Một số giải pháp phát triển các Trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kinh tế trang trại là một hình thức sản xuất hàng hóa tập trung, qui mô lớn,
có hiệu quả đã được hình thành tại nhiều quốc gia trên thế giới, cũng như tại
Việt Nam. Xu thế phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu trong sản xuất nông
nghiệp theo hướng hàng hóa trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế Thế giới của
Việt Nam. Kinh tế trang trại cung cấp cho thị trường hàng hóa với số lượng lớn,
chất lượng đồng nhất, có sức cạnh tranh cao và là chìa khóa cho phát triển nông
nghiệp.
Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai kinh tế trang trại đã phát triển với số lượng
lớn và đã có những đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế chung
của Tỉnh. Dạng hình trang trại bao gồm trang trại trồng trọt, trang trại chăn
nuôi, trang trại tổng hợp,…Trong thời gian qua các trang trại trồng trọt phát
triển tương đối ổn định, tuy nhiên các trang trại chăn nuôi, nhất là các trang
trại chăn nuôi lợn còn nhiều bất cập như hiệu quả chăn nuôi thấp, ảnh hưởng
đến môi trường và thu nhập của người chăn nuôi không ổn định. Đồng Nai
với lợi thế là tỉnh tiếp giáp với TP. Hồ Chí Minh, trung tâm Kinh tế - Khoa
học kỹ thuật của cả nước, là thị trường tiêu thụ lớn với hơn 8 triệu dân. Tuy
nhiên tiềm năng to lớn này chưa được khai thác đúng mức. Vì vậy để khắc
phục những hạn chế trên, ngành nông nghiệp, đặc biệt là ngành chăn nuôi
của tỉnh Đồng Nai cần có những giải pháp nhằm phát triển ngành chăn nuôi
trên địa bàn Tỉnh.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Một số giải
pháp phát triển các Trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Đồng
Nai” là một vấn đề cần giải quyết cả trong ngắn hạn và dài hạn.
2
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở lý thuyết và số liệu điều tra thực tiễn hiện trạng các trang
trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, áp dụng các mô hình chứng

- Số liệu sơ cấp sử dụng trong đề tài được tiến hành khảo sát thực tế trong
năm 2011 và những tháng đầu năm 2012.
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu các lý thuyết liên quan đến kinh tế trang trại, hiệu quả sản xuất.
4.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Đánh giá thực trạng tình hình tại các trang trại chăn nuôi lợn trên địa
bàn nghiên cứu từ đó đưa ra được các vấn đề sau :
+ Kết quả đạt được sau khi thực hiện phân tích
+ Tồn tại của các trang trại hiện nay
+ Nguyên nhân của việc dẫn đến những tồn tại chưa được giải quyết
4.3. Giải pháp đề xuất
Từ kết quả của việc đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu, đưa ra các
giải pháp đề xuất để từ đó phát huy và hoàn thiện các công việc đã đạt được,
khắc phục các nguyên nhân, giải quyết các tồn tại.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
1.1.1. Tiêu chí về nhận diện trang trại
Ngày 13 tháng 4 năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã
Ban hành Thông tư số 27 /2011/TT-BNNPTNT, Quy định về tiêu chí và thủ
tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại.
Tại chương II của thông tư này tiêu chí xác định kinh tế trang trại được
quy định cụ thể như sau:
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;

trang trại là 29.320,1 tỷ đồng, vốn sản xuất bình quân một trang trại là 257,8
triệu đồng, nhiều tỉnh ở phía nam (Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình
Dương, Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu) có quy mô vốn bình quân trên 500
triệu đồng/trang trại. Lợi nhuận bình quân chung đạt 413 triệu đồng/trang trại,
6
cao gấp 15 lần so với mức lợi nhuận bình quân của nông hộ, nguồn vốn đầu
tư của các trang trại thông thường có trên 85% là vốn tự có, một phần huy
động từ người thân và một phần rất nhỏ từ tín dụng nhà nước. điều này cho
thấy nguồn vốn hình thành để mở rộng là từ lợi nhuận của chủ trang trại.
