Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT XÂY DỰNG
I. KHÁI NIỆM, Ý KIẾN CỦA NGHÀNH XÂY DỰNG TRONG NỀN KINH TẾ
QUỐC DÂN
1. Khái niệm
- Ngành xây dựng theo nghĩa rộng ( hay còn có thể gọi là lĩnh vực đầu tư
nghành xây dựng) bao gồm chủ đầu tư có công trình xây dựng, kèm theo các
bộ phận có liên quan, các doanh nghiệp xây dựng chuyen nhận thầu xây lắp
công trình, các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng ( chuyên làm những công
việc như lập dự án đầu tư, khảo sát thiết kế, quản lý thực hiện dự án … ) các
tổ chức cung ứng vật tư và thiết bị cho xây dựng, các tổ chức tài chính và
ngân hàng phục vụ xây dựng, các tổ chức nghiên cứu và đào tạo phục vụ xây
dựng, các cơ quan nhà nước trực tiếp liên quan đến xây dựng và các tổ chức
dịch vụ khác phục vụ xây dựng.
- Lĩnh vực đầu tư ở đây mà ngành xây dựng quan tâm là lĩnh vực đầu tư
được thực hiện thông qua việc xây dựng công trình để vận hành và sinh lời và
không bao gồm các lĩnh vực đầu tư khác như đầu tư tài chính, đầu tư không
kèm theo các giải pháp xây dựng công trình.
2. Ý nghĩa ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân
- Ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn (ngành cấp I)
của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ chốt ở khâu cuối cùng của quá
trình sáng tạo nên cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định (xây dựng công
trình và lắp đặt thiết bị, máy móc và công trình cho mọi hoạt động của đất
nước và xã hội dưới mọi hình thức (xây dựng mới, cái mở rộng và hiện đại
hoá tài sản cố định).
- Công trình xây dựng luôn luôn có tính chất kinh tế, kỹ thuật, văn hoá,
nghệ thuật và xã hội tổng hợp. Một công trình mới được xây dựng thường là
kết tinh của các thành quả khoa học, kỹ thuật nghệ thuậ và nhiều ngành ở thời
điểm đang xét và nó lại có tác động góp phần mở ra một giai đoạn phát triển
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công trong nước mới có liên quan (ngay cả đối với các chủ đầu tư nước ngoài
ở Việt Nam). Đó là ngành xây dựng còn có một nhiệm vụ quan trọng là phải
nâng cao trình độ tự lực giải quyết vấn đề xây dựng và phải bảo đảm có đủ
lực lượng để cộng tác với chủ đầu tư nước ngoài, không để có chủ thầu xây
dựng nước ngoài lũng đoạn thị trường xây dựng trong nước đối với các công
trình của chủ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
II. PHẠM VI NGÀNH XÂY DỰNG CÁC KHÁI NIỆM CẦN BIẾT TRONG THỐNG
KÊ XÂY DỰNG
1. Phạm vi ngành xây dựng
* Ngành xây dựng bao gồm các hoạt động
- Xây dựng và lắp đặt các thiết bị trong các công trình, phục vụ sản xuất,
đời sống xã hội và dân cư, do các tổ chức xây lắp thuộc các thành phần kinh
tế, kể cả các hộ sản xuất kinh doanh cá thể thực hiện dưới mọi hình thức nhận
thầu.
- Sửa chữa lớn các công trình xây lắp do các thành phần (ghi ở trên)
nhận thầu thực hiện.
- Hoạt động thi công cơ giới phục vụ cho việc xây dựng các công trình
xây lắp.
- Hoạt động xây dựng, lắp đặt và sửa chữa lớn tự làm của các thành phần
kinh tế và các hộ dân cư.
2. Các khái niệm cần biết trong thống kê xây dựng
2.1. Hoạt động xây dựng
* Hoạt động xây dựng là quá trình lao động để tạo ra những sản phẩm
xây dựng cho nền kinh tế quốc dân, gồm những công việc sau:
- Thăm dò, khảo sát, thiết kế
- Xây dựng mới, xây dựng lại công trình
- Cải tạo mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá công trình.
- Cho thuê phương tiện, máy móc thi công có người điều khiển đi kèm.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tuy vậy, theo phân ngành kinh tế hiện nay (hệ thống tài khoản quốc
những công trình xây lắp, xây dựng và những bộ phận cấu thành, nêu chúng
còn đang xây dựng dở dang, cùng những công việc có tính chất xây lắp như
sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và lắp đặt thiết bị máy móc vào công
trình.
