Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
--------------------------------
NGUYỄN THUÝ QUỲNH
BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ NGHIỆP VĂN
CHƢƠNG CỦA NAM XƢƠNG - NGUYỄN CÁT NGẠC
(Ở HAI THỂ LOẠI: KỊCH BẢN VĂN HỌC VÀ TRUYỆN NGẮN)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS – TS Trần Thị Việt Trung THÁI NGUYÊN – 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
MỤC LỤC Phần mở đầu:…………………………………………………………………..2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với hai kịch bản nổi tiếng một thời (giai đoạn đầu thế kỷ XX) là Ông
Tây An Nam và Chàng Ngốc, trong mấy chục năm qua, Nam Xương - Nguyễn
Cát Ngạc đã được các nhà nghiên cứu văn học ở Việt Nam khẳng định là một
trong những tác giả đầu tiên tham gia xây dựng nền móng của nền kịch nói
Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, ngoài sự khẳng định trên, cho đến nay, sự
nghiệp của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chưa được nghiên cứu một cách
hệ thống và đầy đủ, cho dù sau khi hy sinh ở miền Nam vào năm 1958, ông
đã để lại một di sản văn chương khá phong phú. Trên thực tế, ngoài việc giới
thiệu khái quát tên tuổi của Nam Xương trong một số công trình nghiên cứu
về văn học và sân khấu Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, tên tuổi ông ít
được nhắc tới, và các nhà nghiên cứu cũng thường xem xét ông trong tư cách
tác giả kịch bản. Nhưng cuộc đời và sự nghiệp của Nam Xương - Nguyễn Cát
Ngạc không chỉ có vậy. Với lòng yêu nước sâu sắc, ngay từ đầu, ông đã dấn
thân vào phong trào yêu nước, rồi gia nhập đội ngũ của những người cộng
sản, ông đã hai lần nhận án tử hình của Nhật và Pháp, và cuối cùng ông đã hy
sinh ở miền Nam năm 1958 với cương vị là chiến sĩ tình báo của cách mạng.
Trên bước đường hoạt động ấy, Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc vẫn tiếp tục
sáng tác trên nhiều thể loại, từ kịch bản tới tiểu thuyết, truyện ngắn, một vài
thể loại khác và bộ phận chủ yếu của di sản này vẫn chưa được công bố. Vì
thế, giới nghiên cứu vẫn chưa có điều kiện tiếp xúc và khảo sát toàn bộ những
sáng tác của ông, và đó là lý do giải thích vì sao sự nghiệp văn chương của
ông lại chỉ được nghiên cứu một cách hạn hẹp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
khá sớm và để lại dấu ấn qua hai kịch bản Ông Tây An Nam và Chàng Ngốc
(trong đó, "ông Tây An Nam" đã trở thành một kiểu thành ngữ của người Việt
Nam khi đề cập tới những người Việt vọng ngoại, bắt chước phương Tây một
cách lố lăng), nhưng do nhiều biến cố của cuộc đời ông mà sự nghiệp của
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chưa được giới nghiên cứu chú ý. Hơn nữa,
do sáng tác của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc chủ yếu công bố trong vùng
tạm chiếm khi ông hoạt động công khai trong nội thành Hà Nội và sau đó vào
miền Nam hoạt động với danh nghĩa trí thức, nên việc sưu tầm tác phẩm của
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc là rất khó khăn. Theo khảo sát bước đầu của
chúng tôi, cho tới nay đã có những công trình nghiên cứu sau đề cập đến tác
giả Nam Xương :
1. Bước đầu tìm hiểu Lịch sử kịch nói Việt Nam trước cách mạng tháng
Tám (Phan Kế Hoành - Huỳnh Lý, NXB Văn hoá, H.1978)
2. Từ điển Văn học, mục từ Nam Xương (bản in năm 1984)
3. Từ điển Văn học (bộ mới), mục từ Nam Xương (bản in năm 2005)
4. Văn học Việt Nam thế kỷ XX, GS Phan Cự Đệ chủ biên, NXB Giáo
dục, H.2004 (phần về kịch bản do PGS TS Phan Trọng Thưởng thực hiện).
5. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 23, GS Đinh Gia Khánh chủ biên,
NXB Khoa học xã hội, H.1997.
6. Kịch nói Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, GS Hà Minh Đức chủ biên,
NXB Sân khấu, H.1997.
7. Bài báo Về tác giả vở kịch nói Ông Tây An Nam (Nguyễn Hòa, Tạp
chí Nghiên cứu văn học - Viện Văn học, số 7 năm 2001)
Trong các nguồn tư liệu này, thì ở 2 bộ từ điển chỉ giới thiệu về cuộc đời
và sự nghiệp của Nam Xương một cách khá sơ lược. Trong Từ điển Văn học,
mục từ Nam Xương, Trần Hữu Tá giới thiệu: "Nam Xương tham gia cách
mạng từ tháng Tám năm 1945, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
1948, làm công tác bí mật ở các thành phố Nam Định và Hà Nội. 1954, ông
kịch trường, trừ mấy vở của Nguyễn Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Tương Huyền
và nhất là của Nam Xương” [13, tr. 44].
Bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà viết: “Bằng hai vở
kịch nói Ông Tây An Nam (1930) và Chàng Ngốc (1931), Nam Xương -
Nguyễn Cát Ngạc đã cùng với Vi Huyền Đắc, Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu
Kim…trở thành những nghệ sĩ đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của
nghệ thuật kịch nói Việt Nam. Dù chỉ là đôi dòng, nhưng tên tuổi của Nam
Xương - Nguyễn Cát Ngạc thường được nhắc tới trong các công trình
nghiên cứu lịch sử văn học, nghiên cứu lịch sử sân khấu Việt Nam trong
những thập kỷ đầu của thế kỷ XX.”, “Có thể nói không quá lời rằng
Nguyễn Cát Ngạc, là một trong số ít các tác giả đầu tiên có những sáng tác
văn học về một gia đoạn lịch sử cách chúng ta rất xa là thời đại Hùng
Vương - một thời đại mà sử liệu hiện chỉ còn chủ yếu trong truyền
thuyết…Cho đến nay, truyện ngắn của Nguyễn Cát Ngạc chưa được khảo
sát kỹ lưỡng. Có thể nhận xét, đây là những truyện ngắn được viết khá
công phu, được tổ chức theo lối kịch bản, có thắt nút cởi nút, đặc biệt tác
giả thường khai thác một cách tinh tế những tình huống có khả năng khắc
họa hình ảnh lố bịch của những kẻ bán nước hại dân. ”[14]
Có thể thấy rằng: hầu hết các công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới
dừng ở những đánh giá ngắn gọn và khái quát về Nam Xương - Nguyễn
Cát Ngạc, chủ yếu ở vai trò một tác giả kịch bản giai đoạn đầu thế kỷ XX
trong một tổng thể chung của cả nền văn học hoặc riêng lĩnh vực kịch nói;
và mới chỉ có một bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà viết về
cuộc đời và sự nghiệp của Nam Xương. Toàn bộ sự nghiệp văn học của
Nam Xương nói chung và phần văn xuôi nói riêng chưa được khảo sát,
nghiên cứu. Bài báo của nhà phê bình văn học Nguyễn Hoà - tuy đã đề
cập tới phần văn xuôi của ông, nhưng cũng mới chỉ dừng ở việc đưa ra
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
những nhận định ban đầu. Chưa có công trình nào nghiên cứu sự nghiệp
- Phương pháp nghiên cứu hệ thống
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương.
Chương I: Vài nét về đời sống xã hội - văn hóa Việt Nam giai đoạn
đầu thế kỷ XX và tác giả Nam Xƣơng.
Chương II. Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật kịch bản của
Nam Xƣơng.
Chƣơng III. Một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật truyện ngắn
của Nam Xƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
có mặt của nó lại phá vỡ và gây nên những biến động lớn trong xã hội Việt
Nam vốn hàng nghìn năm “bế quan toả cảng” dưới chế độ phong kiến kiểu
phương Đông.