Trong điều kiện hiện nay, sự gia tăng sản lượng nông nghiệp phụ thuộc chủ
yếu vào sự gia tăng quy mô vốn sản xuất. Do đó, phát triển KTTT sẽ góp
phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nông nghiệp.
Phát triển kinh tế trang trại bảo vệ môi trường tự nhiên
Với quy mô lớn về vốn, diện tích, trình độ của chủ trang trại có lợi thế
trong việc ứng dụng nhanh các công nghệ sinh học mới, thâm dụng vốn, nên
vừa nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi ngay trên một đơn vị diện tích
(không cần mở rộng diện tích từ phá rừng), vừa gắn với sử dụng hợp lý các
loại hóa chất (phân hóa học, thuốc trừ sâu dịch bệnh), không ảnh hưởng đaến
suy thoái tài nguyên đất và môi trường nước ở vùng nông thôn. Ngoài ra,
KTTT được phát triển nhanh đối với những vùng mật độ dân cư thấp như ven
biển, đồi núi, vùng sâu của đồng bằng góp phần thay đổi nhanh chóng bộ mặt
kinh tế xã hội, tạo ra một môi trường tự nhiên trong lành, làm phong phú
thêm cảnh quan thiên nhiêm và cân bằng sinh thái. Hơn nữa, thông qua hoạt
động, các trang trại sẽ tác động dân cư nông thôn trong vùng quan tâm đếm
bảo vệ môi trường và gìn giữ nguồn tài nguyên thiên nhiên. Do đó, KTTT giữ
vai trò quan trọng trong việc thực hiện phát triển nông nghiệp bền vững.
Giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho nông dân
Với lợi thế về quy mô, hiệu quả cao trong sản xuất, khả năng ứng dụng
nhanh các công nghệ mới vào sản xuất, năng lực cạnh tranh và trình độ quản
lý và tổ chức sản xuất của chủ trang trại, KTTT có khả năng phát triển bền

nhập theo quy mô. Tiêu biểu nhất là thu nhập tăng dần theo quy mô tại mức độ
sản lượng thấp; thu nhập giảm dần khi mức độ sản lượng tương đối cao; và thu
nhập không đổi tại mức nào đó trong hai khoảng sản lượng nêu trên.
Trong sản xuất nông nghiệp, có rất nhiều nghiên cứu và tranh luận về
kinh tế theo quy mô. Những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên được thực hiện
vào những năm 1950 [29] thường sử dụng dạng hàm bậc hai hoặc hàm Cobb –
Douglass để ước lượng các hệ số của hàm sản xuất nông nghiệp. Quy mô nhỏ về
diện tích đất và vốn sản xuất sẽ là trở ngại cho việc áp dụng các các công nghệ
mới như cơ giới, thâm canh gắn với bảo vệ môi trường,… Các hộ chăn nuôi với
diện tích đất, vốn, lao động, máy móc trang bị,… tập trung lớn hơn sẽ thuận tiện
cho cơ giới hóa, giải phóng sức người, áp dụng các công nghệ kỹ thuật mới, chi
phí sản xuất sẽ giảm nhanh theo quy mô sản lượng tăng,… do vậy các hộ quy
mô lớn có hiệu suất cao hơn và có lợi thế kinh tế theo quy mô. Các nghiên cứu
hàm Cobb – Douglass thông thường dẫn đến kết luận là thu nhập theo quy mô
tăng dần, tuy nhiên đây không phải là bằng chứng của vần đề kinh tế theo quy
mô, và đánh giá thấp vấn đề không hiệu quả trong hàm chi phí sản xuất của nông
trại nhỏ [31]. Hơn nữa, trong ngắn hạn khi việc ước lượng chi phí sản xuất sử
dụng dạng tuyến tính, chứ không phải dạng hàm bậc hai, thì chi phí trung bình
thường giảm khi quy mô nông trại không lớn, sau đó sẽ là không đổi với một
khoảng quy mô nhất định. Đường biểu diễn giảm ở đoạn đầu có thể do sự sử
dụng quá mức lao động tại các nông trại nhỏ.
