VH-NN - Tiểu thuyết Nguyễn Thế Phương trong bối cảnh
văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX là luận văn cao học của
HV Phan Thị Kiên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học
của PGS. TS. Đoàn Lê Giang. Luận văn được đưa ra bảo vệ ở
Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ Trường ĐH KHXH&NV –
ĐHQG TP.HCM năm 2007 với kết quả Giỏi. VH-NN xin giới
thiệu Mục 2.1. của Luận văn: Tiểu thuyết tâm lý xã hội.
Bước sang đầu thế kỉ XX, văn minh phương Tây bắt đầu ảnh
hưởng sâu rộng vào đời sống tư tưởng, tinh thần của đất
nước trong khi những tư tưởng theo quan điểm Nho giáo
vẫn còn thống trị. Sự đan xen giữa hai luồng tư tưởng mà
dần dần ảnh hưởng từ phương Tây chiếm ưu thế, yếu tố của
cái cũ đang dần bị phá vỡ nhưng yếu tố của cái mới chưa
định hình rõ ràng, nửa ta nửa Tây, vừa cũ vừa mới đã đặt
con người trong những sự lựa chọn khó khăn, bối rối về con
đường đi, về các chuẩn mực đạo đức, tư tưởng. Thêm vào
đó, chính sách cai trị, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
đã đẩy nhanh sự xuất hiện của thành thị, phân hoá giai cấp
trong xã hội, nên kinh tế từ nông nghiệp dân chuyển sang
nền kinh tế hàng hoá, đồng tiền có vai trò quan trọng trong
đời sống của mõi con người…Sự kết hợp của nhiều nguyên
nhân khiến cho đời sống xã hội ngày càng phức tạp.
Không đứng bên lề của cuộc sống, các nhà văn Nam Bộ giai
đoạn đầu thế kỉ XX đã là người thư kí trung thành phản ánh
lại hiện thực đời sống một cách sinh động trong tác phẩm
của họ. Nhân vật và bối cảnh mà các nhà văn Nam Bộ chú ý
tái hiện ở thời kì này là những con người bình thường trong
cuộc đời thường. Nhà văn đã đi sâu vào thế giới tâm hồn
của con người với bao diễn biến tinh vi, phức tạp, có cao
thượng, đẹp đẽ nhưng cũng không ít những xấu xa, đê tiện,
mưu mô, thủ đoạn. Đồng thời, họ cũng dành sự quan tâm
lời rồi lại tráo chác đổi dời” (trang 65) khi ông Lý Vân Đình
có ý định tác hợp Kỹ Loan cho Tứ Hải nhưng Lê Văn Hảo
xuất hiện,ách và toan tính như vậy mà Lê Tứ Hải đã giết
chết ông Lý Vân Đình- chủ gánh hát Góc trời Nam rồi đổ tội
cho Lê Văn Hảo.
Rồi cũng vì yêu Kỷ Loan mà không được đáp lại nên Lê Tứ
Hải đã tìm mọi cách để có được cô, kể cả sử dụng thủ đoạn
là lợi dụng mối quan hệ thân tình để gây sức ép với Kỷ Loan.
Kỷ Loan vốn là một đứa trẻ lưu lạc, được ông bầu gánh hát
Góc trời Nam nuôi dưỡng và cho theo gánh hát, Lê Tứ Hải
đã thuê một người đàn bà giả làm mẹ của Kỷ Loan đến nhận
con. Kỷ Loan không biết mẹ ruột của mình là ai, nay có
người đến nhận là mẹ của cô và nêu đúng đặc điểm nhận
dạng cô nên cô vui mừng chấp nhận. Người đàn bà ấy đã
dùng quyền làm mẹ mà ép buộc cuộc hôn nhân của Kỷ Loan
với Tứ Hải, nhưng trong tiệc cưới, Kỷ Loan được một người
lạ mặt cứu giúp. Tác phẩm dừng lại ớ đó, tác giả hẹn sẽ viết
tiếp cuộc đời của các nhân vật ở Bó hoa lài trong tác phẩm
tiếp theo là Tuý hoa đình.