- Sản phẩm xây dựng là một bộ phận của tổng sản phẩm xã hội, là kết
quả trực tiếp và hữu ích của lao động trong lĩnh vực sản xuất xây dựng sáng
tạo, ra theo đúng quy trình công nghệ xây lắp và đảm bảo chất lượng thiết kế
yêu cầu.
- Sản phẩm xây dựng được biểu hiện dưới hai hình thức:
Hình thức vật chất cụ thể và hình thức giá trị công việc có tính chất xây
lắp:
- Đại bộ phận sản phẩm xây dựng có hình thức vật chất cụ thể, có thể
dùng các đơn vị đo lường vật lý để xác định dung tích, khối lượng, công
suất… Đó là những công trình xây lắp, xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, công
trình dân dụng khác và các bộ phận cấu thành của chúng đang xây dựng dở
dang.
- Còn những sản phẩm không biểu hiện bằng hình thức cá thể được
(những công việc thăm dò thiết kế phát sinh trong thi công, công việc sửa
chữa nhà cửa, vật kiến trúc, công việc lắp đặt thiết bị máy móc), tuy không
tạo ra giá trị sử dụng mới nhưng chúng đã khôi phục và làm tăng giá trị sử
dụng hiện có, tạo điều kiện cho máy móc hoạt động.
* Phân loáip theo mức độ hoàn thành
Trong xây dựng cũng như trong bất cứ ngành sản xuất nào khác tại mỗi
thời điểm của quá trình sản xuất, sản phẩm sẽ hoàn thành ở một giai đoạn
nhất định.
Mức độ hoàn thành của các đối tượng được xây dựng sẽ khác nhau tuỳ
thuộc bởi khối lượng công việc được tiến hành từ khi bắt đầu xây dựng các
đối tượng đó.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để xác định đúng đắn khối lượng sản phẩm xây dựng đã thực hiện được,
+ Đảm bảo chất lượng thiết kế xây dựng qui định và sẵn sàng huy động
được ngay theo đúng chức năng đã đề ra.
+ Đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng theo đúng chủ đề nhà nước
quy định.
- Khối lượng thi công xong (còn gọi là thành phẩm quy ước của đơn vị
nhận thầu).
Khối lượng thi công xong là những khối lượng xây lắp đã hoàn thành
đến giai đoạn quy ước (giai đoạn quy định đối với từng công trình, hạng mục
công trình cụ thể) trong thiết kế, dự toán và theo nội dung hợp đồng đã ký kết
giữa hai bên giao thầu (bên A), nhận thầu (bên B) và đã được bên A xác nhận
thanh toán.
Tiêu chuẩn để xác định khối lượng thi công xong là:
+ Khối lượng công việc thi công xong đảm bảo đo, tính được dễ dàng.
+ Có thể kiểm tra được chất lượng sản phẩm
+ Đã cấu tạo và thực thể công trình
+ Đã thi công đấu phần việc cuối cùng trong đơn dự toán.
Như vậy, những khối lượng xây lắp nào chưa được bên A xác nhận là
hoàn thành đến giai đoạn quy ước, thì không được tính là khối lượng thi công
xong, mà sẽ tính là khối lượng thi công dở dang.
- Khối lượng thi công dở dang
Là những khối lượng xây lắp đang thi công, chưa hoàn thành đến giai
đoạn quy ước, chưa được bên A xác nhận thanh toán.
Tiêu chuẩn xác định khối lượng thi công dở dang:
+ Khối lượng công việc có thể đo, tính được dễ dàng
+ Sơ bộ kiểm tra được chất lượng sản phẩm
+ Đã thi công theo đúng thiết kế, dự toán
+ Phải là công việc do công nhân xây lắp thi công tại hiện trường.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Để xác định được khối lượng thi công dở dang, các doanh nghiệp xây
lắp phải thực hiện nghiêm ngặt việc kiểm kê sản phẩm dở dang ở các tổ, đội
này làm cho vốn đầu tư xây dựng công trình và vốn sản xuất của tổ chức xây
dựng thường bị ứ đọng lâu tại công trình đang được xây dựng, các tổ chức
xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian, công trình xây dựn
xong dễ bị hao mòn vô hình do tiến bộ của khoa học và công nghệ. Đặc điểm
này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải chú ý đến nhân tố thời gian khi lựa
chọn phương án, phải lựa chọn phương án có thời gian xây dựng hợp lý, phải
có chế độ thanh toán và kiểm tra tra chất lượng trung gian thích hợp dự trữ
hợp lý.
