Mở đầu
1. ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài.
Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên không thể đảo
ngược được. Đó là một trong những thách thức, sức ép lớn nhất đối với các
doanh nghiệp, các quốc gia trong kinh doanh và xây dựng các chương trình
kinh tế. Các doanh nghiệp và các quốc gia ngày càng nhận thức sâu sắc rằng
để đứng vững và phát triển được trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay
gắt này, họ không còn cách lựa chọn nào khác là phải kinh doanh hướng vào
chất lượng, coi chất lượng là một trong những mục tiêu hàng đầu. Chất lượng
đã trở thành yếu tố chính, yếu tố quyết định trong chiến lược kinh doanh trong
bất kể môi trường kinh doanh nào.
Vai trò của chất lượng trong cạnh tranh toàn cầu
Sau đại chiến thế giới thứ hai, các công ty và các quốc gia trên thế giới
ngày càng quan tâm nhiều hơn đến vấn đề chất lượng. Từ giữa thập kỷ 70, các
công ty của Nhật đã trở thành những người tiên phong trong lĩnh vực chất
lượng. Sản phẩm của các công ty hàng đầu Nhật đã được khách hàng ở mọi
nơi trên thế giới tiếp nhận vì có chất lượng cao và giá bán hạ. Sau những
thành công tuyệt vời của Nhật, các quốc gia trên thế giới đã không còn có sự
lựa chọn nào khác ngoài việc phải chấp nhận cuộc cạnh tranh bằng con đường
chất lượng. Muốn tồn tại và phát triển, bên cạnh họ giải quyết nhiều yếu tố
khác, chất lượng trở thành yếu tố then chốt và quyết định.
Xu thế toàn cầu hoá và các trào lưu của làn sóng kinh tế tri thức trong
những năm gần đây đã tạo ra những thách thức mới trong kinh doanh, khiến
các doanh nghiệp ngày càng coi trọng vấn đề chất lượng. Để thu hút khách
hàng, các công ty đã đưa chất lượng vào nội dung hoạt động quản lý của
mình. Ngày nay khách hàng ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm,
hàng hoá và dịch vụ. Hầu hết khách hàng đều mong đợi người cung ứng cung
cấp cho họ những sản phẩm đáp ứng nhu cầu mong muốn ngày càng cao hơn
của họ. Bên cạnh đó với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ,
đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ tin học, các công ty và các quốc gia
triển của khoa học, công nghệ ngày nay đã tạo ra cơ hội cho các nhà sản xuất,
kinh doanh nhạy bén có khả năng tận dụng lợi thế riêng của mình, cung cấp
những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có chất lưọng cao, thoả mãn ngày càng
tốt hơn nhu cầu của khách hàng và tạo lợi thế cạnh tranh.
Có thể nói rằng, xu thế phát triển mới đã làm nảy sinh xu hướng và tốc độ
cạnh tranh mới. Cuộc đua tranh hiện nay đang và sẽ còn sôi nổi hơn bao giờ
hết trên thương trường phần thắng sẽ thuộc về công ty, những quốc gia có
chiến lược kinh doanh đúng đắn trong đó có chiến lược chất lượng.
2
Cũng như các nước khác Việt Nam cũng không thế nằm ngoài vòng xoắy
của tiến trình hội nhập. Thời gian qua chúng ta đã thực sự tham gia vào tiến
trình hội nhập của nền kinh tế thế giới và chúng ta đã gặp không ít những khó
khăn, thách thức khi tham dự tiến trình này. Một trong những thách thức lớn
nhất đối với các doanh nghiệp hiện nay là năng lực cạnh tranh và hiệu quả
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp hơn rất nhiều
so với các nước khác trong khu vực và trên thế giới.
Mặc dù vậy các doanh nghiệp Việt Nam đã bất đầu chú trọng đến chất
lượng, đến năng suất song nhìn tổng thể thì chất lượng và năng lực cạnh tranh
của các sản phẩm hàng hoá sản xuất tại các công ty Việt Nam vẫn còn yếu
kém.
Để các doanh nghiệp Việt nam thực sự có sức cạnh tranh trong môi trường
cạnh tranh khốc liệt hiện nay, cần phải tiến hành một bước đổi mới triệt để cả
về quan điểm nhận thức lẫn phương cách điều hành quản lý. Các doanh
nghiệp Việt Nam phải từng bước chuyển dần từ mô hình quản lý cũ sang mô
hình quản lý mới mà ở đó có sự phát triển cao về nguồn nhân lực, có môi
trường để thúc đẩy khả năng sáng tạo trong lao động, có điều kiện để áp dụng
các công nghệ tiên tiến mà trước hết, cơ sở nền tảng của nó phải dựa trên triết
lý và chiến lược kinh doanh đúng đắn là: Mọi nỗ lực tập trung vào việc không
ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng để tạo lợi thế cạnh tranh và sự bền
năng cạnh tranh
- Chương 2: Thực trạng chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh của
Công ty Bánh kẹo Hải Hà .
- Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng
khả năng cạnh tranh của Công ty Bánh kẹo Hải Hà .
4
Chương I
Những vấn đề lý luận chung về chất lượng
sản phẩm và khả năng cạnh tranh
I. Các khái niệm chất lượng sản phẩm.
1. Các quan niệm về chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu
tố. Có nhiều định nghĩa, khái niệm về chất lượng sản phẩm bởi lẽ vấn đề này
được hầu hết các tổ chức và các quốc gia trên thế giới quan tâm nghiên cứu
nhưng chúng ta có thể xem xét nghiên cứu một số quan niệm sau.
Theo quan điểm của triết học, chất lượng là một phần tồn tại cơ bản bên
trong của các sự vật và hiện tượng. Theo Mác thì chất lượng sản phẩm là mức
độ, là thước đo biểu thị giá trị sử dụng của nó. Giá trị sử dụng của một sản
phẩm làm nên tính hữu ích của sản phẩm đó chính là chất lượng sản phẩm.
Theo quan điểm của hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây mà Liên Xô là
đại diện thì “ Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những đặc điểm kinh tế kỹ
thuật nội tại, phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng
những nhu cầu định trước cho nó trong những điều kiện về kinh tế kỹ thuật”.
Đứng trên góc độ xem xét sản phẩm ta quan niệm chất lượng sản phẩm là
toàn bộ các thuộc tính phản ánh chức năng, công dụng, tác dụng của sản
phẩm. Những đặc tính này có thể đo lường một cách chính xác và số lượng
các thuộc tính càng nhiều thì chất lượng sản phẩm càng cao.
Với các quan niệm trên, chất lượng sản phẩm được nhìn tách rời khỏi thị
sản xuất. Chỉ có những đặc tính đáp ứng được nhu cầu khách hàng mới là chất
lượng sản phẩm.
Theo ISO8402-1994 thì “ Chất lượng là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc
trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện
tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng
mong muốn”.
Theo TCVN 5814-1994 thì: “Chất lượng sản phẩm của một sản phẩm nào
đó là tổng hợp tất cả các tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu
của xã hội nhất định, đảm bảo các yêu cầu của người sử dụng nhưng cũng
đảm bảo các tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của từng nước”.\
Theo ISO 9000: 2000. “Chất lượng là mức độ của tập hợp các đặc tính
vốn có phù hợp với yêu cầu”. Theo định nghĩa này thì chúng ta cần hiểu:
- Đặc tính là đặc trưng để phân biệt và một đặc tính có thể là vốn có
hoặc có thể gắn thêm vào, có thể định tính hoặc định lượng.
6
- Yêu cầu là nhu cầu hay mong đợi đã được công bố được ngầm hiểu
chung hoặc bắt buộc.
- Sự thoả mãn của khách hàng là sự đảm nhận của khách hàng về
mức độ đáp ứng yêu cầu.
Các quan niệm trên là khác nhau nhưng tựu chung lại ta thấy khi nói đến
chất lượng sản phẩm cần chú ý đến các điểm sau:
- Chất lượng sản phẩm phải được xem xét thông qua các chỉ tiêu đặc
trưng.
- Chất lượng sản phẩm phải phù hợp với công dụng, với mục đích chế tạo,
với nhu cầu của thị trường.
- Chất lượng sản phẩm mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu
dùng, thị hiếu tiêu dùng của người dân.
2. Các đặc tính của chất lượng sản phẩm.
2.1.Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế– xã hội – kỹ thuật.
của sản phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm đó.
Những đặc tính khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế quy
định cho sản phẩm đó. Mỗi tính chất được biểu thị bởi các chỉ tiêu cơ lý hoá
nhất định có thể đo lường và đánh giá được. Vì vậy nói đến chất lượng sản
phẩm phải đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. đặc điểm
này khẳng định những quan điểm sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là cái
không thể đo lường đánh giá được.
2.4.Chất lượng sản phẩm biểu thị ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt
khách quan và chủ quan hay còn gọi là hai loại chất lượng:
Chất lượng tuân thủ thiết kế và chất lượng của thiết kế.
