Website: Email : Tel (:
0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong bất kì chế độ xã hội nào dù là xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ
nghĩa thì giáo dục luôn là hoạt động quan trọng đối với sự phát triển kinh-tế xã
hội của một quốc gia. Bởi lẽ giáo dục là nền tảng văn hoá, là cơ sở hình thành
nhân cách và nâng cao ý thức của mỗi con người trong xã hội. Cùng với truyền
thống dân tộc, giáo dục thúc đẩy lòng nhiệt huyết của mỗi thế hệ đối với quốc
gia dân tộc.
Con người là vốn quý, là tài sản vô giá của mỗi quốc gia và tri thức khoa
học là “ sản phẩm đặc biệt” của quá trình học hỏi và trau dồi kiến thức trên ghế
nhà trường. Trong văn kiện hội nghị lần thứ II đã nêu: “lấy phát triển giáo dục
làm yếu tố cơ bản- là khâu đột phá ”. Và đúng vậy, xã hội phát triển đồng
nghĩa với tri thức con người được nâng lên một bước.
Trong số những biện pháp phát triển toàn diện một quốc gia thì ngân sách
nhà nước được coi là công cụ đặc biệt giúp nhà nước thực hiện các chức năng
của giáo dục thông qua việc thu- chi Ngân sách. Và một trong những khoản chi
nói trên, chi cho giáo dục nói riêng trên địa bàn Tiên Du đã đóng góp một phần
lớn vào những thành công trên địa bàn Tiên Du.
Hơn thế nữa, đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định:” phải thực sự coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu” “ đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển “,
một lần nữa dự thảo đại hội IX vừa qua đảng ta đã khẳng địmh:” từng bước phát
triển nền kinh tế tri thức ”. Điều này chứng tỏ Đảng và Nhà nước đã khẳng
định: Đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển,
tạo điều kiện cho giáo dục đi trước một bước so với mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội.
Sự nghiệp Giáo dục - một sự nghiệp to lớn khó khăn gian khổ của chúng
ta hôm nay đang đứng trước những vận hội và những thử thách lớn trong khi
NSNN còn eo hẹp, nhu cầu chi cho giáo dục lại cực kỳ lớn và tăng lên theo thời
Tài liệu được tải từ website
1
Tài liệu được tải từ website
2
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
PHẦN THỨ NHẤT
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VÀ VAI TRÒ CỦA CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CHO HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1.1. Giáo dục nền tảng văn hóa và nhân cách con người Việt Nam.
Trải qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam với
truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất đã không chịu lùi bước trước bất kỳ
một thế lực thù địch nào. Chúng ta đứng lên bảo vệ tổ quốc, bảo vệ độc lập tự
chủ bảo vệ cái quyền mà “thượng đế đã trao cho mỗi người chúng ta”. Không
chịu lùi bước cam tâm làm nô lệ cho kẻ thù đó chính là truyền thống lâu đời của
nhân dân ta - con người Việt Nam - trải qua bao nhiêu những biến cố thăng trầm
của lịch sử, người Việt Nam chúng ta luôn canh cánh bên lòng được ” sánh vai
cùng các cường quốc năm châu “, ham học hỏi, khám phá và gìn giữ những gì
mà cha ông ta đã truyền lại cho mỗi thế hệ con người Việt nam. Sự nối tiếp và
lưu giữ ấy dường như không bao giờ dừng lại mà nó đã và đang tiếp tục truyền
từ đời này sang đời khác. Và phải chăng đó là vốn quí, là ”tài sản vô giá” cho
mỗi thế hệ người Việt Nam chúng ta.
Tiếp thu và gìn giữ những “cổ vật văn hoá” ấy có sự đóng góp không nhỏ
của ngành giáo dục quốc gia. Giáo dục đã giúp lưu giữ cái hay cái đẹp của
những thế hệ trước, giúp thế hệ sau rút ra những bài học kinh nghiệm cho những
bước tiến sau này, và dần sự nối tiếp ấy đã phát triển và trở thành không thể
thiếu trong tâm thức mỗi thế hệ con ngươì Việt Nam. Và phải chăng vì điều ấy
Tài liệu được tải từ website
3
Website: Email : Tel (:
4
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
nước phát triển giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài”.