Để bóc lột sức lao động và vơ vét tài nguyên ở nước thuộc địa, người
Pháp mở mang giao thông, thị trường buôn bán, phát triển nền kinh tế hàng
hoá thống nhất trong cả nước. Kèm theo sự phát triển ấy là việc mở rộng các
đô thị cũ, hình thành các khu công nghiệp mới “kiểu phương Tây”, rồi các
tỉnh lỵ, phủ, huyện lỵ được xây dựng như những trung tâm kinh tế - văn hóa
địa phương để phục vụ hoạt động, sinh hoạt của tầng lớp “Tây thuộc địa”, là
trung tâm hành chính để cai trị, đồng thời là nơi sơ chế, buôn bán và tiêu thụ,
sản phẩm có được trong quá trình bóc lột tài nguyên và tận dụng nguồn nhân
công rẻ mạt.
Quá trình đô thị hoá dẫn đến sự phá vỡ kết cấu xã hội. Hệ thống các giai
tầng đã có tuổi đời hàng nghìn năm, được tổ chức theo mô hình “tứ dân” (sĩ -
nông - công - thương ) dần dần bị phá vỡ do trong xã hội xuất hiện những dấu
hiệu sơ khai của quan hệ sản xuất kiểu mới mà nền kinh tế tư bản từ nước
Pháp mang lại. Những ngành nghề chưa từng có trong lịch sử dân tộc như
thông ngôn, ký lục, ký giả,... cho đến thợ cơ khí, thợ in ấn, phu mỏ,… lần lượt
xuất hiện, và tình trạng này cũng góp phần làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp
trong xã hội. Đông đảo nông dân bị bần cùng hoá do mất ruộng đất phải tha
hương ra các đô thị kiếm sống, hình thành một tầng lớp tiểu tư sản nghèo
ngày càng tăng mãi lên trong các đô thị; một số khác không nhiều trở thành
lực lượng phu mỏ, phu đồn điền, từng bước hình thành nên những bộ phận
đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Và do đó, cuộc xâm lăng của
người Pháp đã đẩy tới sự thoát thai ra khỏi cách thức tổ chức xã hội kiểu cũ,
từng bước làm nên một xã hội Việt Nam kiểu mới với sự xuất hiện của một số
tầng lớp xã hội mới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Về sinh hoạt xã hội, đã diễn ra một tình trạng phân cực rõ rệt đến mức
sự “lột xác” trong nhận thức của thế hệ người Việt Nam đầu tiên tiếp xúc với
khoa học - văn minh phương Tây và cũng cho thấy tính chất quyết định trong
tiến trình lịch sử dân tộc ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cũng
trong thời kỳ này, chủ nghĩa Mác - Lê nin, tinh hoa rực rỡ nhất của nhân loại
đã được tiếp thu, kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào cách mạng
của giai cấp công nhân còn non trẻ đã trở thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho
sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng Cộng sản Việt
Nam - lực lượng tiên phong lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Chúng tôi trình bày vài nét về bối cảnh xã hội – văn hoá Việt Nam đầu
thế kỷ XX để làm cơ sở cho việc nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của nhà
văn Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc, bởi đó là những điều kiện khách quan
đã tác động mạnh mẽ, và là đối tượng phản ánh trong tác phẩm của ông, cũng
như góp phần hình thành tư tưởng và thế giới nghệ thuật của ông.
1.1.2. Quá trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX và những ảnh hưởng trực tiếp đến nhà văn Nam Xương - Nguyễn Cát
Ngạc.
Sự ra đời và diễn biến của nền kinh tế - xã hội – văn hoá kiểu mới trên
đây đã tác động sâu sắc đã tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực vật chất - tinh
thần của xã hội, và tất nhiên đối với văn học, nó cũng đặt ra các yêu cầu
khách quan cho tiến trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam. Đồng thời, tự
thân đời sống văn học cũng đứng trước yêu cầu phải đổi mới theo xu hướng
hiện đại, bởi sự tham góp của các thành tố quan trọng về kinh tế - xã hội - văn
hóa đã có vai trò như “bà đỡ” cho tiến trình hiện đại hoá văn học. Và trên
thực tế, nhiều biến động văn hóa - xã hội đã diễn ra và cũng là điều kiện để
văn học phát triển.
