SKKN ứng dụng CNTT trong dạy học giải quyết vấn đề qua tiết ôn tập hình 9 ( chương 1) - Pdf 24

1
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ TAM KỲ
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ NGUYỄN DU
*********
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
QUA TIẾT ÔN TẬP HÌNH 9
(CHƯƠNG I).

NĂM HỌC: 2012- 2013
Giáo viên thực hiện: Võ Thị Minh Nguyệt
Đơn vị: Tổ Toán- Lý- Tin
Trường THCS Nguyễn Du- TP Tam Kỳ
2
I) TÊN ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ QUA TIẾT ÔN TẬP HÌNH 9 (CHƯƠNG I)
II) ĐẶT VẤN ĐỀ:
1) Sự cần thiết khách quan và tác dụng của việc vận dụng công nghệ thông
tin trong giảng dạy ôn tập hình học lớp 9.
Tiết ôn tập môn hình học luôn cần thiết cho giáo viên và học sinh qua
mỗi chương học. Nhưng sự chăm chỉ của học sinh yếu và trung bình môn toán
chưa cao, do đó đến tiết ôn tập học sinh đại trà cảm thấy luôn bị dồn tải lượng
kiến thức. Việc hệ thống lý thuyết chương bằng phương pháp bảng phấn chưa
hấp dẫn học sinh; bài tập ôn tập chương thường là các bài tổng hợp kiến thức,
phong phú và đa dạng. Việc tư duy nhanh khi hệ thống các kiến thức, vận

và công sức của Thầy nên việc vận dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
vẫn còn hạn chế.
Thực tế cho thấy: 45 phút của tiết dạy ôn tập hình học, giáo viên chỉ kịp
hệ thống phần lý thuyết rồi vận dụng kiến thức cần ôn luyện qua một bài tập
tổng hợp, điều đó chỉ mới đáp ứng được việc nắm bài của học sinh khá giỏi.
Việc rèn kỹ năng giải bài tập cho đa số học sinh lớp chưa có hiệu quả cao.
Khi vận dụng giảng dạy bằng phương pháp đặt vấn đề theo cách dạy truyền
thống thường mất nhiều thời gian, đa phần chỉ có học sinh khá giỏi tiếp cận
và giải quyết được vấn đề nêu ra của giáo viên.
Học sinh giỏi đội tuyển khi được giáo viên bồi dưỡng thường được giảng dạy
theo phương pháp bảng đen- phấn trắng, ít kết hợp phương pháp giảng dạy
hiện đại nên kỹ năng trình bày lời bài giải (nói như viết toán học) cho một
yêu cầu bài toán thì học sinh khá giỏi vẫn còn lúng túng trong cách diễn đạt
cách giải qua các hình ảnh được giáo viên trình chiếu trên bài giảng điện tử.
Khi kiểm tra học kỳ I, học kỳ II hay các kỳ thi học sinh giỏi cấp cơ sở
nội dung đề của bài tập hình thường tổng hợp kiến thức toàn chương hay
tổng hợp kiến thức trọng tâm của cả học kỳ. Thống kê chất lượng sau mỗi
học kỳ cho thấy số điểm bài làm bộ môn hình của học sinh khá giỏi vẫn còn
khiếm khuyết, còn học sinh đại trà luôn cho bài tập hình trong các đề kiểm
tra là một trở ngại lớn.
3) Nguyên nhân:
Những tồn tại trong thực trạng vừa nêu trên do các nguyên nhân sau:
- Trong các tiết giảng dạy trên lớp, việc chú trọng đổi mới phương pháp giảng
dạy về đặt và giải quyết vấn đề của giáo viên chưa được thường xuyên. Khâu
hướng dẫn học và làm bài tập về nhà cho học sinh chưa được cụ thể, công
việc cho học sinh làm về nhà để phục vụ cho tiết học sau chỉ được giáo viên
dặn dò sơ sài. Việc chuẩn bị bài mới hay bài tập về nhà cho tiết ôn tập của đa
số học sinh trung bình thường thiếu sót do việc nắm kiến thức và vận dụng
kiến thức vào giải bài tập ở học sinh còn sai sót, tính chịu khó khi làm bài tập
về nhà lại chưa cao. Giáo viên và phụ huynh chưa có thời gian để thường

