tóm tắt sự nghiệp văn học của đông hồ - Pdf 24

2.1.4. Văn học Hà Tiên (1970)
Công trình Văn học Hà Tiên (Chiêu Anh Các Hà Tiên
thập cảnh khúc vịnh) là một tập tư liệu đầy đủ và công phu
về văn chương Chiêu Anh Các mà Đông Hồ đã tuyển chọn
trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy cho sinh viên lớp
chứng chỉ Văn chương quốc âm miền Nam tại Đại học Văn
khoa Sài Gòn. Có thể ghi nhận đây là sự nối tiếp và hoàn
thiện công việc khảo cứu còn dang dở về thi xã Chiêu Anh
Các và Mạc Thiên Tích mà Đông Hồ đã từng thực hiện từ
năm 1926 với Hà Tiên Mạc thị sử. Văn học Hà Tiên được
nhà xuất bản Quỳnh Lâm ấn hành lần đầu năm 1970, nhà
xuất bản Văn nghệ TP. HCM tái bản năm 1999.
Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích được người đời biết đến là
những vị công thần đầu tiên có công khai phá và gây dựng
vùng đất phía Tây Nam của Tổ quốc. Mạc Cửu sinh năm
1655 tại phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc),
không chịu thuần phục nhà Thanh nên cùng gia quyến rời
quê hương tìm đến vùng đất mới sinh cơ lập nghiệp. Ông đã
tổ chức lưu dân khai phá, mở mang đất đai, biến Mang
Khảm (Hà Tiên) thành một tiểu vương quốc trù phú. Nhưng
danh tiếng của Mạc Thiên Tích còn vang xa hơn người cha
của mình, không chỉ về tài thao lược phát triển kinh tế,
ngoại giao, quốc phòng, mà quan trọng hơn, ông còn phát
triển cả về mặt văn hóa. Mạc Thiên Tích là chủ soái của Tao
đàn Chiêu Anh Các, một thi xã đầu tiên ở miền Nam. Thơ
văn của Chiêu Anh Các được người đời biết đến, công đầu
thuộc về Lê Quý Đôn. Ông đã giới thiệu thơ Mạc Thiên Tích
và Chiêu Anh Các bằng sách chữ Hán, sau khi đã đọc và phải
thốt lên rằng: “Không thể nói ở hải ngoại xa xôi không có
văn chương vậy” (Phủ biên tạp lục, 1776). Đóng góp văn
hóa của Tao đàn Chiêu Anh Các còn được ghi nhận trong

song ông vẫn còn nghi ngờ và thú nhận việc này một cách
thành thật: “Mười bài sao lục ra sau đây truyền lại đã lâu,
không chắc có khỏi tam sao thất bản, duyệt giả có tường
hơn đính chính lại cho”. Tuy nhiên, “suốt mấy chục năm sau
đó, không có ai đính chính, và cũng không ai cãi. Người ta
yên chí mười bài ngâm song thất lục bát là của ông Thiên
Tích, cho mãi đến ngày ông Vũ Văn Kính đặt vấn đề về bản
chữ Nôm của Trần Đình Quang. Thế có nghĩa là, thời xưa
chưa ai đặt thành vấn đề nghi ngờ các câu thơ kia cả”[57,
126]. Từ khi công bố 10 bài thơ Nôm đầu tiên của Mạc
Thiên Tích cho đến suốt mấy chục năm về sau này, Đông Hồ
vẫn tiếp tục khảo cứu thêm về Hà Tiên, thu thập tất cả sách
báo, tư liệu Việt, Hán, Pháp viết về Hà Tiên, ghi chú kỹ lưỡng
để có thể giới thiệu thơ văn của nhóm Chiêu Anh Các và Mạc
Thiên Tích một cách trọn vẹn nhất. Một phần trong các tài
liệu nghiên cứu của ông đã được sử dụng trong cuốn Văn
học Hà Tiên này.
Công trình Văn học Hà Tiên của Đông Hồ nếu tính cả
lời tựa do GS. Lê Đình Kỵ viết thì có tổng cộng 11 đề mục.
Trong đó, có thể thấy rõ có 2 phần chính như sau:
Phần thứ nhất: từ đề mục đánh số I tới số X, chủ yếu
là những bài nghiên cứu của Đông Hồ về thơ văn Chiêu Anh
Các và Mạc Thiên Tích. Bên cạnh đó còn có các bài viết bổ
sung của GS. Lê Đình Kỵ, nữ sĩ Mộng Tuyết và GS. Giản Chi
xung quanh các vấn đề nghiên cứu của Đông Hồ.
Phần thứ hai: “Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh”, Đông
Hồ đăng tải và trình bày cặn kẽ trọn vẹn 10 bài thơ Nôm, 10
bài thơ Hán và 10 bài ngâm khúc của Mạc Thiên Tích về 10
cảnh đẹp của Hà Tiên. Đồng thời, ở mỗi bài Hán thi đó, Đông
Hồ lại tự dịch ra một bản Nôm của mình.