Còn đây là âm mưu của Trần Văn Được chiếm đoạt Kỷ Loan
“Đêm đầu, cậu đã hỏi lai lịch cô Kỷ Loan rồi, nên cậu quyết
làm sao cho đoá hoa xinh ấy về tay cậu, cậu mới nghe.
Cậu đem món này vật nọ cho cô Kỷ Loan mãi, rồi cậu cậy
mai mối đến hỏi. Cô Kỷ Loan không ưng. Cậu vẫn là người
háo sắc, hễ cậu muốn ai mà không được, thì cậu dùng kế
xảo quyệt đặng làm hư tuyết trong giá sạch người ta. Cậu
nghe ông chủ rạp Lý Vân Đình nói rằng Lê Tứ Hải muốn vầy
duyên cá nước với cô Kỷ Loan, rồi cậu sợ vì có Lê Tứ Hải mà
cô Kỷ Loan không ưng, nên trước hết cậu tính trừ Lê Tứ
Hải.” (trang 7)
-Má làm trái với nhân đạo, rồi má không cho con nói sao?
Con lấy làm lạ lắm: lạ là người…ấy vẫn không phải ngừơi
hung bạo, mà giết người …rồi nào là vợ con, nào là anh
em… chịu biết bao nhiêu nõi bi ai, rưới biết bao nhiêu nước
mắt, vì một cái ý muốn của má. Có phải là má để cái sầu cho
cả giòng họ thân tộc của người ta chăng ? ” (trang 30).
Trong một xã thành thị buổi giao thời, đồng tiền đóng một
vai trò quan trọng trong đời sống của con người. Nhà văn
để cho nhân vật bà mai của Lê Tứ Hải nói chuyện bà bà già
đóng giả mẹ của Kỹ Loan (Bó hoa lài) về vai trò của đồng
tiền: “Về điệu văn nó cũng là dễ xài; tuy nó không bằng mấy
người đỗ tú tài, đậu còm mi, chớ cũng là bực trung vậy! Oi !
Mà đời này chữ nghĩa có dùng bao nhiêu, duy có đồng tiền
là trọng dụng hơn hết. Phương chi mấy ông còm mi, mấy
cậu tú tài, về chuyên làm việc nhà nước, lấy cái bằng cấp
treo trước ngực, ra đi coi tự kêu tự đắc, muốn cho người ta
kêu ông này ông kia, mà không ai thèm kêu, muốn cho
người ta bẩm thưa, mà ai thèm bẩm thưa, chớ như có đồng
tiền, bước ra một bước thì hiếm người bẩm thưa, tôn trọng
để trên đầu, ở thành thị chớ nào phải ở trong làng trong
tổng, có chức phận mà người ta sợ, người ta kính vì.” (trang
172) hay trong Lửa phiền cháy gan, anh hai An nói về vai
trò của đồng tiền: “tôi dám chắc rằng ở đời không có chuyện
gì qua đồng tiền hết. Em giàu thì muốn chuyện gì lại chẳng
được.” ( số 31).
Đồng tiền xuất hiện trong tác phẩm của Nguyễn Thế
Phương có những biểu hiện hai mặt, vừa tích cực vừa tiêu
cực. Nó có thể giúp con người đi đến hạnh phúc như Bạch
Tuyết trong Khối Tình, có thể giúp đỡ người thất nghiệp
như trong Khép cửa phòng thu nhưng nó cũng là nguyên
chiếm đoạt kho báu. Duy Hinh được Mộng Hoa cứu thoát
khỏi hiểm nguy, cuối cùng hai người cũng tìm thấy kho báu
nhưng một lần nữa Huỳnh Long Vân xuất hiện để cướp lấy.
Kho báu bị chìm xuống đáy biển, Huỳnh Long Vân phải trả
giá bằng chính mạng sống của mình, Duy Hinh và Mộng Hoa
tuy không có được ba rương vàng nhưng vẫn không hối tiếc
vì họ đã tìm thấy điều quý giá trong cuộc đời mình đó là
hạnh phúc lứa đôi.