Trước hết là sự thay thế dần chữ Hán, chữ Nôm bằng chữ quốc ngữ.
Thời kỳ này, chữ quốc ngữ thật sự đã trở thành một chiếc cầu nối giữa văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
hóa Việt với văn hóa phương Tây. Có thể xem chữ việc sử dụng chữ quốc
hình thành một thế hệ nhà văn mới, có tư tưởng mới mà lõi cốt là tư tưởng
dân chủ và ý thức cá nhân; có phương pháp sáng tác mới mà cơ bản là các
phương pháp sáng tác từ phương Tây du nhập vào. Họ có thể là bất cứ ai,
thuộc bất cứ tầng lớp nào trong xã hội: nhà nho, trí thức Tây học, viên chức
nhà nước, nhà báo, thầy giáo trường huyện, học sinh, sinh viên…và nhiều
người trong số họ dần dần trở thành nhà văn chuyên nghiệp, khai sinh một
loại hình nghề nghiệp mới cho xã hội.
Gắn với người viết văn, công chúng người đọc cũng thay đổi. Với sự phổ
biến của chữ quốc ngữ, và sự phát triển của các phương tiện truyền thông,
người đọc trong xã hội hiện đại không còn ở trong tình trạng có sự phân biệt
(dù tương đối) như trong xã hội trung đại - chỉ có người đọc dân gian và
người đọc bác học, tức tầng lớp trí thức phong kiến. Người đọc trở nên đông
đảo và phong phú, với đủ các tầng lớp xã hội. Họ có thể là tầng lớp tiểu tư sản
và tư sản mới, là những trí thức Tây học, viên chức nhà nước, sinh viên, cũng
có thể là những học trò trường huyện, hay các bà, các cô nội trợ...Sự tiếp nhận
tác phẩm văn chương hiện đại của họ đã diễn ra dễ dàng hơn, nhanh chóng
hơn nhờ những vốn liếng tri thức họ tiếp nhận từ cuộc tiếp biến văn hoá Đông
- Tây, giúp cho họ trở thành những thế hệ độc giả đầu tiên của văn học hiện
đại Việt Nam.
Và một tiến trình hiện đại hoá văn học đã diễn ra, với những giá trị nội
dung và nghệ thuật mới, chưa từng xuất hiện trong lịch sử văn học nước nhà.
Văn học Việt Nam vượt qua lối xướng hoạ ngâm vịnh truyền thống, bước đầu
thoát ra khỏi những chế định văn học thời Trung đại để đặt chân vào một lãnh
địa hoàn toàn mới, đặt văn chương vào cõi đời thế tục, đi tìm sinh khí cho văn
chương từ cuộc sống, qua tác phẩm chuyển tải ý chí và suy tư về thời cuộc.
Các tác giả Nguyễn Trọng Quản, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Lê Hoằng
Mưu, Đặng Trần Phất, Tản Đà …được xem là dấu nối giữa văn học cận đại và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
văn học hiện đại ở Việt Nam, trong đó Tản Đà đã tiến một bước khá dài trên
Tử, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Bính,Chế
Lan Viên…cùng những Hai đứa trẻ,Chí Phèo, Bỉ vỏ,Dế mèn phiêu lưu ký,
Bước đường cùng, Số đỏ, Lửa thiêng, Thơ thơ, Điêu tàn,Vang bóng một thời,
Chân quê,… đã in đậm dấu ấn, trở thành những “cột mốc” trong văn học Việt
Nam suốt một thời đại.