* Lý do chọn đề tài:
Những thực tế và nguyên nhân trên làm tôi thật sự quan tâm, tôi đã đầu
tư đổi mới bài soạn và nhận thấy dạy ôn tập hình học có ứng dụng công nghệ
thông tin hỗ trợ tốt cho phương pháp giảng dạy đổi mới của giáo viên, trong
đó dạy học đặt và giải quyết vấn đề mang lại hiệu quả cao về mặt thời gian và
đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng tư duy mới, cách học mới cho
học sinh. Nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực học tập, chủ động, biết
hệ thống kiến thức đã học và vận dụng kiến thức đó vào giải quyết đúng yêu
cầu đề của mỗi dạng bài tập ôn tập, tạo niềm tin cho học sinh trong các kỳ
kiểm tra, tạo thói quen tốt cho việc tự học, phát hiện và bồi dưỡng kịp thời
học sinh giỏi đồng thời hoàn thiện dần phương pháp dạy học tích cực, tôi
chọn đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giải quyết vấn đề
qua tiết ôn tập hình 9 (chương I)”.
*Giới hạn nghiên cứu:
Đối tượng: học sinh lớp 9
2
.
Để xây dựng tốt phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, tạo điều kiện
thuận lợi cho học sinh tích cực chủ động nắm kiến thức và vận dụng có hiệu
quả kiến thức đã học vào tiết ôn tập chương, tôi đã từng bước vận dụng đổi
mới phương pháp giảng dạy qua các tiết trong chương I:
- Tiết 1: Một số hệ thức về cạnh và
đường cao trong tam giác vuông.
- Tiết 3: Luyện tập.
- Tiết 5: Tỉ số lượng giác của góc
nhọn.
- Tiết 11: Một số hệ thức về cạnh và
góc trong tam giác vuông.
- Tiết 13: Luyện tập
- Tiết 17 & 18: Ôn tập chương I.

cao kỹ năng thiết kế bài giảng giáo án điện tử. Năm học 2012- 2013 này,
Trường THCS Nguyễn Du cũng đầu tư trang thiết bị hoàn chỉnh hai phòng
dạy phục vụ việc giảng dạy bài giảng điện tử của giáo viên để nâng cao chất
lượng dạy và học. Đa số giáo viên đã giảng dạy bài giảng điện tử.
Ứng dụng công nghệ thông tin qua “Bài giảng điện tử” giúp giáo viên
thực hiện nhiều thứ mà cách dạy bảng phấn thực hiện chưa có hiệu quả cao
như: hệ thống hay củng cố kiến thức cho học sinh qua sơ đồ tư duy với thời
gian ít nhất, tài liệu minh họa đa dạng và phổ biến đến từng học sinh dưới
nhiều hình ảnh trực quan luôn giúp học sinh hứng thú trong việc tiếp cận, tự
kiểm tra và đánh giá kiến thức đã học trong chương. Giúp giáo viên có nhiều
thời gian để tập trung chỉ đạo học sinh tăng cường quá trình học, tạo sự chủ
động nhận thức, sáng tạo, nâng cao chất lượng của hoạt động học, hỗ trợ tốt
việc tự học, tự đánh giá, ôn tập củng cố, tư duy hoá kiến thức. Do đó sử dụng
bài giảng điện tử trong các tiết ôn tập là điều kiện tốt nhất để giáo viên tập
6
trung trí tuệ vào việc tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh
đồng thời nâng cao hiệu quả giảng dạy bộ môn.
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là một phương pháp không thể
thiếu trong việc giúp học sinh tự hình thành năng lực tự học, giúp học sinh
vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó
một cách chủ động, sáng tạo đồng thời trang bị cho học sinh năng lực thích
ứng với đời sống xã hội: biết phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn
đề nảy sinh trong thực tế đời sống.
Qua thống kê tìm hiểu chất lượng học tập của học sinh lớp chín hai từ
đầu năm 2012- 2013 tôi ghi nhận được:
Chất lượng của việc tự học ở nhà và thái độ, nề nếp học tập của học
sinh tại lớp vào tháng đầu năm học 2012- 2013:
- Kiến thức của bài học mới, học sinh đại trà chưa biết hệ thống và xây dựng
các mối liên quan với nhau, chưa thật sự có cách học nhớ, khắc sâu kiến thức.
- Bài học, bài tập về nhà của học sinh đại trà vẫn còn vài tiết chưa chuẩn bị

