TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
Giảng viên: ThS Ngô Thị Hải Xuân
Nhóm: 12B
Thành viên:
- Nguyễn Thị Phước An
- Nguyễn Hoàng Lê Khanh
- Lê Thị Ánh Nguyệt
- Nguyễn Thị Thanh Thảo
- Lý Sơn
- Nguyễn Thị Thương Thoa
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 1/22
MỤC LỤC
I. MỘT SỐ TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1. Tranh chấp trong hợp đồng vận tải
a. Tóm tắt vụ việc.....................................................................3
b. Quyết định của Trọng tài......................................................4
c. Bình luận vụ án....................................................................5
d. Bài học kinh nghiệm............................................................5
2. Tranh chấp trong hợp đồng bảo hiểm
a. Tóm tắt vụ việc.....................................................................6
b. Kết quả điều tra....................................................................6
c. Bình luận vụ việc..................................................................7
d. Bài học kinh nghiệm..........................................................11
3. Tranh chấp trong hợp đồng thanh toán
a. Tóm tắt vụ việc....................................................................12
b. Quyết định của Trọng tài.....................................................13
c. Bài học kinh nghiệm............................................................15
4. Tranh chấp trong hợp đồng mua bán
a. Tóm tắt vụ việc....................................................................16
- Nhưng ngày hôm sau và các ngày tiếp theo tàu không làm hàng được,
mặc dù Chủ tàu đã thúc giục Người thuê tàu rất nhiều lần về việc này.
Nguyên nhân là trong số 5.200 MT hàng chỉ có một lô hàng nhỏ 300
MT có đủ điều kiện làm thủ tục xuất khẩu. Số hàng còn lại (khoản
4.900T) không đáp ứng được yêu cầu của Nhà chức trách địa phương
nên Người giao hàng không làm được các thủ tục cần thiết để hàng
được phép xếp lên tàu.
Người thuê tàu không xếp hàng lên tàu, không liên lạc gì với Chủ tàu
mà giữ thái độ im lặng và không trả lời. Chủ tàu rất lúng túng không
biết phải làm gì khi tàu phải chờ đợi quá lâu mà không biết đến khi
nào mới xếp hàng.
- Sau 14 ngày trôi qua, vào ngày 27/02/1992, thời gian làm hàng thoả
thuận trong Hợp đồng thuê tàu kết thúc. Chủ tàu gửi Thông báo cho
Người thuê tàu tuyên bố rằng nếu trong ngày 27/02/1992, Người thuê
tàu vẫn giữ thái độ im lặng, không trả lời cho Chủ tàu về việc xếp
hàng, thì Chủ tàu coi là Người thuê tàu vi phạm Hợp đồng thuê tàu và
Chủ tàu có toàn quyền điều tàu rời Cảng Rangoon đi nơi khác.
- Ngày hôm sau, 28/02/1992, Chủ tàu lại gửi thông báo cho Người thuê
tàu tuyên bố rằng sự im lặng của Người thuê tàu được coi là sự đồng ý
rằng Người thuê tàu không thể thực hiện được Hợp đồng thuê tàu, vì
vậy Chủ tàu có toàn quyền điều tàu rời Cảng Rangoon. người thuê tàu
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 3/22
vẫn cố tình giữ thái độ im lặng.
Để hạn chế tổn thất, Chủ tàu buộc phải tìm hàng khác cho tàu và ngày
12/3/1992 đã ký được Hợp đồng chở phân bón từ Lhokseumawe,
Indonesia về Việt Nam.
- Khởi kiện:
+ Nguyên đơn:
Theo quy định của điều khoản giải quyết tranh chấp thoả thuận trong
Hợp đồng thuê tàu, Chủ tàu đã kiện Người thuê tàu ra trọng tài Hồng
Do không có hàng để xếp lên tàu thì Người thuê tàu không thể thực
hiện được Hợp đồng thuê tàu đã ký với Chủ tàu. Vì vậy, Hội đồng
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 4/22
Trọng tài quyết định buộc Người thuê tàu bồi thường thiệt hại cho
Chủ tàu do không thực hiện Hợp đồng thuê tàu đã ký.
c. Bình luận vụ án:
- Trong vụ án được cung cấp trên đây, các dữ liệu về tên tuổi và một số
thông tin chưa đầy đủ. Chủ yếu đây là các tình huống để thảo luận,
bàn bạc và rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp.
- Về dữ liệu của vụ án, không thấy đề cập cụ thể về điều khoản giải
quyết tranh chấp và luật áp dụng. Khi đưa ra trọng tài Hong Kong giải
quyết tranh chấp, trọng tài đã cho rằng không thể xem sự im lặng
trong trường hợp này là sự đồng ý của Bị đơn. Do không có dữ liệu về
luật căn cứ, nên nhóm chưa thể xác định chính xác căn cứ pháp lý cụ
thể về việc phán quyết này. Về việc quy định này, nếu cáp dụng luật
Việt Nam thì căn cứ điều 404 quy định: “Hợp đồng dân sự cũng xem
như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị
vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao
kết ». Như vậy, trong trường hợp có thỏa thuận thì sự im lặng mới
được quy kết là đồng ý.