Thành công của cách mạng tháng Tám 1945, và sau đó là cuộc chiến đấu
gian khổ trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp đã tác động rất lớn
tới tâm thế xã hội - công dân của trí thức, nghệ sĩ Việt Nam nói chung và nhà
văn Việt Nam nói riêng. Xu thế của lịch sử, ý thức về lòng tự hào, tự trọng
dân tộc, cùng sự giác ngộ về lý tưởng đã thôi thúc đa số nhà văn nhà thơ
thành danh từ trước cách mạng đứng vào đội ngũ của nhân dân, dùng ngòi bút
như một công cụ phụng sự nhân dân. Một nền văn học cách mạng và kháng
chiến đã ra đời theo bước chân của những văn nghệ sĩ - chiến sĩ trên các nẻo
đường trường kỳ kháng chiến. Thực tế cho thấy, sự lựa chọn của các nhà thơ
đã làm nên Thơ mới (như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên…),
hoặc các nhà văn từng là “chủ soái” của văn chương hiện thực phê phán (như
Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao…) đã trực tiếp góp phần quan
trọng để tạo dựng nền văn học Việt Nam kiểu mới còn non trẻ. Đứng vào
hàng ngũ cách mạng, họ trực tiếp tham gia để làm nên một cao trào sáng tác
văn học hướng về chủ nghĩa yêu nước, về tinh thần dân tộc, về sự hy sinh của
mọi người cho sự nghiệp lớn… Khi nhà văn xác định phải gắn bó sự nghiệp
sáng tác với sự nghiệp dân tộc thì không có cách nào khác, họ phải tham gia
vào với sự nghiệp đó thông qua hoạt động nghề nghiệp.
Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc cũng là một nhà văn - chiến sĩ, một
người cầm bút xuất phát từ lập trường yêu nước để đến với lý tưởng cách
mạng của giai cấp vô sản. Gia nhập làng văn nghệ từ những năm hai mươi,
khi còn là một sinh viên trường Cao đẳng Công chính, ông là người đã có mặt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
ngay từ giai đoạn nền văn học dân tộc chuyển mình hoà nhập cùng thời đại,
Tây An Nam và Chàng Ngốc, bài giới thiệu dài nhất không quá 300 chữ.
Chúng tôi dẫn ra như vậy để minh chứng rằng, thông tin về cuộc đời và
sự nghiệp của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc còn được rất ít người biết tới
và có đôi chỗ không thống nhất. Theo khảo cứu của chúng tôi, tiểu sử Nam
Xương - Nguyễn Cát Ngạc có thể tóm tắt như sau:
Nam Xương tên thật là Nguyễn Cát Ngạc, sinh năm 1905 tại quê hương
ông ở xã Phù Khê, huyện Từ Sơn - Bắc Ninh. Trong gia tộc, ông là anh em
ruột với ông thân sinh nhà sử học Nguyễn Lương Bích, và là chú họ đồng chí
Nguyễn Văn Cừ - một trong những Tổng bí thư đầu tiên của Đảng ta. Học hết
tiểu học ở quê nhà, Nguyễn Cát Ngạc ra Hà Nội học tiếp trung học tại Trường
Bưởi. Ở Hà Nội trong thời kỳ các tư tưởng và phong trào yêu nước nở rộ,
chàng thanh niên Nguyễn Cát Ngạc nhanh chóng tiếp thu và hăng hái tham
gia các hoạt động để bộc lộ lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc của mình.
Năm 1926, tại lễ tang Phan Chu Trinh, Nguyễn Cát Ngạc tham gia rất tích
cực, vì vậy ông bị thực dân Pháp bắt giam một thời gian. Ra tù, ông tiếp tục đi
học và học xong Cao đẳng với bằng Tham tá công chính.Vừa làm nghề công
chính, vừa sáng tác, vừa tham gia các phong trào yêu nước, ông là một trong
những thành viên đầu tiên của nhóm Nam Đồng Thư xã - tổ chức tiền thân
của Việt Nam Quốc dân đảng, cùng với Trần Huy Liệu, Nguyễn Thái Học…
Sau khi Quốc dân đảng thất bại trong khởi nghĩa Yên Bái tháng 2 năm
1930, nhận thấy con đường của Quốc dân đảng là không có tương lai, Nguyễn
Cát Ngạc tìm đến với Việt Minh và tham gia hoạt động cách mạng. Vì vậy khi
phát xít Nhật vào Đông Dương, chúng đã bắt giam và tuyên án tử hình ông.
