1
PHềNG GD&ĐT HƯNG NGUYấN
TRƯỜNG TIỂU HỌC HƯNG LAM
Sỏng kiến
Năm học 2009- 2010
Một số giải phỏp bồi dưỡng học sinh
yếu
về giải toỏn ở lớp 3
Họ và tên: lê Thị hoài
Chức vụ: Giáo viên dạy lớp 3
Đơn vị : Trường tiểu học Hưng lam
Hưng lam , tháng 04 năm 2009
Phần thứ nhất
Đặt vấn đề
Vì dậy học nhiều năm lớp 3 nên tôi nhận thấy : Trên
thực tế của từng lớp, từng trường nói riêng, các trường nói
chung đều có một số em giỏi toán và một số em kém toán.
Những em giỏi thì say mê học tập. Những em yếu kém thì
lười học, sợ học và chán học.
Việc dạy toán có lời văn ở lớp 3 nói riêng, ở tiểu học nói
chung chiếm một ví trí khá quan trong. Có thể coi việc dạy -
học toán có lời văn là hòn đá thử vàng của dạy và học toán.
Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và
linh hoạt, huy động hết các kiến thức và khả năng sẵn có
vào các tình huống khác nhau, trong điều kiện phải biết
phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra
một cách tường minh và ở chừng mực nào đó, phải biết suy
nghĩ năng dộng và sáng tạo. Vì vậy, có Thể coi giải toán có
lời văn là một trong những biểu hiện năng động của hoạt
động trí tuệ của học sinh.
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài : "Bồi dưỡng học sinh
1. Điều tra phân loại học sinh yếu về giải toán ở lớp
Nhất là những em yếu kém về giải toán, ngay từ đầu
năm khi nhận lớp tôi phải phân loại từng em, yếu kém loại
toán điển hình nào để tôi có kế hoạch kèm cặp, hướng dẫn
phương pháp giải toán kịp thời cho từng em.
Lớp tôi có các em Chung, Vĩ, Thái, Anh, Hiên, tuyền
là những em giải toán còn yếu. Các em thường sợ làm loại
toán này. Các em không biết giải, hay trả lời sai, làm tính
không đúng. Tôi luôn quan tâm động viên các em chăm
học, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả năng của
mình để suy nghĩ, phán đoán tìm cách giải đúng.
Trong các giờ lên lớp tôi luôn động viện cho các em suy
nghĩ tìm ra cách giải. Tôi thường xuyên kiểm tra bài làm của
em trên lớp, chấm chữa tay đôi với học sinh để củng cố
kiến thức. Tuyên dương khen thưởng kịp thời bằng điểm số
nếu các em có cố gắng (mặc dù chưa đạt yêu cầu) để các
em phấn khởi học tập xoá đi ấn tượng sợ giải toán.
Về nhà : Tôi yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở
lớp để các em yếu kém nắm vững cách giải. Lần sau gặp
4
loại bài như thế là làm được ngay. Tôi còn yêu cầu phụ
huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm
hướng dẫn con học ở nhà giúp các em làm đầy đủ bài tập
cô giao. Ngoài ra tôi còn giao cho những em giỏi toán ở lớp
mỗi em giỏi giúp một em kém. Lập thành đôi bạn cùng tiến
bằng cách : Giờ truy bài kiểm tra bài làm của bạn. Nếu bạn
giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương
pháp giải toán. Khi giao bài về nhà không nên giao nhiều,
chỉ cần giao 1 đến 2 bài cho học sinh làm thôi, tôi lồng thêm
những bài toán vui gắn với thực tế giúp các em hứng thú
thể hiện khả năng chính mình.
Vai trò của người thầy rất quan trọng. Lời phát biểu của
các em dù đúng hay sai, giáo viên cũng phải có lời động
viên hợp lý. Nếu học sinh phát biểu sai, hoặc chưa đúng,
6
giáo viên động viên "gần đúng rồi, con cần suy nghĩ thêm
nữa, thì sẽ đúng hơn " giúp các em cố gắng suy nghĩ làm
bằng được, chứ không nên nói "sai rồi, không đúng " làm
mất hứng của học sinh, ức chế học sinh tự ti, chán học.
Bước này là bước quan trọng giúp học sinh không sợ
giải toán, thích thi nhau làm để khẳng định mình, từ đó có
kỹ năng giải toán vững chắc với lời giải thông thường ở lớp
1, 2.
3. Định hướng cho học sinh giải được các bài toán
có dữ kiện cụ thể sang giải các dạng toán điển hình của
lớp 3
- Gấp 1 số lên nhiều lần
- Giảm 1 số đi nhiều lần
- Tìm 1 phần mấy của một số
Giải toán tổng hợp bằng 2 phép nhân chia có liên quan
rút về đơn vị.
Giải bài toán tổng hợp bằng 2 phép chia có liên quan
đến rút về đơn vị
Ví dụ: Thuý có 10 nhãn vở, Lan có 20 nhãn vở. Hỏi hai
bạn có bao nhiêu nhãn vở ? Bạn nào nhiều hơn và nhiều
7
hơn bao nhiêu nhãn vở ? Lan có số nhãn vở gấp mấy lần
Thuý ?