1.2.2. Phân tích kinh tế trong nông nghiệp
Trong lý thuyết về sản xuất nông nghiệp, để phân tích mối quan hệ giữa
các yếu tố đầu vào và năng suất, nhà nghiên cứu có thể sử dụng khung phân tích
hàm sản xuất tân cổ điển để xem xét mối quan hệ kỹ thuật giữa các yếu tố.
9
khung phân tích hàm chi phí hoặc hàm lợi nhuận [32], cho phép xem xét đồng
thời các yếu tố kỹ thuật và kinh tế. Ngoài ra còn có các phương pháp khác như
hạch toán từng phần/toàn bộ, lập trình toán (tuyến tính, đa mục tiêu) cũng có thể
áp dụng [36].

thay đổi theo năng suất trong một khoảng thời gian nhất định. Trong nông
nghiệp, các yếu tố như đất đai, học vấn, tri thức nông nghiệp, được coi là cố định
trong một khoảng thời gian ngắn, bởi vì số lượng của nó không thay đổi khi
năng suất thay đổi. Ngược lại các yếu tố thay đổi là các yếu tố mà người sàn xuất
có thể kiểm soát và thay đổi số lượng của chúng để tác động đến năng suất. điều
này có ý muốn nói là người sản xuất có đủ thời gian để điều chỉnh chủng loại và
lượng vật tư cần thiết trong sản xuất. Các loại phân bón, thuốc bảo vệ thự vật,
lao động, thức ăn chăn nuôi, trọng lượng con giống là những ví dụ về yếu tố vật
tư thay đổi. Tùy thuộc vào tình hình dịch bệnh hoặc thể trạng của đàn gia súc
trong một khoảng thời gian nào đó trong quá trình sản xuất, người sản xuất có
thể lựa chọn loại thuốc, thức ăn phù hợp và sử dụng với số lượng nhiều hoặc ít
hơn so với liều lượng được khuyến cáo. Tuy nhiên, các yếu tố đầu vào này được
giả định là cố định hoặc thay đổi phụ thuộc vào khoảng thời gian được xem xét.
Các nhà kinh tế thông thường định nghĩa khoảng thời gian đó đủ dài để tất cả
các yếu tố đều có thể được thay đổi. Ngược lại khoảng thời gian được gọi là
11
ngắn hạn khi trong khoảng thời gian này người sản xuất chỉ thay đổi được một
số yếu tố mà thôi. Ngoài các yếu tố đầu vào thay đổi và cố định, hàm sản xuất
nông nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của tự nhiên (mưa, nắng, gió, nhiệt
độ, độ ẩm,…), các yếu tố sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp (dịch bệnh,
côn trùng,…), trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý sản xuất (các loại giống
mới, máy móc thiết bị,…).
Trên khía cạnh kỹ thuật, năng suất sinh học hay tổng lượng sinh khối đạt
được và đưa ra khỏi hệ thống sản xuất bao gồm các nông sản phẩm chính (lợn
hơi xuất chuồng, hạt lúa, bắp,…) và các sản phẩm phụ (phân lợn, rơm rạ, cùi,
cây bắp,…). Tuy nhiên, các số liệu sản xuất nông nghiệp thường chỉ chú ý đến
phần sản phẩm chính có thể mua bán và trao đổi trên thị trường. trong các phân
tích kinh tế thì kết quả sản xuất thường được đo lường theo khối lượng vật chất
(tấn lợn hơi, tấn lúa,…) hoặc theo giá trị bằng tiền (giá trị sản phẩm thu hoạch),
mà không nhất thiết phải nêu rõ số lượng vật tư đã sử dụng. ngược lại trong

tăng vượt quá một mức nhất định sẽ làm cho năng suất cận biên và năng suất
trung bình của các yếu tố đó cùng giảm dần cho đến khi năng suất cận biên
(MPP
i
) < 0 thì sản lượng bắt đầu giảm dần. Hiện tượng này có tính quy luật, một
quy luật về công nghệ: duy trì tất cả các yếu tố sản xuất không thay đổi ngoại trừ
một yếu tố, quy luật năng suất biên giảm dần cho rằng đến một mức nhất định,
sự tăng thêm đầu vào biến đổi sẽ dẫn đến năng suất cận biên của nó giảm dần
(Pindyck và Rubinfeld, 2001). Mối quan hệ giữa năng suất cận biên (MPP
i
),
năng suất trung bình AP
i
và sản lượng Y như sau:
MPP
i
> AP
i
thì AP
i
tăng dần; MPP
i
> 0 thì Y tăng dần;
MPP
i
< AP
i
thì AP
i
giảm dần; MPP

Như vậy, mức sản lượng đạt lợi nhuận tối đa khi doanh thu biên bằng với chi phí
biên (MR = MC).