Chất
lương
kiểm tra
hình
Học
sinh
lớp 9
2
(40
HS)
SỐ
LƯỢNG
5
TỈ LỆ:
12,5 %
SỐ
LƯỢNG
8
TỈ LỆ:
20 %
SỐ
LƯỢNG
18
TỈ LỆ:
45 %
SỐ
LƯỢNG
5
TỈ LỆ:
12,5 %

môn và lên phương hướng cho tháng sau.
- Sử dụng triệt để các đồ dùng dạy học sẵn có trong phòng bộ môn.
Để có được hiệu quả trong tiết ôn tập chương từng bước giảng dạy tôi đã áp
dụng các biện pháp sau:
Các biện pháp chính Biện pháp hỗ trợ
1) Biện pháp 1: Đầu tư soạn giảng, đổi mới việc
thiết kế bài soạn qua các phần mềm tin học.
2) Biện pháp 2: Chú trọng khâu chuẩn bị bài học,
rèn phương pháp tự học cho học sinh ở nhà đồng
thời tổ chức cho học sinh tăng cường các hoạt
động học ở lớp.
3) Biện pháp 3: Thực hiện nội dung và phương
pháp kiểm tra, đánh giá mới theo chuẩn kiến thức
– kỹ năng.
4) Biện pháp 4: Kết hợp tốt sự chỉ đạo chuyên
môn của Ban Giám Hiệu, Tổ chuyên môn, Phòng
bộ môn và hỗ trợ đắc lực của phụ huynh học sinh.
1) Biện pháp 1: Rèn
học sinh đổi mới
phương pháp học tập
qua các bài trong
chương I.
2) Biện pháp 2:
Tăng cường hoạt động
học của học sinh qua
vui học, hoạt động
nhóm.
MINH HOẠ CÁC BIỆN PHÁP:
1) Biện pháp 1: Đầu tư soạn giảng, đổi mới việc thiết kế bài soạn qua các
phần mềm tin học.

cho kết quả đúng)
- Các công thức này vận
dụng làm gì? Mỗi công
thức, hãy phát biểu thành
lời?
- Tương tự, giáo viên đặt
câu hỏi cho học sinh tự hệ
thống lần lượt các kiến
thức trọng tâm ở chương I
- Học sinh tham gia luyện
ngôn ngữ, nhận xét và
hoàn chỉnh nội dung lý
thuyết cần ôn.
Hiệu quả: Điểm sáng tạo mới của giáo viên trong thiết kế bài giảng trên
phần mềm imindmap 6.0 có kết hợp powerpoint đã giúp học sinh phát
huy tính chủ động, độc lập trong việc tự hệ thống lại các đơn vị kiến
thức cần ôn, đem đến sự chủ động tự tổng hợp các mạch kiến thức đã
học. Học sinh không bị buột tư duy theo hình ảnh trình chiếu hay dẫn
dắt của giáo viên, điều đó giúp học sinh nhớ lâu bài học hơn.
(Xin xem thêm minh họa trong dĩa mềm tiết 17: ôn tập chương)
Hay bài tập cần rèn kỹ năng, trên Powerpoint tôi đã xây dựng nội dung:
Hình ảnh trình chiếu trực quan Hoạt động của GV và HS
- GV lần lượt trình chiếu các
hình ảnh, cho học sinh quan
sát rồi từng bước gợi ý để
học sinh biết tự hình thành
đề bài toán.
- Học sinh quan sát lần lượt
các hình trên màn hình, theo
dõi các hiệu ứng của cạnh,