Đối với bài này có nhiều câu hỏi khác nhau, giáo viên
phải hướng dẫn học sinh giải tương ứng với yêu cầu của
Ví dụ: Tùng có 12 hòn bi, Tùng có nhiều hơn Hùng 2
hòn bi. Hỏi 2 bạn có bao nhiêu hòn bi ?
Giải
Số bi của Hùng có là :
12 - 2 = 10 (hòn bi)
Số bi của 2 bạn đó là :
9
12 + 10 = 22 (hòn bi)
Đáp số : 12 hòn bi
Ví dụ: Thuỷ có 30 qua tính. Thuỷ có gấp 3 lần Hà. Hỏi 2
bạn có bao nhiêu que tính ?
Giải
Số que tính của Hà là :
30 : 3 = 10 (que tính)
Số que tính của 2 bạn là :
30 + 10 = 40 (que tính)
Đáp số : 40 que tính
Với biện pháp này : Các em được nâng cao trình độ tư
duy lên 1 bước. Từ đó các em chọn cách giải đúng, chính
xác để hình thành kỹ năng giải toán có lời văn rõ ràng,
chính xác.
4. Từ tư duy đúng, tìm được cách giải đúng giúp các
em trình bày bài giải đúng.
Hợp lý về lời giải, về phép tính, cách ghi tên đơn vị và
ghi đáp số để hoàn thiện bài toán.
10
Bước này tuy đơn giản nhưng tương đối khó với học
sinh. Đó là lời văn ngắn gọn, chính xác, đúng nội dung bài
để trả lời (phép tính tìm gì ?) theo thứ tự.
Lời giải: Phép tính - lời giải - phép tính - đáp số.
mình là cần thiết.
Ví dụ: Thắng cắt được 12 lá cờ. Toàn cắt được nhiều
gấp đôi Thắng. Hỏi 2 bạn cắt được bao nhiêu lá cờ?
Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kỹ đầu bài toán.
Tóm tắt đầu bài bằng cách vẽ sơ đồ (nếu vẽ được) để tìm
ra cách giải đúng, và nhiều cách khác.
12
Tóm tắt ?
Thắng : 12 lá cờ
Toàn : Gấp đôi (gấp 2)
Giải Cách1:
Số lá cờ bạn Toàn cắt được là :
12 x 2 = 24 (lá cờ)
Số lá cờ 2 bạn cắt được là :
12 + 24 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Nhìn vào sơ đồ các em tìm cách giải khác
Có em sẽ giải như sau :
Giải Cách 2:
Số lá cờ 2 bạn cắt được là
12 x 2 + 12 = 36 (lá cờ)
Đáp số : 36 lá cờ
Giáo viên giải thích cho học sinh hiểu : Thực ra cách
này chính là cách 1 : giải gộp 2 phép tính trên mà thôi. Sau
đó giáo viên gợi ý quan sát sơ đồ tìm cách giải khác : Giáo
viên cho học sinh nhận xét.
Số lá c ờ của Thắng biểu thị mấy đoạn thẳng ? (1 đoạn
thẳng)
Số lá c ờ của Toàn biểu thị mấy đoạn thẳng ? (2 đoạn
thẳng)
IV. kết quả
Trong những năm qua, tôi đã thực hiện những biện
pháp này giúp học sinh yếu kém, trung bình về giải toán có
nhiều tiến bộ trong giải toán rõ rệt. Các em từ chỗ sợ học
toán, ngại giải toán đến chỗ các em không ngại nữa mà lại
thích giải toán để khẳng định khả năng chính mình.
Trong nă m học này , ngay từ đầu năm học, lớp tôi có
những em yếu toán như em : Chung, Vĩ, Thái, Anh, Hiên,
tuyền Tôi dự kiến sẽ áp dụng sáng kiến vào giảng dạy
sau đó sẽ đánh giá tổng hợp vào biểu sau
Điểm Đầu năm Giữa HK1 Cuối HK1 Giữa HK2Cuối KH2
Chung 3 3 4 7 6
V ĩ 4 5 5 6 6
Thái 4 4 4 9 7
Anh 4 4 6 6 8
Hiên 2 3 4 4 7
Tuyền 3 5 6 5 5
Biểu đánh giá kết quả chung của lớp:
Xếp loại Giỏi Khá Trung bình Yếu
Đầu năm 25 15 6 3
Giữa HK1 25 12 9 3
15
Cuối HK1 26 10 8 5
Giữa HK2 26 10 10 3
Cuối HK2 26 10 13 0
16
Phần thứ ba
Kết luận và kiến nghị
I. Kết luận:
Kết thúc năm học, trên cơ sở kết quả đạt được của
Người viết sáng
kiến
Lê
Thị Hoài
Xếp loại của Hội đồng xét duyệt SK các cấp
18
2021