b. Định luật năng suất biên giảm dần.
Định luật năng suất biên giảm dần là mộ vấn đề cơ bản trong kinh tế sản
xuất [26]. Định luật này phát biểu rằng khi tăng thêm một hay nhiều đơn vị yếu
tố đầu vào thay đổi, trên nền tảng ban đầu của các yếu tố đầu vào đến một giới
hạn nào đó thì năng suất tăng thêm bị giảm dần. Ví dụ, khi gia tăng thêm lượng
phân đạm vào sản xuất lúa, đến một lượng nhất định nào đó (tùy theo giống lúa),
thì mỗi kilogam tăng thêm của phân đạm sẽ thu hoạch được lượng lúa gia tăng
14
ngày càng ít đi (mặc dù năng suất vẫn cao hơn). Từ đây có thể suy luận rằng nếu
dạng hàm tuyến tính được gán vào cho sản xuất cây trồng và vật nuôi thì định
luật này sẽ không được thỏa vì lúc đó mức gia tăng trong năng suất là như nhau
cho mỗi đơn vị yếu tố đầu vào được thêm vào (Y = bX).
1.2.2.4. Hàm sản xuất Cobb – Douglas và ứng dụng của nó
Hàm sản xuất vừa trình bày trong phần trên đơn thuần chỉ thể hiện mối
quan hệ kỹ thuật giữa năng suất và các yếu tố đầu vào, không có một yếu tố kinh
tế nào được xem xét và thường được các nhà kỹ thuật nông học sử dụng.
Vào năm 1928, những vấn đề cơ bản trong lý thuyết kinh tế sản xuất do
Cobb và Douglas đề xuất, và các nhà kinh tế nông nghiệp là những người tiên
phong trong việc ứng dụng những tiến bộ về kinh tế sản xuất này [25]. Với lý
thuyết kinh tế sản xuất, giá cả nông sản và các yếu tố đầu vào được đưa vào hàm
sản xuất để nghiên cứu hành vi kinh tế của người sản xuất theo lý thuyết kinh tế
tân cổ điển. Có rất nhiều dạng hàm số khác nhau có thể được sử dụng để mô tả
mối quan hệ kỹ thuật giữa yếu tố đầu vào và năng suất trong nông nghiệp. Việc
lựa chọn dạng hàm nào tùy thuộc vào mục đích của nghiên cứu và cần phải mô
tả sát với thực tế sản xuất. Dạng tuyến tính như vừa nêu trên không được áp
dụng vì trên thực tế khi đưa thêm yếu tố đầu vào đến một mức nào đó thì năng
suất tăng thêm sẽ giảm dần chứ không thể là hằng số. Vào giữa thập niên 1960
và 1970, các nhà kinh tế nông nghiệp thường sử dụng các dạng hàm số linh hoạt

2
lnX
2j
+ … + α
n
lnX
nj
+ u
j
(với B
j
= lna)
Qua chuyển đổi này, hàm Cobb – Douglas là hàm tuyến tính theo hệ số
ước lượng. Nói cách khác là LnY là hàm quan hệ tuyến tính với LnX
i
và có thể
ước lượng các hệ số bằng phương pháp bình quân bé nhất (OLS). Trong các
ứng dụng hàm Cobb – Douglas (C – D) hiện nay, không phải là hàm C – D
nguyên thủy, mà chỉ là một dạng của hàm C – D mà thôi [26]. Hàm C – D
nguyên thủy chỉ có hai biến số là lao động và vốn và tổng giá trị của hai hệ số co
giãn sản lượng là bằng 1. Các hàn C – D khác có nhiều hơn 2 biến số và tổng giá
trị của các hệ số co giãn sản lượng là một con số khác 1.