- Sản xuất xây dựng phải tiến hành theo đơn đặt hàng cho từng trường
hợp cụ thể thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu, vì sản
phẩm xây dựng rất đa dạng, có tính cá biệt cao và chi phí lớn. Trong phần lớn
các ngành sản xuất khác người ta có thể sản xuất sẵn hàng loạt sản phẩm để
bán. Nhưng với các công trình xây dựng thì không thể được trừ một vài
trường hợp rất hiếm khi chủ đầu tư làm sẵn một số nhà ở để bán. Nhưng ngay
cả ở đây mỗi nhà cũng đều có những đặc điểm riêng do điều kiện địa chất và
địa hình đem lại. Đặc điểm này dẫn đến yêu cầu là phải xác định giá cả của
sản phẩm xây dựng trước khi sản phẩm được làm ra và hình thức giao nhận
thầu hoặc đấu thầu xây dựng cho từng công trình cụ thể trở nên phổ biến
trong sản xuất xây dựng. Đặc điểm này cũng đòi hỏi các tổ chức xây dựng
muốn thắng thầu phải tích luỹ nhiều kinh nghiệm cho nhiều trường hợp xây
dựng cụ thể và phải tính toán cẩn thận khi tranh thầu.
- Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, các đơn vị tham gia xây dựng
công trình phải cùng nhau đến công trường thi công với diện tích có hạn để
thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và
không gian. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phải có trình độ phối
hợp tổ chức cao trong sản xuất, coi trọng công tác chuẩn bị và thiết kế tổ chức
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thi công, phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức xây dựng tổng thầu hay thầu
chính và các tổ chức thầu phụ.
- Sản xuất xây dựng phải tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của
bước đi tuần tự và bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa hợp tác hoá lao động giản
đơn, công trường thủ công, nửa cơ giới, cơ giới hoá và một phần tự động hoá.
Trong bối cảnh hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng, trình độ xây dựng của
nhà nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội và điều kiện để phát triển nhanh.
- Đường lối chung phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận
dụng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của
nhà nước, đang quyết định phương hướng và tốc độ phát triển ngành xây
dựng của Việt Nam.
CHƯƠNG II
PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN CÁC CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT
(GO), CHI PHÍ TRUNG GIAN (IC), GIÁ TRỊ TĂNG THÊM (VA)
NGÀNH XÂY DỰNG
A. CÁC CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT, CHI PHÍ TRUNG GIAN, GIÁ TRỊ TĂNG
THÊM THEO HỆ THỐNG TÀI KHOẢN QUỐC GIA
Hệ thống tài khoản quốc gia SNA là một hệ thống các tài khoản có liên
hệ hữu cơ với nhau, bao gồm các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, trình bày dưới
dạng tài khoản nhằm phản ánh quá trình tái sản xuất sản phẩm xã hội và GDP
trong một thời kỳ nhất định. Hệ thống tài khoản quốc gia do cơ quan thống kê
nhà nước lập, mô tả quá trình tái sản xuất đã được thực hiện, hoàn thành, xây
dựng từ các nguồn số liệu đầu tra về quá trình sản xuất đã xảy ra, xác định
quy mô, trình độ và hiệu quả của sản xuất, là kiểu tổ chức hạch toán nền kinh
tế quốc dân dựa trên lý luận về toàn bộ quá trình sản xuất bao gồm cả sản xuất
vật chất và sản xuất dịch vụ, là công cụ để tổ chức quản lý nền kinh tế quốc
dân.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vì vậy, ngày 25/12/1992, thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 183/Tgg
về việc chính thức áp dụng hệ thống tài khoản quốc gia SNA vào Việt Nam
thay cho hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân MPS.
Chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng là 3 chỉ tiêu
rất quan trọng trong hệ thống SNA.
Chỉ tiêu GO theo phương pháp doanh nghiệp lấy doanh nghiệp làm đơn
vị tính, thực chất của phương pháp này là tổng cộng giá trị sản xuất của các xí
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau trong toàn bộ nền kinh tế quốc
dân.
GOxn = ∑ GOxni
Đây là phương pháp cơ bản để xác định GO của nền kinh tế quốc dân
nhưng có nhược điểm là xác định chưa chính xác kết quả sản xuất của nền
kinh tế quốc dân vì nó đã tính trùng giữa các nghành phần chi phí trung gian
giữa các xí nghiệp cùng một nghành và giữa các nghành của nền kinh tế.