luyện được nhiều dạng bài tập, sự tương tác giữa trò với trò; thầy với trò luôn
đạt mục tiêu bài học. Tôi đã rèn phương pháp tự học ở nhà cho học sinh qua
khâu hướng dẫn bài tập về nhà vào cuối mỗi tiết học.
Ví dụ: khi dạy tiết ôn tập 17 & 18, trong tiết dạy 16 tôi đã hướng dẫn
về nhà cho học sinh tự học phần lý thuyết của chương, sau đó đến lớp hướng
dẫn học sinh tự hệ thống phần lý thuyết qua sơ đồ tư duy:
Hướng dẫn của giáo
viên với phương pháp
đặt và giải quyết vấn đề
Nội dung cần ôn luyện và hiệu quả đạt được
10
- Giáo viên trình chiếu lần
lượt khung sơ đồ tư duy:
Các kiến thức trọng tâm
trong chương I đã học là
gì? (học sinh liệt kê được
ba mạch kiến thức cần
ôn)
- Các hệ thức về cạnh và
đường cao trong tam giác
vuông là gì? (Gv cho học
sinh tự ghi hệ thức ở bảng
con).
- Yêu cầu học sinh đưa
bảng phụ lên kiểm tra và
gọi học sinh phát biểu lần
lượt nội dung từng hệ
* Nội dung học sinh tự hệ thống phần lý thuyết
chương I:
thức đó.

hiểu.
- Sơ đồ tư duy giúp giáo viên tóm tắt nội
dung ôn tập từng chủ đề kiến thức trong
chương, các mối liên hệ của nội dung
từng chủ đề rõ ràng; tải đến học sinh phần
ôn luyện kiến thức với cách học khắc sâu
kiến thức. Đồng thời giáo viên cũng đánh
giá được việc nắm kiến thức cũ của học
sinh với thời gian ít nhất, chỉnh sửa có
hiệu quả nhất trong việc rèn ngôn ngữ
toán cho học sinh.
Để học sinh tự hình thành cách học ở nhà một cách độc lập, tôi đã soạn
các bài tập trên HotPotatoes và tổng hợp kiến thức phần lý thuyết qua sơ đồ tư
duy rồi gởi qua email cho các nhóm học sinh để các em về nhà có thời gian ôn
luyện hơn. Ví dụ:
11
Nội dung cần cho học sinh tự rèn luyện ở nhà Hiệu quả đạt được
* Kiến thức tự ôn về hệ thức lượng trong tam giác
vuông
- Nội dung cần học về tỉ số lượng giác trong tam
giác vuông
- Học sinh được ôn
luyện trực tiếp trên
các bài tập có định
lượng thời gian, được
củng cố kiến thức cũ,
biết tự hệ thống lý
thuyết, đa số học sinh
nắm chắc kiến thức
đã học, tư duy nhạy