Dạng hàm số C – D có trên hai biến số được sử dụng hiện nay có đặc
điểm như sau: Y = f ( X
1
, X
2
, X
3
, X

)
Giá trị sản phẩm biên: Hàm Cobb – Douglas có quy luật năng suất cận
biên giảm dần. VMP = MPP
i
x P
Y
được gọi là giá trị của sản phẩm và nó bằng
với chi phí biên của yếu tố đầu vào thứ i. Trong đó: MPP
i
là giá trị sản phẩm
biên; P
Y
là giá sản phẩm đầu ra.
Tối đa hóa lợi nhuận và lượng yếu tố đầu vào tối ưu: phân tích kinh tế
trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, với giả định là người sản xuất có hành vi
tối đa hóa lợi nhuận và giá cả của nông sản, giá cả của các yếu tố đầu vào là do
thị trường quyết định. Ta có điều kiện bậc nhất của bài toán tối đa hóa lợi nhuận
là: VMP
i
= P
Xi
. Trong đó: P
Xi
là giá nhân tố đầu vào thứ i.
VMP
i
= MPP
i
x P
Y

hướng đầu tư các chính sách phát triển: những tiến bộ kỹ thuật gắn trực tiếp vào
tư liệu sản xuất hoặc nông sản (như máy kéo, máy cày, phân bón, giống cây
trồng, hoặc tiến bộ kỹ thuật không gắn trực tiếp vào gia tăng sản lượng nông
nghiệp như các chương trình phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (chương trình IPM
chỉ gián tiếp làm gia tăng năng suất). Phân chia này rất hữu ích để hướng việc
đầu tư công vào vấn đề nghiên cứu phát triển. Các doanh nghiệp tư nhân thường
hướng vào các tiến bộ gắn chặt vào sản phẩm, và ít khi đầu tư vào các tiến bộ kỹ
thuật không gắn trực tiếp vào sản phẩm, vì điều này không có lợi cho việc kinh
doanh mua bán sản phẩm của họ [34].
Tiến bộ kỹ thuật cũng có thể chia theo dạng hoặc hướng phục vụ của nó
để giải quyết các câu hỏi về mặt chính sách hoặc hiểu rõ hơn về những thế lực
đứng phía sau sự phát triển và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Ví dụ tiến bộ về sinh
học (giống cây trồng), tiến bộ về công nghệ hóa học (phân bón hóa học, thuốc
bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu), tiến bộ về kỹ thuật cơ giới hóa (máy kéo, máy
gặt đập liên hợp), tiến bộ về nông học (quản trị dinh dưỡng tổng hợp, quản trị
dịch bệnh tổng hợp), tiến bộ về công nghệ thông tin nông nghiệp,…Rõ ràng là
các tiến bộ kỹ thuật này sẽ có liên quan đến các câu hỏi về mặt chính sách khác
nhau. Ví dụ: phát triển của tiến bộ cơ giới như máy gặt đập liên hợp, máy cày, sẽ
18
làm ảnh hưởng đến lực lượng lao động. Tiến bộ về hóa học một mặt làm tăng
năng suất nhưng mặt khác là nỗi lo về mặt chất lượng và vấn đề suy thoái và ô
nhiễm môi trường.