Bính Thìn (1736), có thầy Trần Hoài Thủy từ Việt Đông vượt
biển đến đây. Ta đãi làm thượng tân. Mỗi khi hoa sớm trăng
đêm, ngâm vịnh chẳng thôi. Nhân, đem Hà Tiên thập cảnh
trình cho tri kỷ. Thầy Trần dựng cờ Tao Đàn, mở hội phong
nhã. Sau đó, thầy Trần trở thuyền về Châu Giang (tức Quảng
Châu, tỉnh lỵ Quảng Đông) đưa ra làng thơ, nhờ được chư
công chẳng bỏ. Khi đề vịnh xong góp thành tập cho ta, bèn
cho khắc bản”[52, 70]. Qua đó, chúng ta có thể hiểu thêm
rằng: rất nhiều người trong Chiêu Anh Các ở tận bên Trung
Quốc, chưa từng đặt chân đến đất Hà Tiên, nhờ Trần Tử
Hoài mang 10 bài thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích về Trung
Quốc và làm thơ họa lại, sau đó gửi trả lại cho Mạc Thiên
Tích khắc in.
Tìm hiểu thành phần và nguyên quán của các thi
nhân trong Chiêu Anh Các, Đông Hồ đã khảo sát khá tinh
tường. Ông đưa ra một số văn liệu và sử liệu về phương diện
này: Sách Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn có 25
người Trung Quốc và 6 người Việt. Sách Kiến văn tiểu lục
cũng do Lê Quý Đôn biên soạn (1777) có 25 người Trung
Quốc, 6 người Việt Nam, chưa kể Mạc Thiên Tích. Kiến văn
tiểu lục còn đưa thêm danh sách 32 vị thi nhân đã họa tập
thơ vịnh cảnh bốn mùa ở Thụ Đức hiên của Mạc Thiên Tích
có nhan đề là Thụ Đức hiên tứ cảnh. Lê Quý Đôn nói rõ tập
thơ này do Phương Thu Bạch đề tựa và đã được khắc in.
Như vậy Lê Quý Đôn chỉ nêu tên tác giả có thơ họa là 32 +32
= 64 người. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài
Đức thì ghi cẩn thận hơn, có 15 văn nhân tỉnh Phúc Kiến, 13
người Quảng Đông, 4 người phủ Triệu Phong, 2 người phủ
Gia Định, 2 người phủ Quy Nhơn, tổng cộng là 36 vị. Như
vậy, Trung Quốc có 28 người, Việt Nam có 8 người, trong số