Chỉ tiêu GO tính ra có chất lượng hay không phụ thụôc vào trình độ tổ
chức và trình độ chuyên môn hóa các xí nghiệp.
- phương pháp nghành.
GO theo phương pháp này là lấy nghành kinh tế làm đơn vị tính bằng
cách tổng cộng giá trị sản xuất của tất cả các nghành trong nền kinh tế.
GO
nghành
= ∑ GO
nghành i
phương pháp này đã loại trừ được phần bị tính trùng trong một nghành
nhưng chưa loại trừ được phần tính trùng giữa các nghành.
GO
nghành
= GO
xn
- giá trị sản phẩm chu chuyển giữa các xí nghiệp cùng
một nghành để loại trừ nốt phần tính trùng trên ta có phương hướng thứ 3
- phương pháp kinh tế quốc dân ( KTQD )
lấy nền kinh tế quốc dân làm đơn vị tính, để áp dụng phưong pháp này
phải xác định được giá trị sản phẩm chu chuyển giữa các nghành của nền kinh
+ Quản cáo
+ v.v…
3.Các nguyên tắc tính
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngoài các nguyên tắc chung của tính các chỉ tiêu trong SNA như tính
theo đơn vị thường trú, tính theo giá trị thường, tính theo thời điểm sản xuất,
thì khi tính chi phí trrung gian cần chú ý các nguyên tắc sau :
- Những sản phẩm vật chất và dịch vụ được tính vào chi phí trung gian
phải là chi phí sản xuất, được hạch toán vào giá thành sản phẩm.
Đối với thành phần kinh tế tư nhân, cá thể, hộ gia đình, quá trình hoạt
động sản xuất thường gắn liền với quả trình tiêu dùng sinh hoạt. Nhiều khoản
chi tiêu không thể phân biệt chính xác bao nhiêu cho sản xuất, bao nhiêu cho
tiêu dùng cuối cùng; đặc biệt số chỉ tiêu về dịch vụ: Vận tải, bưu điện, điện
nước, y tế, giáo dục đào tạo, dịch vụ pháp lý, vệ sinh môi trường … Vì vậy,
phải tiến hành điều tra để tính toán chính xác đầy đủ chi phí trung gian cho
hoạt động sản xuất của thành phần kinh tế này.
- Những sản phẩm vật chất và dịch vụ tính vào chi phí trung gian phải là
kết quả sản xuất, do các ngành sản xuất trong năm hoặc sản xuất năm trước
chuyển qua sử dụng hoặc nhập khẩu từ nước ngoài. Những sản phẩm không
phải là kết quả sảnũút mà sử dụng tự nhiên như ánh sáng mặt trời, nước tự
nhiên không tính vào chi phí trung gian.
4. Phương pháp tính IC
Chi phí trung gian cũng được tính cho từng ngành kinh tế, thành phần
kinh tế tổng hợp cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
III. Giá trị tăng thêm (VA)
1. Khái niệm
Giá trị tăng thêm của toàn bộ hoạt động kinh tế của một quốc gia là toàn
bộ giá trị các sản phẩm vật chất và dịch vụ được các ngành sản xuất sáng tạo
thêm trên lãnh thổ kinh tế trong thời kỳ sản xuất.
2. Nội dung
Thuế gián thu bao gồm: thuế sản xuất và hàng hoá gồm thuế doanh thu,
thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhà đất, thuế tài nguyên, thuế vốn…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
B. Phương pháp luận tính toán, các chỉ tiêu giá trị sản xuất, chi phí
trung gian, giá trị tăng thêm ngành xây dựng
I. Giá trị sản xuất xây dựng
1. Khái niệm
- Giá trị sản xuất xây dựng là kết quả sản xuất, kinh doanh về hoạt động
xây dựng tính bằng tiền mà các đơn vị xây dựng thu được trong một thời kỳ
nhất định.
Giá trị sản xuất xây dựng là giá trị các sản phẩm xây dựng bao gồm giá
trị công tác xây dựng các công trình, giá trị sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến
trúc, lắp đặt thiết bị máy móc vào công trình, cho thuê phương tiện xe máy thì
cũng có người điều khiển đi kèm.