Tiến bộ kỹ thuật còn có thể phân chia thành tiến bộ về cả quy trình (bổ
sung gene cho cây hoặc con) hoặc tiến bộ về sản phẩm; hoặc tiến bộ kỹ thuật
trực tiếp ảnh hưởng đến các thành phần kinh tế hay ảnh hưởng đến thị trường
nông sản, mà tất cả những ảnh hưởng này cần được xem xét đồng thời. Ví dụ
như tiến bộ về gia tăng năng suất, giảm giá thành sản xuất, giảm rủi ro, nâng cao
chất lượng, góp phần bảo vệ môi trường,… Hầu hết các tiến bộ kỹ thuật đều
nằm trong các loại này: Ví dụ một loại thuốc bảo vệ thực vật sẽ gián tiếp giúp
tăng năng suất, giảm bớt rủi ro về kinh tế cho người sản xuất nông nghiệp,

Trong một nghiên cứu rất quan trọng của về vấn đề rủi ro, áp dụng tiến bộ
kỹ thuật và hình thành quyết định của nông dân, đã cho thấy mặc dủ một tiến bộ
kỹ thuật đã mang lại một năng suất cao hơn, nhưng quyết định của nông dân dựa
theo mức độ biến thiên của năng suất của tiến bộ đó. Wharton đã nhận thấy rằng
người nông dân sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp luôn giữ khái niệm “mức độ an
toàn tối thiểu về năng suất”, mà dưới mức này họ không thể tồn tại. Trong
nghiên cứu của Wharton cho thấy năng suất của giống lúa địa phương thấp hơn
năng suất của giống lúa cải tiến, có độ biến thiên rất thấp và sản lượng hàng năm
không khi nào thấp hơn mức sản lượng tối thiểu theo nhận thức của người nông
dân. Tuy nhiên, trong những năm có điều kiện thời tiết không thuận lợi thì giống
cải tiến mang lại một sản lượng không thể chấp nhận được theo quan điểm ‘tồn
tại’. Như vậy, tiêu chuẩn ‘rủi ro tối thiểu’ của các giống lúa ngắn ngày năng suất
20
cao thấp hơn các tiêu chuẩn này của các giống địa phương và như thế người
nông dân không sẵn lòng để chấp nhận rủi ro cho sự tồn tại cơ bản của gia đình
họ và đã không áp dụng tiến bộ kỹ thuật của giống lúa ngắn ngày năng suất cao
[39].
Trên cơ sở và bối cảnh nghiên cứu này, Wharton đã tìm thấy có 6 yếu tố
chính giải thích lý do mà nông dân không sẵn lòng áp dụng kỹ thuật mới: Không
biết hoặc không hiểu về tiến bộ kỹ thuật mới do đó không dám áp dụng; Không
có đủ năng lực để thực hiện: vì không có kiến thức, kỹ năng mới để thực hiện;
Không được chấp nhận về mặt tâm lý văn hóa và xã hội: do nông dân sản xuất
theo tập quán nông nghiệp truyền thống, tự cung tự cấp, cách tính toán không
phải trên giấy mà bằng kinh nghiệm và suy nghĩ riêng; Không thích nghi: do
không biết kỹ thuật mới có thích nghi với điều kiện địa phương không. Không
khả thi về nguồn lực kinh tế: do chi phí tăng cùng với sản lượng tăng nhưng sản
lượng thấp hơn cách tích truyền thống; và không sẵn có một số điều kiện khác
để áp dụng [27].
Tóm lại, khi nghiên cứu về hành vi quyến định áp dụng tiến bộ kỹ thuật
của nông dân thì giả định về hành vi né tránh rủi ro phải được đề cập. Trong

và bắp, nhưng giờ đây ngành chăn nuôi phải nhập khẩu cả cám gạo và khoai
mỳ về chế biến, do khoai mỳ dùng để xuất khẩu chế biến xăng sinh học
ethanol. Trong khi đó, nguyên liệu thức ăn giàu đạm như khô dầu đậu nành,
bột cá, bột thịt phải nhập 90-95%; các loại chất khoáng, vitamin, tạo mùi lên
22
đến 100%. Năm 2010, Việt Nam nhập khẩu 12,4 triệu tấn nguyên liệu thức ăn
chăn nuôi, tương đương 2,7 tỷ USD (năm 2009 là 2,1 tỷ USD với 10 triệu tấn
nguyên liệu), dự kiến 2011 con số này sẽ trên 3 tỷ USD [15].