- Học sinh tự đối thoại lẫn nhau,
nhận xét, tự củng cố kiến thức.
12
Tôi còn tăng cường sự tự tin, cách học độc lập và đối thoại giữa học
sinh với nhau qua các bài tập trắc nghiệm khách quan có định lượng thời gian
(từ 1 đến 3 phút) trên phần mềm HotPotatoes. Ví dụ:
- Gv trình chiếu nội dung
bài tập, cho học sinh hoạt
động nhóm: mỗi nhóm có
một bài tập với ba phút làm
bài, đại diện nhóm sẽ lên
thao tác trên máy vi tính
chọn kết quả. Nhóm còn lại
sẽ lên kiểm tra, chỉ ra chỗ
đúng hoặc sai của nhóm
bạn, Gv nhận xét. Học sinh
tự chốt lại kiến thức vừa vận
dụng.
3) Biện pháp 3: Thực hiện nội dung và phương pháp kiểm tra, đánh giá
mới theo chuẩn kiến thức – kỹ năng.
Khi dạy ôn tập tôi đã kiểm tra miệng đa số học sinh lớp khi hướng dẫn
học sinh hình thành sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức trọng tâm của chương,
việc kiểm tra và đánh giá kỹ năng tính toán của học sinh qua các bài tập trắc
nghiệm khách quan cũng được thường xuyên đổi mới. Tôi đã hướng dẫn học
sinh tự đánh giá lẫn nhau bằng hình thức kiểm tra chéo bài làm tự luận lẫn
nhau có cộng điểm tốt. Ví dụ:
- Nhóm 1 quan sát hình ảnh trình
chiếu, nắm yêu cầu đề, tự thảo luận
để giải bài tập, đại diện nhóm lên
bảng trình bày bài, học sinh lớp nhận

0
19B =
,
độ dài AB = 4,3 km; BC = 2,8 km.
a) Hãy tính độ cao của dốc tại đỉnh C.
b) Nếu người ta làm một dây cáp treo từ A đến C thì cần một dây cáp có
độ dài tối thiểu là bao nhiêu?
Đặt vấn đề của giáo viên với phương
pháp quy lạ về quen, định hướng giải
trên sơ đồ tư duy
Hiệu quả đạt được
- Giáo viên cho học sinh đọc đề, nắm yêu
cầu đề, quan sát màn hình nhận biết độ
cao dốc được cụ thể hóa theo hình là CL.
(
·
0
11BAH =
;
·
0
19CBK =
)
- Giáo viên hướng dẫn học sinh định
hướng cách giải bài tập qua sơ đồ tư duy.
- Yêu cầu học sinh trình bày lại các bước
làm và gọi học sinh lên bảng ghi bài làm.
- Cho học sinh lớp nhận xét, chốt kiến
thức vận dụng
*Hiệu quả:

quyết vấn đề, tăng cường hoạt động học bằng cách đặt ra một vấn đề mới có
nội dung liên quan đến tiết học, cho học sinh tiếp cận nắm bắt kiến thức mới
và hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức vừa học định hướng giải quyết
vấn đề đó.
Ví dụ khi dạy bài: “Tỉ số lượng giác của góc nhọn”, tôi đã đặt vấn đề
cho học sinh như sau:
Cho
ABCV
vuông tại A giả sử có độ dài các cạnh tăng theo bảng kê, em có
nhận xét gì về tỉ số các độ dài của chúng? (chưa trình chiếu tỉ số AC và BC)
Hình vẽ Độ dài AC 2,76 cm 3,45 cm 4,30 cm 6,31cm
Độ dài BC
Tỉ số
AC
BC
5,21 cm 6,52 cm 8,11 cm 11,90 cm
- GV gợi ý: dùng máy tính casio, tính tỉ số
AC
BC
rồi điền kết quả vào các ô
trống từ đó nêu nhận xét.
C
A B
15
- Học sinh nhận xét được: khi độ dài các cạnh tăng, tỉ số giữa hai độ dài cạnh
AC và BC đều bằng 0,53 là một số không đổi.
- Giáo viên trình chiếu tiếp hình ảnh trên Sketchpad: giới thiệu cạnh huyền
BC và độ dài AC là cạnh đối của góc B trong tam giác vuông ABC, giáo viên
cho học sinh quan sát điểm C di chuyển chậm trên tia BM đồng thời nắm bắt
sự thay đổi độ dài của hai cạnh, từ đó học sinh thấy được: khi độ lớn cạnh đối