Giá trị sản xuất xây dựng được tính cả phần giá trị nguyên vật liệu do
bên giao thầu (bên A) đưa tới sử dụng vào công trình nhưng không tính phần
giá trị bản thân thiết bị máy móc lắp đặt vào công trình.
Ngoài ra, giá trị sản xuất xây dựng còn được tính cả phần tiền chênh lệch
do tổng thầu thu được của các đơn vị chưa chia thầu khác và những khoản thu
được của các đơn vị chia thầu khác và những khoản thu được do bán phế liệu,
phế thải trong sản xuất xây dựng đã loại ra.
+ Giá trị sản xuất xây lắp: là bộ phận chính chủ yếu trong giá trị sản xuất
xây dựng. Giá trị sản xuất xây lắp khác với giá trị sản xuất xây dựng là không
tính phần giá trị chênh lệch do làm tổng thầu và giá trị thu được do bán phế
liệu, phế thải của công trình xây dựng tạo ra.
2. Ý nghĩa của chỉ tiêu giá trị sản xuất xây dựng
Chỉ tiêu giá trị sản xuất xây dựng xác định toàn bộ kết quả hoạt động sản
xuất, kinh doanh xây dựng của một thời kỳ, không phụ thuộc vào mức độ
hoàn thành của sản phẩm.
Nó là cơ sở để lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch lao động, vật tư, đồng
Q = Σqp + F + L.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong đó:
Q - Giá trị sản xuất xây dựng.
q - Khối lượng sản phẩm, công việc thi công thực hiện
p - đơn giá dự toán hợp đồng từng sản phẩm, công việc.
F - Tổng phụ phí.
L - Tổng lãi định mức.
4. Nội dung công tác tính giá trị sản xuất xây dựng
Nội dung chỉ tiêu giá trị sản xuất xây dựng băng hình các giá trị công
tác cao:
- Giá trị công tác xây dựng.
- Giá trị công tác lắp đặt thiết bị máy móc.
- Giá trị công tác sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc.
- Giá trị công tác thăm dò, khảo sát, thiết kế phát sinh trong quá trình
thi công.
- Giá trị công tác xây dựng cơ bản khác và các khoản thu khác được
tính vào giá trị xây dựng.
Cộng giá trị tất cả các loại công tác này lại ta được giá trị sản xuất xây
dựng của đơn vị.
4.1. Phương pháp tính giá trị sản xuất công tác xây dựng.
Công tác xây dựng gồm xây dựng mới, xây dựng lại, cải tạo, mở rộng,
hiện đại hoá công trình xây dựng.
Giá trị sản xuất công tác xây dựng được tính là chi phí trực tiếp và giá
tiếp theo đơn giá dự toán hợp đồng, cho từng công trình, hạng mục công trình
đã hoàn thành (thành phẩm) và giá trị khối lượng sản phẩm xây dựng dở
dang.
Công thức tính
Q = Σ pq + F + L.
Khi tính giá trị khối lượng sản phẩm xây dựng dở dang (gồm khối
phẩm xây dựng dở dang (gồm khối lương thi công sau tới giai đoạn qui ước
và tính khối lượng thi công dở dang) cộng với giá trị sản xuất các công trình
hoàn thành (thành phẩm) đựoc giá trị sản xuất công tác xây dựng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chú ý: Đối với công trình, hạng mục công trình hoàn thành do bên A
cấp một phần hay toàn bộ nguyên vật liệu, đơn vị xây lắp vẫn được tính toàn
bộ giá tị sản phẩm theo đơn giá dự toán vào giá trị sản xuất xây dựng, không
phải loại trừ giá trị nguyên liệu đó.
4.2. Phương pháp tính giá trị sản xuất công tác lắp đặt thiết bị máy
móc.
Công tác lắp đặt thiết bị máy móc là quá trình lắp đặt thiết bị máy móc
trên nền hoặc bệ máy cố định để máy và thiết bị có thể hoạt động được,
nhưng không bao gồm công tác lắp đặt các thiết bị là một bộ phận kết cấu cảu
nhà cửa, vật kiến trúc như lắp hệ thống thông gió, hệ thống lò hơi, hệ thống
thắp sáng sinh hoạt Vì đã tính phần giá trị công tác xây dựng rồi.
Khác với sản xuất xây dựng, công tác lắp đặt máy không làm thay đổi
tượng cầu lắp và không tạo ra sản phẩm mới mà chỉ làm tăng giá tị sản phẩm
đã có, tạo điều kiện cho máy móc thiết bị phát huy tác dụng, công dùng sử
dụng theo đúng chức năng của nó.