cũng thành công nhất của thi phái này. Cuốn Minh bột di
ngư do Trịnh Hoài Đức khắc bản mà nhà nghiên cứu Ca Văn
Thỉnh đã sưu tầm được và nhắc tới trước năm 1945 nay
cũng không còn được thấy. Tác phẩm của Chiêu Anh Các còn
có tập thơ xướng họa Thụ Đức hiên tứ cảnh giữa Mạc Thiên
Tích và 32 tác giả, được Lê Quý Đôn nhắc đến trong Kiến
văn tiểu lục. Cuối cùng, dựa vào kết quả sưu tầm được trong
nhân dân, Đông Hồ khẳng định chỉ có một tập Hà Tiên thập
vịnh bằng Hán thi và một tập Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh
bằng thơ Nôm của nhóm Chiêu Anh Các là còn lưu truyền
trọn vẹn. Gần đây, các nhà nghiên cứu tìm thấy một áng thơ
Nôm khá đặc sắc nữa viết về một thắng cảnh Hà Tiên có tựa
đề là Lư Khê vãn. Tác phẩm này do Trương Vĩnh Ký có công
sưu tầm nhưng chưa công bố. Các nhà nghiên cứu trước đó
cũng chưa từng nhắc đến, và ngay cả Đông Hồ cũng không
có Lư Khê vãn. Sau khi tìm hiểu xuất xứ và phân tích tác
phẩm, Nguyễn Thị Thanh Xuân khẳng định “Lư Khê vãn là
áng thơ Nôm của Hà Tiên do một nho sĩ người Việt đã từng
trải qua bước đường hoạn lộ, có điều kiện sống gắn bó với
thiên nhiên và đời sống sinh hoạt của dân gian sáng tác. Tác
giả Lư Khê vãn có thể là người đã tham gia thi xã Chiêu Anh
Các ở Hà Tiên” [69, 258].
Về thơ Hán, khởi thủy, Mạc Thiên Tích thủ xướng 10
bài. Mỗi vị trong số 31 vị trong Chiêu Anh Các họa vần, mỗi
vị 10 bài, tổng cộng là 310 bài. Tổng số cả xướng cả họa là
320 bài, góp lại thành tập, khắc bản ấn hành tại Hà Tiên
năm 1737 do Mạc Thiên Tích đề tự và hai vị văn nhân khác
đề hai bài bạt. Đến 18 năm sau, năm 1755, Nguyễn Cư Trinh
vào Nam, giao thiệp với họ Mạc ở Hà Tiên, họa thêm 10 bài
nữa. Nhờ đó mà ngày nay chúng ta có tất cả 330 bài Hà

Quảng Tuân trên tạp chí Khoa học xã hội TP. HCM số 12, 13,
15, 17…về vấn đề thơ Nôm của Mạc Thiên Tích cho thấy vấn
đề này chưa bao giờ bị lãng quên [57, 115]. Nhà nghiên cứu
Trương Minh Đạt đã dùng sự hiểu biết của mình và các tư
liệu chứng minh khám phá của Đông Hồ về thơ Nôm Mạc
Thiên Tích là đúng. “Cuộc ráp nối sít sao các mảnh vỡ, đặt
lại trật tự các bài thơ, do Đông Hồ thực hiện, làm nổi lên giá
trị không chối cãi của một bộ phận văn chương chữ Nôm có
tính cổ điển và độc đáo ở nửa phần phía Nam của đất
nước”[57, 116]. Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, Mạc
Thiên Tích đích thực là tác giả của 10 bài vịnh Hà Tiên thập
cảnh bằng thơ Nôm.
Bên cạnh việc giới thiệu về nhóm Chiêu Anh Các và
thơ văn của họ, trong phần này, Đông Hồ còn đi sâu khảo
cứu mối tương quan giữa thơ Hán và thơ Nôm của thi phái
Chiêu Anh Các, tác phẩm và thi phẩm Hán cũng như tác
phẩm và thi phẩm Nôm của Tao đàn này. Ở mỗi bài nghiên
cứu, tác giả đều trích dẫn ra vài bài thơ làm ví dụ minh họa.
Chẳng hạn, nói về thơ chữ Hán của Chiêu Anh Các, Đông Hồ
trích bài Bình San điệp thúy và Lư Khê nhàn điếu, sau đó tự
dịch nghĩa xuôi của bài thơ và dịch cả bài thơ Hán đó ra
tiếng Việt một cách khá thành công. Còn khi khảo cứu thơ
Nôm, tác giả một lần nữa khẳng định: “điều đáng cho chúng
ta thán phục, đáng cho ta ca tụng từ trước tới nay, và mãi
mãi về sau, là thi phái Chiêu Anh Các Hà Tiên đã để lại cho
chúng ta một áng văn chương Nôm giá trị không ít”.[52,
152] Điều đó cho thấy “tiếng Việt quả có một sức quyến rũ
phi thường”. Theo đó, Đông Hồ giới thiệu đôi nét về nội
dung và nghệ thuật của tập thơ Nôm này. Về hình thức thơ:
“Nó là một khúc vịnh thể lục bát gián thất, chia làm 10