lượng giác trong tam giác vuông, đồng thời biết tự hệ thống đơn vị
kiến thức đã học bằng rèn luyện ngôn ngữ qua sơ đồ tư duy; về nhà
học sinh tự hình thành cách học tự học, biết học nhớ và hiểu sâu kiến
16
thức mới.
Đặt vấn đề và hướng dẫn học sinh biết cách định hướng để giải quyết
vấn đề được tôi tiến hành thường xuyên (để làm tiền đề cho học tốt tiết ôn
tập). Chẳng hạn khi dạy bài hệ thức giữa cạnh và góc trong tam giác vuông,
tôi đã ra bài tập với nội dung đặt vấn đề như sau:
Một khu vườn hình tam giác có độ dài một cạnh là 2m và hai góc khu
vườn là 45
0
và 30
0
. Người ta muốn đánh luống để trồng hoa, các em hãy tính
diện tích khu vườn đó.
Tôi dùng phương pháp: quy lạ về quen, đưa nội dung bài toán về hình
vẽ: Cho
ABCV
có cạnh AB = 2cm,
µ
0
45B =
,
µ
0
30C =
. Tính diện tích
ABCV
.

học sinh giải quyết vấn đề đặt ra đầu tiết học bằng cách hướng dẫn học sinh
vạch hướng giải quyết bài toán qua sơ đồ:
* Hiệu quả:
Tăng cường hoạt động nhận thức cho học sinh từ những hình ảnh
đặt vấn đề cùng câu hỏi gợi ý của giáo viên đã giúp học sinh đổi mới cách
học: phải tìm tòi, suy nghĩ, thực hành nhiều hơn. Học sinh được quan sát,
dự đoán, nắm vấn đề đặt ra của giáo viên, được cùng nhau trao đổi và biết
giải quyết vấn đề đặt ra. Học sinh được thực hành nhiều hơn trên mỗi ý đồ
thiết kế bài giảng của giáo viên sẽ nhớ lâu kiến thức có tự tin trong học
tập.
* Đối chiếu:
So sánh với việc giáo viên ít sử dụng công nghệ thông tin với hình
thức đặt và giải quyết vấn đề trong soạn giảng năm học 2011- 2012:
- Khi dạy với phương pháp bảng đen- phấn trắng, giáo viên phải
dành nhiều thời gian cho việc làm đồ dùng dạy học trực quan trên các
17
bảng phụ, việc vận dụng kiến thức của học sinh trong luyện giải bài tập có
phần hạn chế. Khi chưa dạy học sinh luyện giải trên sơ đồ tư duy: số lượng
giải bài tập củng cố kiến thức cho học sinh thường là hai bài tập.
Năm học này, khi vận dụng phương pháp giảng dạy: đặt và giải
quyết vấn đề với các biện pháp trên, học sinh luôn được tăng cường các
hoạt động học, được thực hành nhiều hơn, học sinh nắm chắc kiến thức và
có sự chuyển biến rõ nét trong cách học ở lớp cũng như tự học ở nhà.
2) Biện pháp 2:
Tăng cường hoạt động học của học sinh qua vui học, hoạt động nhóm.
Khi không giảng dạy bằng bài giảng điện tử, tôi đã tận dụng các tiết
dạy phụ đạo (trong thời khóa biểu chính khóa), hay hướng dẫn học sinh trong
sinh hoạt 15 phút đầu giờ truy bài để tăng cường thêm các hoạt động học của
học sinh như: cho học sinh giải bài tập bằng cách lập và trình bày cách giải
bài toán qua sơ đồ phân tích đi lên hay tổ chức cho học sinh tham gia vui học.