Một quốc gia có “dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh” khi quốc gia
ấy mọi người được giáo dục một cách toàn diện.
Đúng vậy, để đạt được mục tiêu tốt đẹp ấy, thiết nghĩ chúng ta phải tìm
cho ra được động lực của sự phát triển? Đó không phải là cái gì khác mà chính
là tri thức, mà giáo dục đem chi thức đến cho mọi người. Các nước trên thế giới
đều ý thức được rằng, giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội mà thực sự còn là
đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội và nâng cao múc sống nhân
dân. Như chúng ta đã biết tri thức nhân loại là vô tận và khả năng con người chi
phối sự nảy mầm cuả ”trồi non tri thức “ấy. đưa khoa học kĩ thuật vào thực tế
cuộc sống đó là những gì mà loài người chúng ta mong muốn. Lấy tri thức làm
quan điểm đồng thời làm nhân sinh quan cho các quyết định mang tính toàn cục
cuả quốc gia nhà nước ta không ngừng nâng cao công tác quản lí, đưa giáo
viên lên một vị trí mới nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược con người mà nghị
quyết Trung Ương IV đề ra là : cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là
quốc sách hàng đầu đó là động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản đảm bảo thực
hiện thắng lợi những mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước, phải
coi đầu tư cho giáo dục là một hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện
cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội,
huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây
dựng giáo dục quốc dân dưới sự quản lí của nhà nước. Đó là một chiến lược có
tầm quan trọng bậc nhất trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Một đất nước có nền công nghiệp phát triển tất yếu phải có những con
người có đầy đủ tri thức, trình độ để phát minh sáng chế áp dụng khoa học kĩ
thuật vào sống và sản xuất. Các nước chậm phát triển muốn phát triển phải hết
sức quan tâm đến giáo dục. Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn
mới giúp các nước thuộc thế giơí thứ 3 thoát khỏi sự nô lệ về kinh tế và công
và cho phép, là toàn bộ các tài khoản phản ánh tất cả các nguồn thu và tất cả các
nhiệm vụ chi của Nhà nước trong một năm dân sự: là toàn bộ các tài khoản phản
ánh hạn mức kinh phí của một bộ trong một năm dân sự”.
Tài liệu được tải từ website
6
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
Các nước Trung Quốc và Nga cũng thiên về quan niệm NSNN là kế
hoạch thu, chi của Nhà nước trong một năm: Đại từ điển kinh tế thị trường
(Trung Quốc) định nghĩa ”NSNN là kế hôạch thu chi tài chính hàng năm của
nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định”. Đại từ điển bách khoa toàn
thư (Liên Xô, 1971) định nghĩa ”ngân sáhc là bảng liệtkê các khoản thu và chi
bằng tiền của Nhà nước được lập ra cho một thời gian nhất định Bản chất của
NSNN từng nước được xác định bởi chế độ kinh tế xã hội, bản chất và chức
năng của Nhà nước”.
Riêng ở nước ta cũng có ít nhất 4 định nghĩa khác nhau vễ ngân sách nhà
nước. Đại từ điển tiéng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên (1998) định nghĩa ngân
sách là ”tổng số tiền thu và chi trong một thời gian nhất định của nhà nước, của
xí nghiệp hoặc của một cá nhân”.
Giáo trình Lý thuyết tài chính (2000) của Học Viện Tài Chính Kế Toán hà
Nội ghi rõ: ”NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử NSNN được đặc
trưng bằng sự vận động gắn liền với quá trình tạo lập , sử dụng quỹ tiền tệ tập
trung của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trên cơ sở luật
định. Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã
hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia
theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”.
Theo từ điển thuậtn ngữ tài chính tín dụng (1996) của Viện Nghiên cứu
Tài chính thì: ”NS được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (tiền
thu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia
đình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm).
mà Nhà nước đảm nhận trong mỗi thời kỳ. tính chất và nội dung các khoản chi
do tính chất và nội dung các nhiệm vụ mà Nhà nước đảm nhận quyết định.
Ngược lại, nội dung chi tiêu có tác dụng đến kết quả của nhiệm vụ Nhà nước.
- Tác dụng và ảnh hưởng của các khoản chi NSNN thường được thể hiện
ở tầm vĩ mô. Vì vậy cần có những phân tích đánh giá mang tầm chiến lược lâu
dài và trong phạm vi nền kinh tế.