- Rõ ràng trong trường hợp này, Bị đơn có lỗi hoàn toàn và yếu lý. Việc
im lặng của Bị đơn là hành động không hợp tác và gây khó dễ cho
Nguyên đơn.
- Ngoài ra, việc im lặng trong giao thương ở một số quốc gia được xem
là sự đồng ý, do đó, các doanh nghiệp khi ký hợp đồng cần phải xem
xét các quy định của quốc gia của đối tác hoặc lựa chọn luật áp dụng
hoặc các điều ước quốc tế phổ biến để hạn chế rủi ro khi thực hiện hợp
đồng.
d. Bài học kinh nghiệm:
- Đối với chủ tàu:
chuyến cho số tôm đông lạnh đó tại Công ty bảo hiểm PJICO.
Chuyến tàu chở tôm (tàu Hanjin) rời cảng Sài Gòn (cảng đầu tiên)
vào ngày 01/11/2002 đi Hamburg nhưng mãi đến ngày 11/11/2002
đại diện cho chủ hàng mới đến PJICO để mua bảo hiểm cho lô
hàng. Sau đó, chủ hàng yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm này bồi
thường thiệt hại số hàng đó do tàu Hanjin bị hoả hoạn ở Srilanka.
PJICO đã bồi thường cho chủ hàng 3,8 tỷ đồng.
b. Kết quả điều tra của cơ quan chức năng:
- Bà Phan Hồng Thu, 45 tuổi, trú tại 215 B6 Nguyễn Văn Hưởng,
Thảo Điền, quận 2, Tp.HCM là Giám đốc Công ty TNHH Việt
Thái Phong. Bà Thu có chồng là ông Nguyễn Thượng Hải, Giám
đốc kỹ thuật Công ty TAIFUN GmbH Thụy Sĩ.
- Ngày 9/10/2002, Công ty PIZOLER Thụy Sĩ ký hợp đồng mua 2 lô
hàng tôm biển của Công ty Sông Tiền, vận chuyển từ cảng
Tp.HCM đến cảng Hamburg (Đức). Về phần thanh toán, Công ty
PIZOLER sẽ trả tiền lô hàng này cho Công ty Sông Tiền qua Công
ty TAIFUN do ông Nguyễn Thượng Hải làm đại diện.
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 6/22
- Thực hiện hợp đồng bán tôm, ngày 6/11/2002, lô hàng 14.209,4kg
tôm đã từ cảng Tp.HCM đến Hamburg an toàn. Nhưng lô hàng
15.840kg tôm rời cảng Tp.HCM ngày 1/11/2002 thì gặp nạn. Khi
đến Singapore, hàng được chuyển sang tàu Hanjini Pennsylvania
vào 8h30 (giờ Việt Nam) ngày 11/11/2002, khi tàu đến Colombo
thì bị cháy khiến lô tôm này bị thiệt hại hoàn toàn.
- Thế nhưng, 14h cùng ngày (tức là gần 6 tiếng sau khi tàu bị cháy),
bà Phan Hồng Thu mới đề nghị một nhân viên của Công ty Sông
Tiền đến Chi nhánh PJICO tại Tp.HCM để mua bảo hiểm cho 2 lô
tôm (trong đó có một lô đã bị cháy). Cho mãi đến chiều ngày
18/11/2002 (tức là một tuần sau khi tàu bị cháy), nhân viên Công
ty Sông Tiền mới nộp phí bảo hiểm. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị
Thời hạn hiểu theo nghĩa chung nhất là một khoảng thời gian nhất
định được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Hay nói cách
khác, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định bởi hai thời điểm là
thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn. Thời hạn có thể do
các bên xác thỏa thuận, có thể do pháp luật quy định. Thời hạn có hiệu
lực của một hợp đồng bảo hiểm cũng tuân theo nguyên lý chung đó nên là
một khoảng thời gian được xác định theo hai thời điểm sau:
- Thời điểm bắt đầu (là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo
hiểm)
- Điều 405 Bộ luật dân sự và Luật kinh doanh bảo hiểm: thời điểm
có hiệu của một hợp đồng bảo hiểm là thời điểm bên sau cùng ký
vào văn bản được coi là bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm. Tuỳ
theo từng trường hợp, thời điểm có hiệu lực của mỗi một hợp đồng
bảo hiểm cụ thể được xác định một cách khác nhau. Nhưng tóm lại,
thời điểm bắt đầu có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm thông thường
được xác định tại thời điểm người tham gia bảo hiểm đã nộp đủ phí
bảo hiểm đầu tiên và nhận được giấy chứng nhận bảo hiểm.
Như vậy ở đây, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm là
ngày 18/11/2002 (ngày đóng tiền bảo hiểm)
- Thời điểm kết thúc (là thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
bảo hiểm). Hợp đồng bảo hiểm được chấm dứt theo các trường hợp
được quy định tại Điều 424 của Bộ luật dân sự 2005 và Điều 23
của Luật Kinh doanh bảo hiểm, bao gồm:
- Hợp đồng được hoàn thành
- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng.
- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi hợp đồng bị huỷ bỏ.
Thời hạn bảo hiểm:
- Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian được xác định theo hợp
đồng bảo hiểm mà trong khoảng thời gian đó, doanh nghiệp bảo