I năm học 2012- 2013 so với điểm kiểm tra 45 phút tiết 19 hình 9 học kỳ I
cùng kỳ năm học 2011- 2012.
Tổng
số HS
lớp 9
được
thống
kê điểm
Điểm
8.0
->10.0
Điểm
6.5->
7.8
Điểm
5.0
-> 6.3
Điểm
3.5->
4.8
Điểm
2.0
->3.3
Điểm
0.0
->1.8
So sánh chất
lương kiểm
tra hình tiết
19 năm học

LƯỢNG:
1
TỈ LỆ:
2,6%
SỐ
LƯỢNG:
0
TỈ LỆ:
0%
- Tỉ lệ điểm
khá giỏi bài
kiểm tra tiết
19 kỳ I
năm học
2012 - 2013
cao hơn
điểm khá
giỏi của tiết
19 năm học
2011 - 2012
là 3,46%.
Bài kiểm
tra tiết
19 học
kỳ I năm
2011-
2012.
(Lớp 9/2
40 HS)
SỐ

học này tỉ lệ bài trung bình trở lên của học sinh vượt

4,7%
3) Kết quả qua thống kê số lượng truy cập Internet trong việc tự học, tham gia
giải toán trên mạng của học sinh khối 9 Trường THCS Nguyễn Du trong năm
học 2012 – 2013. (Tính đến thời điểm tháng 12/ 2012)
19
Thống kê tìm hiểu lượt trao đổi thông tin của học sinh qua các nhóm
học tập khi giáo viên gởi bài tự luyện qua các email cho học sinh, cùng với
phong trào vận động học sinh tham gia cuộc thi Violimpic Toán của ngành
giáo dục trong năm học này và qua báo cáo của giáo viên trực phòng Tin Học
Nhà Trường vào tháng 12/ 2012, tôi ghi nhận:
Số lượt HS truy cập Internet tìm
hiểu thông tin, trao đổi việc học tập;
tham gia thi Violimpic Toán
Số lượt học sinh truy cập Internet năm
học 2012 – 2013 so với năm học 2011
- 2012
- HS khá giỏi: bình quân 3 đến 5 lần
truy cập Internet trong 1 tháng.
- HS trung bình: bình quân 1 đến 3
lần một tháng tháng
- HS khá giỏi: bình quân tăng 13%
lượt truy cập Internet so với cùng kỳ
năm ngoái
- HS trung bình tăng 11% lượt truy
cập.
VII) KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
* Thuận lợi và khó khăn:
- Đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học giải quyết vấn

giúp giáo viên luôn tự học, tự rèn, nâng cao trình độ chuyên môn, tinh thần
đoàn kết nội bộ, giúp đỡ nhau trong giảng dạy là sức mạnh và là cơ sở để giáo
viên hoàn thành tốt nhiệm vụ giảng dạy theo đúng chỉ đạo của Ngành, bậc học
Trung Học Cơ Sở trong mỗi năm học.
- Đổi mới việc kiểm tra bài cũ dưới hình thức trắc nghiệm khách quan,
tăng cường việc tự học cho học sinh qua bài tập gởi lên Internet đồng thời đổi
mới việc kiểm tra 45 phút theo một ma trận đề thống nhất cho một khối lớp
luôn đem lại tính khách quan, công bằng đã giúp đội ngũ giáo viên giảng dạy
luôn đầu tư soạn giảng, làm cho chất lượng môn học ngày càng tiến bộ. Qua
đó việc đánh giá giảng dạy của Thầy và học tập của học sinh luôn có kết quả
chính xác hơn, góp phần tốt cho việc thực hiện “Hai không” một cách hiệu
quả.
- Tuy nhiên khi vận dụng dạy học ôn tập bằng bài giảng điện tử, với
cách đặt vấn đề thường mất nhiều thời gian, trong toán học lại khô khan, giáo
viên cần phải bám nội dung sách giáo khoa và sáng tạo trong cách thiết kế bài
giảng có hiệu quả trên các phần mềm tin học như: nêu cụ thể vấn đề cần ôn
luyện, hướng dẫn, tổ chức hoạt động nhận thức nhằm phát triển tư duy hay tái
hiện kiến thức trên sơ đồ tư duy một cách trực quan để học sinh nắm nhanh
vấn đề và định hướng giải quyết. Trên bài giải mẫu của giáo viên phải cô
đọng, mỗi thông tin trình chiếu đều phải cân nhắc kỹ lưỡng khi sử dụng trong
quá trình giảng. Giáo viên luôn phải có sự cần cù, tính tỉ mỉ và niềm đam mê,
biết kết hợp tốt phương pháp giảng dạy truyền thống với giảng dạy hiện đại
để việc thể hiện ý tưởng giảng dạy sáng tạo, lôi cuốn và sát đối tượng học
sinh vì đó chỉ là phương tiện hỗ trợ có hiệu quả nếu giáo viên biết đặt yêu cầu
hoạt động học của học sinh làm nền tảng và luôn trau dồi việc tự học, tham
khảo ý kiến các đồng nghiệp hay tự học thêm về trình độ tin học để bắt kịp
tiến độ công nghệ thông tin ngày càng mở rộng, hiện đại trên thế giới.
Những kinh nghiệm trên dù sao cũng không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất
mong sự góp ý chân thành của đồng nghiệp.
VIII) ĐỀ NGHỊ:


Câu 3: (1đ) Cho tam giác ABC vuông tại A.
Dựa vào quan hệ giữa cạnh và góc trong tam giác vuông. Tính:
a) AB = .………… = ……
b) AB = ………… … =
B- Tự luận (7 điểm)
Bài1 : (1.5đ)
a) AC
2
=
b) CH
2
=
c)
2
1
CH
=
d) CB .AC =
a) sin C =
b) cos C =
c) tan C =
d) cot C =
22
Sắp xếp các tỉ số lượng giác sau theo thứ tự tăng dần:
sin 72
0
; cos15
0
; cos 80

Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng
TN TL TN TL TN TL
Tỉ số lượng giác của góc
nhọn
1
(0.5)
1
(1)
2
(1.5)
Một số hệ thức về cạnh
và đường cao
1
(0.5)
1
(1.5)
1
(0.5)
3
(2.5)
Ứng dụng tỉ số lượng
giác của góc nhọn
1
(0.5)
1
(1)
1
(0.5)
1
(1.5)

* Giá trị của sin B là:
a.
3
4
b.
4
3
c.
5
4
d.
5
3
* Giá trị của tan C là:
a.
3
4
b.
4
3
c.
5
4
d.
5
3
3. Cho
α

β

22
.
11

1
ACAB
+=
5. Ghép mỗi biểu thức ở cột A với một số ở cột B để được một đẳng thức
đúng:
Cột A Cột B
a. sin
2
x + cos
2
x
b. 1+ tan x.cot x
c. 1- (sin
2
y + cos
2
y)
d. (1- cos
2
y) + cos
2
y
1) 0
2) 1
3) 2
Nối: a + b + c + d +

AH
.
- Câu 5: (1đ) Nối ghép: a +1; b +3; c +1; d +2
II. Tự luận: (7đ)
* Câu 1: (2đ) - Đổi về cùng một tỉ số lượng giác (tan hoặc cot) (1đ)
- Sắp xếp đúng (1đ)
* Câu 2: (2đ) - Hình vẽ (0,5đ)
- Tính được AB (0,5đ)
- Tính đúng mỗi góc B, C (0,5đ)
* Câu 3: (3đ) - Hình vẽ (0,5đ)
a/ (1đ) - Tính đúng mỗi ý (0,5đ)
b/ (1,5đ) - Chứng minh được tứ giác AMEN là hình vuông (0,5đ)
- Tính đúng độ dài cạnh của hình vuông (0,5đ)
- Tính đúng diện tích hình vuông (0,5đ)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status