Những âm mưu, toan tính của các nhân vật trong tiểu
thuyết của Nguyễn Thế Phương hoặc vì tình hoặc vì tiền,
điều đó cũng cho người đọc thấy được những thế lực tác
động đến đời sống con người trong cuộc đời thực giai đoạn
này. Nhà văn đã viết trong Bó hoa lài: “Đời này khác hẳn với
đời xưa, hễ muốn điều gì mà không được thì sanh ra mối
oán thù, nhiều khi phải giết lẫn nhau mới vui lòng” (trang
72). Miêu tả con người cá nhân trong cuộc đời thường, nhà
văn không né tránh những mặt khuất lấp, u tối trong tâm
hồn con người và nhà văn chỉ ra chính những âm mưu, thủ
đoạn ấy là nguyên nhân gây nên bao số phận đau thương,
bao gia đình tan nát cho những người lương thiện.
Phải chăng hiện thực về sự suy đồi trong đời sống đạo đức
của con người đang là một hiện tượng phổ biến trong xã
hội, nó có ở khắp nơi, với nhiều biểu hiện, những toan tính
vị kỉ, những tính cách đê tiện? Cùng thời với Nguyễn Thế
Phương, nhà văn Nguyễn Chánh Sắt cũng đã phơi bày
những hiện thực đen tối trong tâm hồn con người với
những âm mưu xấu xa. Trong Nghĩa hiệp kì duyên, Lâm Trí
Viễn bày kế cho Đào Phi Đáng đóng giả làm con gái của
Trịnh Kế Xương để chiếm đoạt gia tài: “Vả chăng ông đó là
người giàu có lớn mà chỉ có một mình nàng đó là con mà
ôi, mẹ ghẻ xưa nay mấy người được hiền lành chơn chánh.
Cha tôi có sự nghiệp cũng nhiều, dì tôi lại tóm thâu hết nên
một hôm kia dì toan mướn người giết cha tôi…
Ngọc Điệp nói tới đây khóc ngất. Ong Bang an ủi mà rằng:
-Rồi sao nữa? Giết cách nào? Quan trên có buộc tội chăng?
Ngọc Điệp gạt lụy, kể chuyện rằng:
-Giết một cách tàn nhẫn, xưa nay dễ mấy người sâu độc
-Giết cách nào?
-Cha tôi ham săn bắn, dì tôi cho người đi theo lên rừng sâu
rồi thì giữa chốn vắng vẻ quạnh hiu, tư bề cây cao bóng mát,
nào có một ai lai vãng chốn này nên kẻ vô lương kia chĩa
súng vào đầu cha tôi mà bắn.
-Thế thì ngừơi ấy bị xử chém sao?
-Không, nó ở ngoài vòng pháp luật.
-Sao vậy?
-Viện lẽ rằng người ấy là bạn, đi săn gặp việc rủi ro là việc
thường nên quan trên tha bổng.
-Uý, trời ơi…
- Chuyện vậy chỉ có một tôi biết mà thôi. Dì tôi hưởng hết
gia tài của cha tôi để lại nhưng hoàng thiên đâu có phụ
người ngay. Cha tôi có để lại chút ngôn trên phòng quan
Nôbe.
-Chút ngôn để lại gia tài lại cho cô phải chăng?
-Phải, nhưng tôi không được hưởng.
-Sao lạ vậy?
-Trong chút ngôn cha tôi dặn rằng sau khi cha tôi măn
phần thì gia tài sự nghiệp này để lại tôi nhưng bao giờ tôi
lớn lên, kết hôn với một nhà ngôn luận có tên tuổi.
Ong Bang chặn lại mà rằng:
-Thiếu gì mấy ông chủ bút đó. Vô số chủ bút ở Sài Gòn mà.