Tài liệu được tải từ website
8
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
- Tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách vừa được thể hiện ở hiệu quả
về mặt kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao Do vậy, khi đánh giá tính hiệu quả
phải sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu vừa mang tính chất định lượng vừa mang tính
chất định tính.
- Phần lớn các khoản chi NSNN là những khoản chi bao cấp và không
hoàn trả trực tiếp. Do vậy, cần phải đưa ra nhiều phương án khác nhau, trên cơ
sở đó xem xét, quyết định lựa chọn một phương án tốt nhất để giảm bớt các thất
thoát của NSNN
* Vai trò của NSNN:
- NSNN đảm bảo cung cấp nguồn kinh phí để duy trì sự hoạt động của hệ
thống bộ máy các cơ quan Nhà nước.
Trong cơ chế thi trường, những quan hệ kinh tế thuộc nội dung ngân sách
nhà nước chỉ có thể phát sinh, phát triển trên cơ sở vận động không ngừng của
các cơ quan tiền tệ trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Tính chất,
qui mô, mức độ, hiệu quả của quá trình vận động này là tiền đề vật chất quan
trọng nhất của NSNN. Sẽ không có một ngân sách lành mạnh nếu như sự vận
động của các quan hệ tiền tệ trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá bị
ách tắc hoặc bị biến dạng theo xu thế không có lợi, làm tổn thương đến sự vận
động của hàng hoá. Tuy nhiên cũng cần phải nhận thấy rằng: trong mối quan hệ
giữa NSNN với sự vận động của các đơn vị tiền tệ nảy sinh trong lĩnh vực sản
- Hai là, vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội: Trong thời kỳ kế hoạch hoá
tập trung, tính chất bao cấp tràn lan cho mọi lĩnh vực kinh tế- xã hội đã hạn chế
đáng kể vai trò của NSNN trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Trong thời kỳ
nài, mọi sự ưu tiên, ưu dãi của Nhà nước đều được dành chokhu vực Nhà nước.
Những chế độ bao cấp về nha fở, cung cấp lương thực, thực phẩm, hàng tiêu
dùng với giá thấp… đã gâi ra tâm lý sùng bái biên chế nhà nước, tâm lý trông
chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Điều đó một mặt làm giảm hiệu qủa công tác, hiệu quả
tiền vốn, mặt khác vừa tác động ngược chiều tới việc đảm bảo công bừng xã hội.
Bên cạnh đó, sự bao cấp tràn lan cho các hoạt đọng có tính chất xã hội (các hoạt
động sự nghiệp), song lại thiếu sự tính toán hợp lý về phạm vi, mức độ và hiệu
Tài liệu được tải từ website
10
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
quả của nó cũng dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện các mục tiêu về
mặt xã hội.
Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt đọng có hiệu
quả của bộ máy Nhà nước, sự phát triển của các hoạt động xã hội, y tế, văn hoá
xã có ý nghĩa quyết định. Việc thực hiện nhiệm vụ này về cơ bản thuộc về Nhà
nước và không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng nhhhững dịch vụ kể trên
được phân chia giữa những người tiêu dùng, nhưng nguồn tài trợ để thực hiện
các nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ NSNN. Như vậy trong việc thực hiện các
nhiệm vụ đó có tính chất chung toàn xã hội, NSNNcó vai trò quan trọng hàng
đầu. Bên cạnh đó, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ có tính chất chung toàn
xã hội, hàng năm chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu
nhập thấp nhất. Chúng ta có thể nhận thấy điều đố thông qua các loại trợ giúp
trực tiếp được dành cho những người có thu nhập thấp hoặc có hoàn cảnh đặc
biệt như chi về trợ cấp xã hội; các loại trợ giúp gián tiếp dưới hình thức trợ giá
cho các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước ), các khoản chi phí để thực
hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các trương trình quốc gia về chống
sự bao cấp của nhà nước. Trong điều kiện đó, vai trò của NSNN đối với các
quan hệ thị trường trở nên lu mờ là điều tất yếu.