Nhưng ngay khi đó, Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cứu thoát
và về hoạt động tại Nam Định. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (1946) ông
lên chiến khu. Năm 1948 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Cũng năm này, thực hiện nhiệm vụ được tổ chức giao, dưới danh nghĩa ''trí
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
thức dinh tê'', Nguyễn Cát Ngạc trở về Hà Nội, vừa hoạt động công khai bằng
truy điệu Nguyễn Cát Ngạc được Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân
Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, bên cạnh có mặt của đại diện đơn vị và gia
quyến, còn có các văn nghệ sĩ cùng thời với ông như Văn Cao, Nguyễn Xuân
Sanh… Phần mộ ông hiện ở Nghĩa trang Liệt sĩ TP Hồ Chí Minh.
1.2.2. Quá trình sáng tác của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc
Theo những nghiên cứu (có thể còn chưa đầy đủ) của chúng tôi, quá trình
sáng tác của Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc có thể chia ra thành 2 giai đoạn:
trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
1.2.2.1 Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Tắm mình trong không khí duy tân và xu hướng đổi mới, hiện đại hoá
nền văn học nước nhà thời kỳ văn học giao thời, Nguyễn Cát Ngạc khi ấy là
sinh viên trường Cao đẳng Công chính, đã có điều kiện tiếp xúc với những
tinh hoa của văn học thế giới được truyền bá bởi hội đoàn, nhà xuất bản, tạp
chí canh tân lúc bấy giờ, như hội Khai trí tiến đức, An Nam tạp chí, Nam
Phong tạp chí,... Ra trường, vừa làm nghề công chính trong bộ máy hành
chính của Nhà nước Pháp thuôc, vừa tham gia cách mạng, ông vừa viết báo
và say mê nghiên cứu văn chương, đặc biệt là nghiên cứu về kịch phương
Tây. Ở vào giai đoạn sân khấu kịch nói Việt Nam đã nỗ lực hiện đại hoá sân
khấu truyền thống, đang tìm cách thoát khỏi sự phụ thuộc sâu sắc vào kịch
bản dịch và hoạt động của sân khấu phương Tây, Nam Xương là một trong
những tác giả đầu tiên viết kịch bản văn học Việt Nam, tiếp theo Vũ Đình
Long, Nguyễn Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Tương Huyền... Ông đã viết các vở
kịch Ông Tây An Nam và Chàng Ngốc, là những vở kịch thành công đầu tiên
của kịch nói hiện đại Việt Nam. Hai vở kịch Ông Tây An Nam (hài kịch 3 hồi
- viết xong tháng 8 năm 1930, Nam ký xuất bản năm 1931) và Chàng Ngốc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
(hài kịch 5 hồi - 1930) của Nam Xương được báo chí bình luận và khen ngợi.
Năm 1934, 1935, ban kịch Bắc kỳ (La cène Tonkinoise - ban kịch nổi tiếng ở
Hà Nội, hoạt động trong 2 năm 1934-1934; không phải là tên một vở kịch của
Đầu năm 1954, Nguyễn Cát Ngạc bị lộ, thực dân Pháp bắt và giam ông.
Khi Hiệp định đình chiến được ký kết năm 1954, ông được quân đội đón về
Hà Nam, vài tháng sau, dưới danh nghĩa “trí thức di cư”, ông vào miền Nam
tiếp tục hoạt động. Trong khoảng 4 năm cho đến khi ông mất (1958), ông vừa
hoạt động công khai vừa viết văn, làm báo, viết sử (bộ sách Sử ký Việt Nam,
bút danh Nguyễn Trúc Thanh, gồm ba quyển, trình bày lịch sử dân tộc từ thời
cổ đại đến năm 1765, in tại NXB Liên hiệp ở Sài Gòn vào năm 1956). Theo di
cảo, thời gian này ông sống ở nhiều nơi, cộng tác với khá nhiều báo chí,
hưởng ứng các phong trào ái hữu, như Hội truyền bá quốc ngữ. Nhưng phần
tác phẩm còn lưu trữ được lại không nhiều. Đáng chú ý là hầu hết di cảo đều
ghi thời gian sáng tác là năm 1955, kèm theo các địa danh Bạc Liêu, Phú
Quốc, Cần Thơ. Theo những gì còn lại, cho thấy khoảng thời gian này ông
viết rất khoẻ, rất nhiều, không chỉ truyện ngắn mà còn sáng tác kịch, viết sách
giáo khoa lịch sử. Với sức viết ấy và tâm huyết của ông với văn chương,
chúng tôi nghi ngờ rằng, những gì còn lại chưa hẳn đã là tất cả sáng tác của
ông, mà có lẽ vì hoàn cảnh phức tạp và việc hoạt động bí mật trong lòng địch,
nên các sáng tác của ông trong khoảng hai mươi năm kể từ khi Ông Tây An
Nam ra đời năm 1931, đã không được lưu giữ đầy đủ.