ấy làm thoả mãn người đọc và cũng phần nào khơi gợi ở
người đọc hãy lựa chọn lối sống lương thiện, nhân hậu giữa
người với người. Đây cũng là tiếng nói đạo đức cất lên từ
những tác phẩm văn học đầu thế kỉ XX, văn học đâu chỉ là là
phương tiện để giải trí mà nó còn góp phần bối đắp đời
sống tình cảm, tâm hồn, tư tưởng cho con người.
Trong cuộc đời thường, số phận của mõi con người thật nhỏ
bé. Số phận ấy càng đáng thương hơn nữa khi đó là những
con người đã trưởng thành từ những đứa trẻ lưu lạc, xa rời
vòng tay mẹ cha chăm sóc. Đây là một đối tượng mới xuất
hiện trong văn học thế kỉ XX mà Nguyễn Thế Phương và
những nhà văn cùng thời như Phú Đức với Hoàn Ngọc An
trong Châu về hiệp phố, Tuý Hoa trong Non tình biển bạc…
đã tái hiện chân thực và miêu tả với cái nhìn nhân hậu, yêu
thương.
Vì lưu lạc mẹ cha, Kỷ Loan (Bó hoa lài) khao khát kiếm tìm
mẹ cha mà bị Lê Tứ Hải lợi dụng thuê người đóng giả mẹ
nàng, âm mưu dùng tình mẫu tử để ép buộc nàng lấy Lê Tứ
Hải, Kỷ Loan rơi vào cảnh ngộ buộc lòng phải lấy người mà
nàng không yêu. Vì thất lạc mẹ cha nên Đào Hoa (Giọt lệ má
hồng) được dì tư Mầu nhận làm con, trái ngang thay khi dì
tư Mầu chính là kẻ đã chiếm đoạt gia tài của mẹ cha nàng,
đẩy nhà nàng vào cảnh tan nát, chia lìa. Không chỉ có vậy, dì
tư Mầu ép gả nàng cho Bạch Mai Xuân trong khi lòng nàng
nặng tình voi Tấn Phước. Nàng chịu nhiều đau buồn, uất ức
mà trở nên điên loạn và cuối cùng là cái chết thương tâm,
đó là hoàn cảnh của Nhiêu Tôn (Bó hoa lài) “Qua vốn không
cha không mẹ hồi mới lên ba tuổi, qua ở đậu với chủ của em
mà lo việc đèn sách” (trang 87)
Nhưng bi kịch nhất cho số phận những đứa trẻ lưu lạc có lẽ
sang đầu thế kỉ XX, ý thức cá nhân biểu hiện ở diện mạo
mới, nó đã nâng lên thành chủ nghĩa cá nhân khi nó giúp
cho con người phát huy tính tự do, đòi hỏi được giải phóng,
được tôn trọng về nhân cách. Ơ đầu thế kỉ XX, một trong
những biểu hiện của ý thức cá nhân trong văn học là quan
niệm mới về tình yêu và hôn nhân.
Chính vì vậy mà đề tài tình yêu chiếm một vị trí quan trọng
trong nội dung tâm lý xã hội ở các tiểu thuyết của Nguyễn
Thế Phương- nhà văn chịu nhiều ảnh hưởng từ phương Tây.