Trong đièu kiện của nền kinh tế thị trường, giá cả chủ yéu phụ nthuộc vào
quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường. Do đó để ổn định giá cả, chính phủ
có thẻ tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thi trường. Sự tác động nay
không chỉ được thực hiện thông qua chính sách thuế mà còn được thực hiện
thông qua chính sách chi tiêu của NSNN. Bằng nguồn cấp phát của chi tiêu
NSNN hàng năm, các quỹ dự trữ Nhà nước vế hàng hoá và tài chính được hình
thành. Trong trường hợp thị trường có nhiều biến động, giá cả lên quá cao hoặc
xuống quá thấp, nhờ lực lượng dự trữ hang hoá và tiền, chính phủ có thể điều
hoà cung cầu hàng hoá, vật tư để bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng và ổn định sản xuất. Chính phủ cũng có thể sử dụng NSNN
nhằm khống ché và đẩy lùi lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực
hiện chính sách thắt chặt ngân sách, nghĩa là cắt giảm các khoản chi tiêu, chống
Tài liệu được tải từ website
12
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
tình trạng bao cấp, lãng phí trong chi tiêu đồng thời có thể tăng thuế tiêu dùng
để hạn chế cầu, mặt khác có thể giảm thuế đầu tư, kích thích sản xuất phát triển
để tăng cung. Ngoài ra việc chính phủ phát hành các cộng cụ nợ để vay nhân
dân nhàm bù đắp thiếu hụt của NSNN cũng góp phần to lớn vào việc làm giảm
tốc độ lạm phát trong nền kinh tế quốc dận.
2.1.2: Khái quát nội dung thu, chi của NSNN.
* Thu ngân sách nhà nước: tạp hợ cá chủ trương, quan điểm, biện pháp
nhằm tập trung và huy động các khoản thu vào NSNN.
- Nguyên tắc cơ bản:
+ Các chính sách thu vừa nhằm tập trung huy động tốt nhất mọi nguồn thu
cho NS nhưng phải đảm bảo khuýen khích phát triển kinh tế, mở rộng lưu thông
hàng hoá, đảm bảo sự bình đẳng trong cạnh tranh.
Các khoản phí và lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp huyện
quản lý.
Tiền thu từ các hoạt động sự nghiệp của các đợn vị huyện quản lý.
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các
công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của chính phủ.
Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho
ngân sách cấp huyện.
Thu phạt xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực, thu từ các các hoạt
động chống buôn lậu và kinh doanh trái pháp luật theo phân cấp của tỉnh.
Thu kết dư ngân sách cấp huyện.
Bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh.
Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp
tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã theo quy định của pháp luật.
* Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an
ninh- quốc phòng, bảo đảm hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của nhà
Tài liệu được tải từ website
14
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
nước, chi viện trợ và các khoản chi theo qui định của pháp luật. Theo luật
NSNN, nhiệm vụ chi NSNN cấp huyện bao gồm:
Chi thường xuyên về:
Các hoạt động sự nghiệp giáo dục- đào tạo, y tế thực hiện theo phân cấp
của cấp tỉnh.
Các hoạt động sự nghiệp văn hoá, thông tin, thể dục- thể thao, xã hội và
các hoạt động sự nghiẹp khác do cơ quan cấp huyện quản lý.
Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý:
- Nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi.
- Giao thông.
tích luỹ của nền kinh tế. Khả năng tích luỹ càng lớn thì khả năng chi đầu tư phát
triển kinh tế càng lớn. Đương nhiên việc đầu tư của ngân sách cho đầu tư phát
triển kinh tế tuỳ thuộc ở khả năng tập trung nguồn tích luỹ vào NSNN và chính
sách chi của NSNN trong từng giai đoạn lịch sử.
+Nhân tố thứ tư ảnh hưởng đến nội dung cơ cấu chi NSNN là mô hình tổ
chức bộ máy của nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm
nhiệm trong từng giai đoạn lịch sử.
Ngoài những nhân tố kể trên, có thể nói cơ cấu chi NSNN của mỗi quốc
gia trong từng giai đoạn nhất định chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố:
biến động Kinh tế, Chính trị, Xã hội và của các nhân tố cụ thể như: giá cả, lãi
suất, tỷ giá hối đoái
2.2. Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục
2.2.1: Nguồn hình thành vốn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục.
Sự nghiệp Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, do vậy Nhà nước chủ
trương huy động mọi nguồn lực để đầu tư cho sự phát triển của ngành giáo dục.