Nội dung công tác lắp đặt thiết bị máy móc bao gồm từ việc chuẩn hệ
lắp đến việc chạy thử máy để xác định chất lượng lắp đặt và các công việc
khác có liên quan.
Trong thực tế thì theo tính chất công việc thì công việc lắp máy có tính
chất công nghiệp cho nên người ta quy định nếu công tác lắp đặt máy do công
nhân công nghiệp thực hiện thì tính là sản phẩm ngành công nghiệp. Nếu do
công nhân xây lắp thực hiện thì tính công việc là của ngành xây dựng.
Khối lượng công tác lắp máy kỳ báo cáo gồm khối lượng công tác lắp
đặt máy xong và khối lượng lắp máy dở dang cách tính giá trị sản xuất công
tác lắp máy cũng gần giống như cách tính ở phần xây dựng, chỉ khác nhau cơ
bản ở chỗ giá trị sản xuất lắp đặt máy không được tính giá trị bán khâu thiết bị
m
x t
h
)
Trong đó:
M
dc
: số tấn máy lắp dở dang từng động tác quy đổi vế số tấn máy lắp
xong toàn bộ.
m
dc
- số tấn máy lắp dở dang từng động tác.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thương mại tỷ trọng thời gian lắp xong từng động tác cho một tấn máy
chiếm trong tổng số thời gian lắp xong toàn bộ theho định mức.
t
n
- tỷ lệ % hoàn thành trong từng động tác.
4.3. Phương pháp tính giá trị sản xuất công tác sửa chữa lớn nhà cửa,
vật kiến thức.
Sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến thức là dùng cấu kiện phụ tùng để thay
thế nhữgn bộ phận cũ đã bị hao mòn hư hỏng; có nghĩa là phục hồi lại hình
thái ban đầu của nhà cửa, vật kiến trúc, đảm bảo cho nó phát huy tác dụng
một caách bình thường.
Khi tính giá trị sản xuất công tác sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc
phải tính theo đơn giá dự toán, áp dụng công thức chung như đã nói trên.
Q = Σpq + F + L.
Những công việc nào chưa có đơn giá dự toán thì tính theo phương
pháp thực chi, thực thanh, nhưng phải được bên A giám sát chặt chẽ và xác
nhận để thanh toán và tránh chi tiêu lãnh phí.
chữa dở dang.
- Trừ (-) số dư đầu kỳ về sản phẩm dở dang và chi phí về xây lắp và sửa
chữa lớn dở dang.
- Cộng (+) doanh thu về bán phế liệu thu hồi được trong quá trình sản
xuất.
- Công (+) doanh thu các hoạt động sản xuất phụ khác của đơn vị
không có đủ cơ sở thông tin để tach riêng đưa về các ngành thích hợp.
* Phương pháp hai.
Giá trị sản xuất ngnàh xây dựng bằng:
- Chi phí sản xuất theo yếu tố thực hiện trong năm về hoạt động xây
dựng, lắp đặt và sửa chữa lớn nhà cửa, mặt kiến trúc.
- Cộng (+) thuế doanh thu phải nộp.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Cộng (+) lợi tức từ hoạt động kinh doanh của các hoạt động trên.
- Cộng (+) doanh thu về cho thuê máy móc, thiết bị có người điều khiển
kèm theo dùng cho xây lắp và sửa chữa nhà cửa vật kiến trúc.
- Cộng (+) doanh thu về bán phế liệu, phế phẩm thu được trong quá
trình sản xuất.
- Cộng (+) doanh thu từ hoạt động sản xuất phụ khác đơn vị không có
đủ cơ sở thông tin để tách riêng đưa về các ngành thích hợp.
6. Nguồn thông tin và phương pháp tính
Trên cơ sở hai phương pháp trên, căn cứ vào nguồn thông tin thực tế ta
có thể vận dụng để tính giá trị sản xuất cho các hình thức xây dựng và lắp đặt
của các thành phần kinh tế như sau.
a. Đối với các dn xây lắp và sửa chữa lớn nhận thầu và các dn chuyên
thi công cơ giới phục vụ.
Cho xây dựng, chủ yếu áp dụng phương pháp thứ nhất trong đó cần chú
ý.
- Doanh thu sản xuất chính là doanh thu về xây dựng lắp đặt, sửa chữa
nhà cửa, vật kiến trúc, tuỳ theo nhiệm vụ chính của từng đơn vị.