Nhà văn thường gọi tác phẩm của mình hoặc là Ai tình tiểu
thuyết (Vô oan trái, Chén thuốc độc),Kiêm thời ái tình tiểu
thuyết (Bó hoa lài), Ly kỳ tiểu thuyết (Giọt lệ má hồng)….Các
nhân vật mà nhà văn xây dựng trong tác phẩm, cả nam lẫn
nữ điều bị chi phối nhiều bởi chữ tình, vì tình mà phải dấn
thân vào những cảnh ngộ khác nhau, có hạnh phúc nhưng
cũng nhiều đau khổ, trái ngang, kể cả họ sẵn sàng hy sinh
tính mạng cho người mà họ yêu thương, sống chết cũng vì
tình. Trong các tác phẩm, tác giả hay có lời bàn về chữ tình :
tình là độc địa, trăm biến vạn hoá cũng vì tình, bước chân
vào đường tình là bước vào cái lao tù sầu thảm nhưng mấy
ai trong cuộc đời này tránh khỏi đường tình aí. Chẳng hạn
như trong Di hận ngàn thu, ông viết “Con người phải chịu
lận đận lao đao, ấy cũng vì chút tình bận bịu. Ai đã vì tình
thì trăm ngàn việc gì cũng phải bỏ” (Công luận báo số
2579), hay trong Bó hoa lài, tác giả quan niệm “Ai tình, ái
tình. Sống chết cũng là ái tình, ôi! Ai tình có cái điển lực gì
mạnh thế? Cứu người sống cũng được, trăm ngàn sự khó dễ
trên đời cũng vì tình mà ra; ôi! Tình, tình là độc địa. Ta nên
xa lánh nó kẻo chết mà không hay.” (trang 130) hay “ấy
cũng vì tình, trăm ngàn sự độc địa, trăm ngàn chuyện dở
muốn kết thân tình với cô nhưng cô đều từ chối vì cô nghĩ
“Quan thầy, đốc công, nhiều người cậy mai nói ta, song ta
vẫn không ưa, vì ta thấy người ta giàu, người ta ỷ thế,
người ta muốn cưới ta là tại đồng tiền của người ta, chớ
nào phải người ta có tình với ta” (trang 6). Người mà Kỷ
Loan sẽ lựa chọn là “Ta quyết lựa một người bất hạng, sang
hèn giàu nghèo, miễn ta khắc ý ta thương là đủ”. (trang 6)
Mỗi đêm biểu diễn xong, Kỷ Loan đều nhận được biết bao
nhiêu là quà tặng đắt tiền của các công tử giàu có, nhưng cô
chú ý đến một món quà tặng đặc biệt là một bông hoa lài
của Lê Văn Hảo gởi tặng. Lê Văn Hảo giấu mặt thật, chỉ xuất
hiện mang mặt nạ và xưng tên là Tố Tâm. Cũng từ đây Tố
Tâm nhiều phen cứu giúp Kỹ Loan thoát khỏi bàn tay chiếm
đoạt của Trần Văn Được, cũng như nhiều lần cứu Lê Tứ Hải
khỏi cái chết do Trần Văn Được hãm hại. Kỹ Loan cảm mến
người có lòng nghĩa hiệp nên nặng lòng thương mến Lê Văn
Hảo. Nàng tự nhủ với lòng về một người ý trung nhân “Bấy
lâu nay ta quyết trao thân này cho một người nào tài hơn
ta, biết trọng nhơn nghĩa, biết mến danh dự là đủ. Ta không
cần giàu sang muôn hộ, Tố Tâm có biết chăng? Lê Tứ Hải là
người tài hơn ta xong người vẫn còn mến đồng tiền, vì vậy
mà ta không ưng” (trang 14).
Người Nam Bộ thời kì này đã có thói quen đọc tiểu thuyết
dưới hình thức đăng tải nhiều kì trên báo[2]. Chính vì vậy,
để thu hút sự chú ý của độc giả và phần nào thoả mãn nhu
cầu giải trí của họ, nhà văn cũng hay xây dựng những câu
chuyện tình gay cấn, ly kì (Khép cửa phòng thu, Giọt lệ má
hồng), những mối tình éo le, trắc trở (Chén thuốc độc, Di
hận ngàn thu) chuyện tình tay ba hay chuyện tình giữa cô
gái đẹp với nhân vật kỳ bí mang mặt nạ (Khép của phòng
đó cho thấy sự đan xen, dung hoà giữa cái mới và cái cũ
trong tiểu thuyết của các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỉ XX mà
Nguyễn Thế Phương không phải là một ngoại lệ.