Từ những đặc điểm trên ta có thể thấy có những lợi thế và những
nhược điểm trong phát triển chăn nuôi ở nước ta, đòi hỏi sự cải tiến và cả tái
cấu trúc trong điều kiện thiên tai dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí
hậu và quá trình hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay.
Ngày 18-19/01/2007 tại Hải Phòng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn chủ trì phối hợp với UBND, Sở Nông nghiệp và PTNT thành phố Hải
Phòng đã tổ chức Hội nghị tổng kết chăn nuôi trang trại, tập trung giai đoạn
2001-2006, định hướng và giải pháp phát triển giai đoạn 2007-2015 do Thứ
trưởng Hồ Xuân Hùng chủ trì, với sự tham gia của lãnh đạo Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các
trường, viện khối nông, lâm nghiệp; các chủ trang trại chăn nuôi điển hình ở
miền Bắc và một số cơ quan thông tin đại chúng,…
Hội nghị đã thông qua báo cáo tổng kết chăn nuôi trang trại, tập trung
giai đoạn 2001-2006, định hướng và giải pháp phát triển giai đoạn 2007-
2015 và các báo cáo tham luận của các chủ trang trại chăn nuôi điển hình,…
Hội nghị kết luận
Thành tựu
- Phát triển kinh tế trang trại, tập trung thành công là sự đột phá tư duy
từ sản xuất nhỏ, phân tán, sang sản xuất tập trung, sản xuất hàng hoá lớn theo
nhu cầu của thị trường.
- Khẳng định tính đúng đắn về quan hệ sản xuất mà trong đó kinh tế
hộ-kinh tế trang trại là một bộ phận quan trọng thúc đẩy kinh tế nông nghiệp,

- Đất đai đang là vấn đề bức xúc không chỉ về thời gian cho thuê, việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà cả về diện tích cần cho phát triển
trang trại.
- Các quy định của các cơ quan quản lý Nhà nước như: thú y, kiểm tra,
kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng TACN, nhiều việc, nhiều
nơi chưa vì lợi ích, sự phát triển của trang trại chăn nuôi, thậm chí một số vấn
đề chưa có kết luận cuối cùng đã công bố trên phương tiện thông tin đại
chúng, gây thiệt hại cho người sản xuất. Chưa tạo môi trường tốt cho phát
triển trang trại, thậm chí còn sử dụng quyền hành chính, gây khó khăn cho sản
xuất kinh doanh.
- Quan tâm chưa đầy đủ hạ tầng liên quan, hạ tầng môi trường cho chăn
nuôi trang trại. Trong khi KCN, các cơ sở cụm công nghiệp được đầu tư hạ
tầng khá tốt.
- Vấn đề vốn vay, khuyến nông, bảo hiểm, thị trường cho ngành chăn
nuôi, chăn nuôi trang trại là vấn đề đặt ra và xử lý nghiêm túc.
Giải pháp
- Tập trung quyết liệt khắc phục những nhược điểm thuộc về Nhà nước.
- Cải cách thủ tục hành chính, công khai các chính sách, quyết định liên
quan, tạo môi trường để trang trại chăn nuôi phát triển nhanh, bền vững.
- Nâng cao vai trò của các tổ chức hiệp hội ngành nghề. Khuyến khích
phát triển trang trại tổng hợp đa dạng, đa ngành
- Tập trung xử lý vấn đề môi trường, chất thải gắn với dự án phát triển
chăn nuôi tập trung (Hội nghị tổng kết chăn nuôi trang trại, tập trung. [19].
25
1.5. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CHĂN NUÔI LỢN VÀ CHĂN NUÔI LỢN THỊT
TRONG NỀN KINH TẾ
1.5.1. Vị trí của chăn nuôi lợn nói chung và chăn nuôi lợn thịt nói riêng
Chăn nuôi lợn có vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi của nước ta. Sự
hình thành nghề nuôi lợn cùng với lúa nước đã cho chúng ta khẳng định nghề
nuôi lợn có vị trí hàng đầu, việc tiêu thụ thịt lợn trong bữa ăn của người Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status