Có thể nói ngành giáo dục được sự quan tâm của toàn Đảng, toàn dân. Hiện nay
nguồn vốn được huy động để đầu tư cho sự nghiệp giáo dục nhưng chủ yếu là
các nguồn sau:
Tài liệu được tải từ website
16
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
+ Nguồn từ NSNN: Đây là nguồn chủ yếu. Chúng ta thường nói giáo dục
là sự nghiệp của toàn dân, là trách nhiệm của cộng đồng. Vì thế cần có sự quan
tâm đầu tư của tất cả các thành phần kinh tế, các cá nhân. Tuy nhiên, trên thực tế
cho thấy trong tất cả các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục thì nguồn vốn NSNN
bao giờ cũng là nguồn quan trọng nhất, chiếm tỷ lệ lớn nhất và ổn định nhất. Có
tới 85% chi cho Giáo dục và đào tạo là từ NSNN. Nguồn này gồm có nguồn từ
ngân sách Tỉnh uỷ quyền cho huyện thực hiện chi cho Giáo dục và nguồn từ
ngân sách huyện chi cho Giáo dục.
Công thức xác định:
`)(
1
∑
=
=
n
i
CNi
CNi
CN
SxMC
Trong đó:
-
CNi
M
: mức chi bình quân một công nhân viên dự kiến kì kế hoạch.
-
CNi
S
:số công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế hoạch
ngành i.
-C
CNi
: số kinh phí chi cho công nhân viên dự kiến kì kế hoạch.
Mcn: thường được xác định dựa vào mức chi thực tế kì báo cáo đồng thời
tính đến những điều chỉnh có thể xảy ra về mức lơng, phụ cấp và một số khoản
khác mà nhà nớc dự kiến thay đổi.(còn tiếp)
S
CN
Số CNV dự kiến
nghỉ theo chế độ
x
Số tháng
làm việc
12
Nhóm hai: Chi cho nghiệp vụ chuyên môn.
Bao gồn các khoản chi về giảng dạy, học tập trang thiết bị trong trường
(dụng cụ thí nghiệm, sách giáo khoa ) khoản chi này phụ thuộc vào trang thiết
bị trong trường, qui mô, cấp học và bản thân nó quyết định hiệu quả của giáo
dục. Số chi nghiệp vụ chuyên môn của mỗi cấp khác nhau tuỳ thuộc vào tính
chất hoạt động của nó, vì vậy khi xác định số chi nghiệp vụ chuyên môn của mỗi
cấp phải căn cứ vào từng nội dung cụ thể gắn với nhu cầu kinh phí và khả năng
đảm bảo các nguồn kinh phí của ngaan sách nhà nước.
Công thức xác định: (công thức)
∑
=
=
n
i
NViNV
CC
1
Trong đó:
- C
NV
: số chi nv- cm kì kế hoạch toàn nền kinh tế.
- C
NVi
: số chi nv- cm ngành i.
tại cơ quan, chi trả tiền điện, tiền nước đã dùng tại văn phòng, các dịch vụ về
thông tin liên lạc, chi hội nghi, tiếp khách, hội nghị sơ kết, tổng kết lễ tân các
khoản chi này liên quan nhiều đến qui mô hoạt động và tổ chức của mỗi loại
hình đơn vị:
Công thức xác định:
∑
=
×=
n
i
CNi
QLi
QL
SMC
1
)(
Trong đó:
C
QL
: chi quản lí hành chính của nhà nước dự kiến kì kế hoạch.
QL
M
: mức chi quản lí hành chính bình quân một cnv dự kiến kì kế hoạch
ngành i.
CNi
S
: Số công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế hoạch
thuộc ngành i.
Căn cứ để xác định mức chi quản lí hành chính dự kiến cho năm kế hoạch
là dựa vào mức chi quản lí hành chính thực tế bình quân một công nhân viên kì
mS
TiNGiC
1
)(
Trong đó:
C
mS
: Số chi cho mua sắm, sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ của ngân sách nhà
nước dự kiến kì kế hoạch.
NGi: NguyÊn giá tài sản cố định hiện có tại ngành i.