Người phụ nữ thường được xây dựng trong tác phẩm văn
học cả ở văn học dân gian và văn học viết, cả ở văn học
trung đại và văn học hiện đại. Họ là hình ảnh phải chịu
nhiều đau khổ, bất công trong cuộc sống không chỉ dưới
thời phong kiến mà ngay trong thời điểm xã hội có những
bứơc chuyển sang hiện đại. Nỗi đau khổ mà họ phải gánh
chịu là những nỗi khổ tâm về tinh thần, những đau khổ
trong tình yêu, họ là nạn nhân của cường quyền, đồng tiền
trong gia đình và cả ngoaì xã hội. Đó là Hồng Hoa và Hồng
Nhi (Giọt lệ má hồng), Hoàng Minh Nguyệt, Thanh Hương
(Di hận ngàn thu) bị ép buộc về duyên nợ bởi thế lực của
đồng tiền và quyền lực; số phận long đong đầy nước mắt
của Bích Liên (Giọt lệ má hồng ) bị người hãm hại làm cho
tan nhà nát cửa, thất lạc con, chồng chết rồi con cũng chết;
bị ngừơi vu oan, đặt tiếng xấu và bị chia rẻ vợ chồng như
Ngọc Chất (Đất bằng sấm dậy); người phụ nữ cũng là nạn
nhân của những cạm bẫy trong cuộc sống, bị ép buộc vào
lầu xanh như Vân (Chén thuốc độc), hay đã trở thành những
cô gái giang hồ như Bạch Tuyết (Khối tình), cô ba Tràng
(Lửa phiền cháy gan).
Trong Cô ba Trà của Nguyễn Ý Bửu, số phận của người phụ
nữ bị đẩy đến bước đường cùng, phải vào chốn thanh lâu
khó có thể sống một cụôc đời bình thường trong xã hội. Sau
khoảng thời gian sống phóng túng, làm cho bao nhiêu
chàng trai phải điên đảo vì mình, cô ba Trà bị mắc bệnh,
thuốc thang không khỏi phải bán hết gia tài, cuối cùng chết
trong cảnh nghèo khó, nhận sự bố thí của nhà nước. Đoạn
quốc dân, ngoài ra con không có ý nguyện gì khác nữa”
(trang 173)
Con người bình thường của cuộc sống đời thường như các
nhân vật được miêu tả trong tiểu thuyết của Nguyễn Thế
Phương mang nhiều bi kịch, đau thương. Cũng chính trong
những trái ngang, bi kịch, những thử thách gian truân của
cuộc đời mà con người mới thể hiện được bản chất thật của
mình, có kẻ lọc lừa, giả dối, mưu mô, thủ đoạn, hám danh
hám lợi nhưng cũng có người ngay thẳng, thuỷ chung, hiếu
nghĩa vẹn toàn. Chính vì Nguyễn Thế Phương đi sâu khai
thác cuộc sống đời tư của con người với những chi tiết cụ
thể trong những cảnh đời riêng, giải quyết mối quan hệ
giữa con người với con người như cha mẹ với con cái, vợ
chồng, tình yêu lứa đôi, mối quan hệ giữa con người với
đồng tiền và quyền lực, Nguyễn Thế Phương đã thực sự
miêu tả cuộc sống trong như nó đang tồn tại, đang vận
động. Đây là một hiện thực mới mà nhà văn và những người
cùng thời với ông đã mở đường để hình thành nên hướng đi
cho văn học Việt Nam hiện đại và tiểu thuyết của ông đã có
những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại.
Là một trí thức Tây học nhưng vốn xuất thân từ phương
Đông, ảnh hưởng nhiều từ nền tảng Nho giáo, trong buổi
giao thời ở những năm đầu thế kỉ XX, cái nhìn của nhà văn
trong sự dung hoà giữa yếu tố mới và cũ. Những tư tưởng
tự do, tiến bộ của phương Tây vẫn còn xen lẫn với quan
điểm trung, hiếu, tiết, nghĩa của Nho giáo. Tôn Thất Dụng
đã nhận xét về tính phức tạp của nội dung văn học Nam Bộ
những năm đầu thế kỉ XX như sau: “khi đi vào phân tích
các tác phẩm tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ thời
kì này chúng ta sẽ thấy biên bị giao động giữa cái mới và cái