của ngân hàng tạo ra những khoản tiền gửi ở dạng tài khoản séc, một
thành phần của tiền tệ. Bằng hoạt động của mình, ngân hàng tạo ra số nhân
tiền và qua đó làm thay đổi lợng tiền cung ứng.
Đổi mới về tài chính
Với sự phát triển của hệ thống ngân hàng, ngày nay những khoản tiền
nhỏ cũng có đem gửi tiết kiệm với một lãi suất cao hơn trớc. Các tổ chức tài
chính liên tục sáng tạo ra các cách đa đợc lợi nhuận lên cao... Những thay đổi
nhanh chóng đó trong hệ thống ngân hàng làm cho những điều lệ áp dụng do
chính phủ đa ra trở thành lỗi thời, tác hại đến sự lành mạnh của hệ thống tài
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính. Đồng thời, sự phát triển mạnh mẽ cũng tiềm ẩn trong lòng các ngân

Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng sinh lời, thờng chiếm một tỷ lệ lớn vốn khê đọng. Thủ tục luật pháp
không đủ gây áp lực để buộc con nợ phải thanh toán số nợ của mình. Chính
phủ lại dành quá ít sự quan tâm đến sự tập trung rủi ro, chất lợng của các
luồng thông tin, sự đầy đủ của hệ thống luật pháp và bản chất của môi trờng
pháp lý.
b) Sai lầm của các nhà đầu t trong nớc.
Do chỉ đơn thuần tính đến những nhân tố kinh doanh trong quá khứ
(sức mua thị trờng, tỷ giá ổn định... ), các doanh nghiệp sẵn sàng vay những
khoản tín dụng ngắn hạn khổng lồ để đầu t vào các dự án hiệu quả kinh tế
thấp. Số nợ của các doanh nghiệp vợt quá tổng số vốn của bản thân doanh
nghiệp tới 200- 400%. Các doanh nghiệp lại đa ra các quyết định đầu t sai,
đầu t quá nhiều vào bất động sản, nhiều công trình phô trơng, kém hiệu quả,
có tính đầu cơ, bị chôn vốn... dẫn đến mất khả năng thanh toán, gây ra khủng
hoảng thanh toán lan truyền toàn bộ nền kinh tế xã hội.
c) Năng lực quản lý và điều hành trong mỗi ngân hàng còn yếu
kém.
-Quản lý chuyên môn kém: Các chính sách cho vay tồi là dạng quản lý
chuyên môn yếu kém chung nhất và thờng là hậu quả cuả việc kiểm soát nội
bộ không hiệu quả, của những phân tích tín dụng không thích đáng hoặc của
những sức ép chính trị. Chính sách cho vay tồi thờng dẫn đến tập trung rủi ro
quá mức- kết quả của việc tập trung với tỷ lệ cao các khoản vay cho một
khách hàng hay một khu vực hoặc ngành kinh doanh cụ thể nào đó. Các ngân
hàng đôi khi cho những công ty có quan hệ hay cho chính những nhà quản lý
của mình vay quá mức. Sự không tơng xứng giữa tài sản có và tài sản nợ về
loại tiền, lãi suất, hay thời hạn trả nợ là một dạng thông thờng khác của sự
yếu kém trong quản lý chuyên môn.
-Che giấu việc quản lý tồi: Khi một ngân hàng bị thua lỗ, các nhà
ngân hàng có thể cố gắng che giấu những thua lỗ trớc kia cũng nh hiện nay.
Có nhiều cách để thực hiện việc này. Để tránh báo động cho các cổ đông về