Ti : Tỉ lệ % áp dụng để xác đeịnh kinh phí dự kiến chi cho mua sắm,sửa
chữa lớn và xây dựng nhỏ ngành i.
Căn cứ bốn nhóm chi trên ta có:
C
GĐ
=C
NV
+ C
CN
+ C
QL
+ C
mS
Tài liệu được tải từ website
21
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
Trong đó:
C
GD
Tôn trọng nguyên tắc quản lí theo dự toán đối với các khoản chi thường
xuyên được nhìn nhận dưới góc độ sau:
- Mọi nhu cầu chi thường xuyên nói chung và chi giáo dục nói riêng nhất
thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở thông qua việc xét
Tài liệu được tải từ website
22
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
duyệt của các cơ quan quyền lực nhà nước từ thấp đến cao và quyết định cuối
cùng do quốc hội xem xét đề ra.
- Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán cho mỗi cấp, phải căn cứ vào
dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ và sử dụng. Dự toán chi cho mỗi
khoản mục chỉ được phép sử dụng trong khoản mục đó và hạch toán theo đúng
mục lục ngân sách nhà nước.
- Phải lấy dự toán làm căn cứ đối chiếu, so sánh khi quyết toán kinh phí
và phân tích đánh giá thực hiện của từng kì báo cáo. Vì vậy nhất thiết phải đồng
nhất trong việc xác lập các chỉ tiêu và khoản mục trong quyết toán và dự toán
chi.
+ Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.
Đây có lẽ là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý tài chính nhà
nước: nguồn lực là có hạn và nhu cầu là vô hạn vì vậy chúng ta phải chi làm sao
mà với mức phí bỏ ra thấp nhất song hiệu quả đạt được lại cao nhất? Hơn thế
nữa do hoạt động của ngân sách nhà nước diễn ra rộng và đa dạng phức tạp, nhu
cầu chi luôn gia tăng với mức độ không ngừng trong giới hạn huy động các
nguồn thu. Chính vì vậy để tiết kiệm và hiệu quả được tôn trọng chúng ta phải
làm tốt và đồng bộ một số nội dung sau:
- Xây dựng các định mục tiêu chuẩn chi phù hợp với từng đối tượng hay
tính chất công việc, đồng thời bảo đảm tính thực tiễn cao.
- Thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng, từ đó tạo tiền đề cho việc lựa
chọn các tiêu thức phù hợp cho mỗi đối tượng quản lí.
chi ngân sách nhà nước.
- Kho bạc Nhà nước phải kiểm soát hồ sơ, chứng từ và điều kiện cấp phát,
thanh toán kịp thời khoản chi ngân sách nhà nước theo quy định. Tham gia với
các cơ quan tài chính cơ quan quản lí nhà nước có thẩm quyền trong việc sử
dụng ngân sách nhà nước và xác nhận số thực chi ngân sách qua kho bạc.
- Lựa chọn phơng thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chi cho sự
nghiệp giáo dục phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện tại: phương thức cấp
phát thanh toán đối với từng khoản lương, các khoản có tính chất lương sẽ khác
Tài liệu được tải từ website
24
Website: Email : Tel (:
0918.775.368
với phương thức cấp phát, thanh toán cho xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm vật
tư thiết bị
Đó là ba nguyên tắc cần thiết để chi ngân sách nhà nước tiết kiệm và đạt
hiệu quả cao nhất. Để làm rõ thêm điều này ta nghiên cứu nội dung chi của ngân
sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục.
2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục.
Trong mỗi gian đọan khác nhau, mức độ, nội dung cơ cấu chi Ngân sách
Nhà nước cho sự nghiệp Giáo dục cũng có sự khác nhau, sự khác nhau đó bắt
nguồn từ các nhân tố ảnh hưởng sau:
Các nhân tố chủ quan, bao gồm:
+ Định hướng, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.
+ Thực trạng tình hình giáo dục và các chỉ tiêu về qui mô chất lượng giáo
viên, học sinh, hiện trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị.
+ Khả năng huy động các nguồn vốn ngoài NSNN cho sự nghiệp Giáo
dục.
+ Khả năng đáp ứng nhu cầu chi tài chính cho sự nghiệp Giáo dục từ
nguồn NSNN.
+ Phụ thuộc vào cơ cấu chi của NSNN: Chi cho sự nghiệp Giáo dục phải