Một minh chứng cho sự nghi ngờ của chúng tôi là: Ở cuốn Bụi phồn hoa
do NXB Quê hương xuất bản tại Hà Nội năm 1950 có trang giới thiệu sách
“cùng một tác giả” (Nguyễn Cát Ngạc), ghi: “ Đã xuất bản: Bách Việt -
chuyện dài lịch sử, 14$00; Bụi phồn hoa - Tập chuyện ngắn, 6$00. Sắp xuất
bản: Hùng Vương - Chuyện dài lịch sử; Tây Thi – Bi kịch năm hồi; Hai người
đàn bà - Tập chuyện ngắn. Phát hành tại Nhà xuất bản Quê hương, 38C phố
Trưng Vương (Rollandes) – Hà Nội”. Chúng tôi đã sưu tầm được bản in hoặc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
bản thảo của các tác phẩm Bách Việt, Bụi phồn hoa, Hùng Vương,Tây Thi,
nhưng bản thảo tập Hai người đàn bà thì chưa tìm được. Trong số di cảo của
ông mà chúng tôi đang nghiên cứu cũng không có truyện ngắn nào tên là Hai
Nguyễn Trúc Thanh, Nguyễn Cát Ngạc, bao gồm: Hội đồng vĩ nhân, Khách
quan, Vô sỉ, Tình chia đôi ngả, Vẽ mặt văn khôi, Vô liêm sỉ, Có chí thì nên,
Giao Lương Sơn, Một tấm lòng vàng, Nước Trivitri, Truyện giải trí, Đánh
ghen trong mồ, Tình trong biên giới, Kiếp bình bồng, Hai lần ly biệt, Tình
quê, Yêu nghệ thuật, Hai nhân vật tỉnh Bắc Giang, Lưu Bình - Dương Lễ.
Cũng về thể loại truyện ngắn, nhưng viết về đề tài lịch sử, ông ghi là
“truyện dã sử", trong di cảo của ông còn có các tác phẩm: Hoàng Trừu,
Huyền Trân công chúa, Nguyễn Thị Lộ, Trên chòi Khâm Thiên, Tráng sĩ Phù
Đổng.
Ngoài 19 truyện trên được ông ghi là “truyện ngắn”, Nguyễn Cát Ngạc
còn viết một số tiểu phẩm ngắn cho một chuyên mục riêng được ông đặt tên
là Kiến văn chí dị, gồm các bài: Giống Waltrabar, Nước tự do, Ma Hàng
Giầy, Cái chết của ông lang Doanh, Ma Hàng Cỏ, Cây đèn Khổng Minh.
Những tiểu phẩm này cũng được ông viết theo kết cấu của truyện ngắn.
1.2.3.3. Về tiểu thuyết:
Nguyễn Cát Ngạc đã cho in hai cuốn tiểu thuyết viết theo lối chương hồi
là Bách Việt và Hùng Vương tại NXB Quê hương (Hà Nội năm 1950). Hiện
nay chưa tìm thấy bản in của cuốn Hùng Vương, chỉ còn lại bản thảo.
1.2.3.4. Về sử ký:
Ông có bộ sách Sử ký Việt Nam (bút danh Nguyễn Trúc Thanh) gồm ba
quyển, trình bày lịch sử dân tộc từ thời cổ đại đến năm 1765, bộ sách này
được “soạn theo chương trình Ban Trung học của Bộ Quốc gia Giáo dục”
(chính quyền miền Nam cũ) đã được in tại NXB Liên hiệp ở Sài Gòn vào năm
1956.