Bình San, Thạch Động là rường cột
Sừng sững muôn năm cũng để dành
(Hà Tiên thập cảnh tổng vịnh - Mạc Thiên
Tích)
Ở mỗi bài khúc vịnh và bài thơ luật Nôm, Đông Hồ
đều chú thích rõ từng từ, giải nghĩa cặn kẽ từng chữ một,
người đọc chỉ cần đọc phần chú giải này là có thể hiểu được
ý nghĩa bài thơ. Không chỉ giảng nghĩa, Đông Hồ còn bình
tổng quát ở mỗi bài khúc vịnh và bình riêng bài thơ luật
Nôm, giúp độc giả hiểu hơn về ý nghĩa của bài thơ cũng như
nghệ thuật tài hoa của người sáng tác. Sau mỗi bài bình
giảng đó, ông còn đính kèm phụ lục một bài thơ chữ Hán
(như vậy phần phụ lục có tổng cộng 10 bài thơ chữ Hán),
nguyên xướng của cùng một tác giả Mạc Thiên Tích để so
sánh điệu và ý nghĩa với bài họa Nôm. Đông Hồ cũng không
quên dịch nghĩa và dịch thơ Nôm từng bài thơ chữ Hán đó.
Đây là việc làm rất công phu và tỉ mỉ, giúp chúng ta có một
cái nhìn hệ thống và toàn diện về 10 bài khúc vịnh, 10 bài
thơ Nôm và 10 bài thơ Hán của Mạc Thiên Tích. Có thể nói,
đóng góp lớn nhất của Đông Hồ trong phần này chính là ở
những bản dịch Nôm 10 bài thơ Hán của Mạc Thiên Tích. Cả
phần dịch nghĩa và dịch thơ, ông đều dịch rất sát nghĩa,
ngôn từ thanh nhã, nói chung khá thành công. Về phần này,
Nguyễn Hiến Lê có viết: “Tôi nhận thấy công trình khảo cứu
công phu, cách trình bày sáng sủa – giọng ông ở đây là
giọng một giáo sư kiêm một nghệ sĩ. Ông rất thận trọng
trong phần chú giải, nhất là trong những bài dịch thơ chữ
Hán của Mạc Thiên Tích. Ông dịch sát mà giữ đúng cả thể
lẫn vần trong nguyên tác, như bài Lộc trĩ thôn cư nguyên
tác là thất ngôn Đường luật và dùng những vần tinh, thinh,

nguyên tác lắm. Theo đó, ông cũng thử đưa ra cách dịch
khác của mình. Hoài Anh không phủ nhận cách dịch của
Đông Hồ, tuy nhiên “chúng tôi quan niệm rằng nếu gò gẫm
dịch thành thơ mà làm sai lệch ý nguyên tác thì thà cứ dịch
nghĩa còn hơn”. Đồng thời ông cũng thẳng thắn thừa nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status