động ngân hàng, đó là khôi phục lại khả năng trả nợ và khả năng thu lợi
nhuận, nâng cao khả năng trung gian tài chính giữa ngời tiết kiệm và ngời đi
vay của hệ thống ngân hàng, và khôi phục niềm tin của công chúng.
Nói một cách đơn giản là, cơ cấu lại tài chính là cố gắng khôi phục
khả năng trả nợ (giá trị ròng) bằng việc cải thiện các bảng cân đối tài sản của
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngân hàng. Giá trị ròng- chênh lệch giữa tài sản Có và tổng các khoản phải
trả, càng lớn thì khả năng trả nợ của ngân hàng càng cao. Một ngân hàng có
thể cải thiện bảng cân đối tài sản của mình bằng cách:
-Tăng thêm vốn bổ sung (Ví dụ: nhận tiền mặt từ những ngời sở hữu
cũ và mới hoặc từ chính phủ).
-Giảm tài sản nợ.
-Tăng giá trị tài sản nợ (Ví dụ: tăng giá trị thu hồi của các khoản vay
có vấn đề và các tài sản thế chấp)
-Cơ cấu lại các hoạt động có khả năng thu lợi nhuận, bao gồm: xem
xét lại các chiến lợc kinh doanh; cải tiến phơng pháp quản lý và hệ thống kế
toán; đánh giá tín dụng tốt hơn, và nâng cao trình độ thẩm định dự án.
-Các chi phí hoạt động có thể cắt giảm bằng cách cắt giảm chi nhánh
và nhân viên.
Để tăng khả năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng, việc cơ
cấu lại thờng có nghĩa là hoàn thiện cơ chế giám sát và phòng ngừa rủi ro.
Đôi khi các phơng pháp nh cung cấp bảo hiểm tiền gửi và Ngân hàng Trung -
ơng thực hiện chức năng ngời cho vay cuối cùng cũng cần thiết.
Khả năng trả đợc nợ chỉ là bớc đầu tiên. Cải tổ thành công đòi hỏi phải
chế ngự đợc xu hớng tự thoả mãn khi khả năng trả nợ đợc khôi phục; cho
phép các ngân hàng có vấn đề lại tiếp tục cho vay. Kinh nghiệm chỉ ra rằng
các ngân hàng đó chẳng bao lâu sẽ lại rơi vào tình trạng rắc rối nếu họ không
tìm cách cải thiện các điều kiện để khôi phục khả năng thu lợi nhuận. Điều
đó có nghĩa là phải có những thay đổi cần thiết trong quản lý và cắt giảm chi

cho các ngân hàng khôi phục lại cho vay và có khả năng thu lợi.
Chơng II: Hệ thống ngân hàng Việt Nam,
hiện trạng và những cải cách đã thực hiện.
1. Thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ trớc năm 1988, trong nền kinh tế quốc dân chỉ có một Ngân hàng
nhà nớc duy nhất, với hệ thống tổ chức ba cấp trên địa bàn hành chính: cấp
Trung ơng, cấp tỉnh và cấp huyện, thực hiện đồng thời hai chức năng quản lý
và kinh doanh. Thực chất đó là hệ thống ngân hàng một cấp thực hiện nhiệm
vụ của một Ngân hàng Trung ơng vừa thực hiện chức năng của các tổ chức
trung gian tài chính trong nền kinh tế quốc dân.
Ngày 26-3-1988, Chính phủ ban hành Nghị định 53-HĐBT về tổ chức
bộ máy ngân hàng, đa ngân hàng vào thời kỳ đổi mới có tính cách mạng.
Ngân hàng nhà nớc đợc cải tổ thành hệ thống ngân hàng gồm 2 cấp: Ngân
hàng nhà nớc và ngân hàng chuyên doanh trực thuộc là Ngân hàng ngoại th-
ơng Việt Nam chuyên về tài trợ ngoại thơng và quản lý ngoại hối, và Ngân
hàng Đầu t và phát triển Việt Nam chuyên về tài trợ dài hạn cho các dự án hạ
tầng cơ sở và công trình công cộng. Có thêm hai ngân hàng thơng mại quốc
dân đợc thành lập: Ngân hàng công thơng Việt Nam từ Vụ Tín dụng Công và
Thơng của Ngân hàng Nhà nớc và Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam từ Vụ
Tín dụng Nông nghiệp. Với sự ra đời cơ sở pháp lý từ sau năm 1990, dịch vụ
ngân hàng đợc mở rộng bao gồm các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên
doanh, chi nhánh ngân hàng nớc ngoài và các hợp tác xã tín dụng và một số
ngân hàng nhà ở. Cuối năm 1994, ngoài 4 ngân hàng thơng mại quốc doanh,
có 46 ngân hàng cổ phần đang hoạt động, 69 hợp tác xã tín dụng, 3 ngân
hàng liên doanh và 9 ngân hàng nớc ngoài.
Mời năm qua, hệ thống ngân hàng không ngừng đợc củng cố và phát
triển, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của công cuộc đổi mới,
nổi bật là đẩy lùi nạn lạm phát phi mã, ổn định giá trị đồng tiền, ổn định kinh

hàng (tỷ trọng nợ quá hạn của doanh nghiệp Việt Nam trong tổng số nợ quá
hạn đã lên tới mức báo động). Đây là những nguyên nhân chính phải thực
hiện cơ cấu lại các ngân hàng.
Ba là, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động ngân hàng
không đợc coi trọng đúng mức, chất lợng hiệu quả kém, thiếu nghiêm khắc
trong xử lý sai phạm, tạo điều kiện cho những sai phạm nghiêm trọng làm
ảnh hởng xấu đến nền tảng tài chính.
Bốn là, tình trạng thiếu kinh nghiệm quản lý của cán bộ ngân hàng về
quản lý tài chính ngân hàng, quản lý tín dụng, tổ chức còn rất phổ biến có
khoảng 40- 50% nhân viên ngân hàng không đủ khả năng tiếp cận công nghệ
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status