Chất lượng trong tuân thủ thiết kế thể hiện ở mức độ chất lượng sản phẩm
đạt được so với các tiêu chuẩn thiết kế đã đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có
những đặc tính kinh tế kỹ thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lượng
càng cao được phản ánh thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ phế phẩm, sản phẩm
hỏng loại bỏ, sản phẩm không đạt yêu cầu thiết kế. Chất lượng này có tác
động rất lớn đến khả năng giảm chi phí, là cơ sở để cạnh tranh về giá.
Chất lượng của thiết kế hay còn gọi là chất lượng trong sự phù hợp thể
hiện mức độ phù hợp của sản phẩm đối với nhu cầu khách hàng. Chất lượng ở
đây được thể hiện thông qua các thuộc tính có tính thu hút khách hàng, thoả
mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, chất lượng trong sự phù hợp phụ thuộc
rất lớn vào trình độ thiết kế, trình độ thiết kế càng cao thì chất lượng càng
cao; nó phản ánh những đặc tính chủ quan vì nó phụ thuộc vào những nhận
thức của khách hàng. Khi nâng cao chất lượng thiết kế sẽ có tác động rất lớn
đến khả năng tiêu thụ của sản phẩm và khi tăng chất lượng thì chi phí tăng
theo.
8
2.5.Chất lượng sản phẩm của mỗi loại sản phẩm được xác định trong
những điều kiện sử dụng cụ thể với những mục đích cụ thể tương ứng với
một đối tượng tiêu dùng.
- Chất lượng thực tế là: chỉ mực độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
sản phẩm, bao gồm chất lượng thực tế trong sản xuất và chất lượng thực tế
trong tiêu dùng.
- Chất lượng cho phép là: dung sai cho phép mức sai lệch giữa chất lượng
thực tế với chất lượng tiêu chuẩn. Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điều
kiện kỹ thuật của từng nước, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân.
Khi chất lượng thực tế của sản phẩm vượt quá dụng sai cho phép thì hàng hoá
sẽ bị xếp vào loại phế phẩm.
- Chất lượng tối ưu là: biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu của
thị trường trong những điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp
nhất.Thường người ta phải giải quyết được mối quan hệ chi phí và chất lượng
sao cho chi phí thấp nhất mà chất lượng vẫn đảm bảo.
Biểu đồ 1: Sơ đồ Siro về mối quan hệ giữa chất lượng và chi phí
Chi phí
(b)
(a)
Q1 Q2 Q3 Chất lượng
(a): là đường cong giá bán sản phẩm.
(b): là đường cong gía thành sản phẩm.
(Q1): chất lượng thấp giá thành thấp.
(Q2): ứng với khoảng cách lớn nhất giữa hai đường cong là mức chất
lượng có lợi nhuận lớn nhất.
(Q3): sản phẩm có chất lượng cao nhưng lợi nhuận không cao.
Quyết định mức chất lượng như thế nào cho phù hợp là một vấn đề quan
trọng. Điều đó phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng nước, của từng
vùng và phụ thuộc vào mục tiêu của doanh nghiệp.
10
- Chỉ tiêu thẩm mỹ: Đặc trưng một sản phẩm đẹp phải có tính chân thật,
mang trong mình các yếu tố hiện đaị, sáng tạo, đồng thời hình dáng kiểu cách
cũng như trang trí hoạ tiết phải thể hiện tính cách dân tộc.
- Chỉ tiêu về sáng chế phát minh: Đặc trưng cho khả năng giữ bản quyền.
11
4.2. Hệ thống các chỉ tiêu kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm
hàng hóa trong sản xuất kinh doanh.
- Nhóm chỉ tiêu sử dụng bao gồm: Thời gian sử dụng, mức độ an toàn
trong sử dụng, khả năng sửa chữa thay thế các chi tiết, hiệu quả sử dụng. Đây
là nhóm chỉ tiêu chất lượng mà người tiêu dùng khi mua hàng thường quan
tâm để đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hoá.
- Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ: Đây là nhóm chỉ tiêu mà các cơ
quan nghiên cứu thiết kế, sản xuất, kinh doanh thường dùng để đánh giá giá
trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá. Các chỉ tiêu kích thước, chỉ tiêu cơ lý, chỉ
tiêu thành phần hoá học.
- Nhóm chỉ tiêu hình dáng trang trí thẩm mỹ: Nhóm này bao gồm các chỉ
tiêu về hình dáng sản phẩm, tính chất các đường nét, sự phối hợp của các yếu
tố tạo hình chất lượng trang trí, mằu sắc, tính thời trang, tính thẩm mỹ.
- Nhóm các chỉ tiêu kinh tế: Bao gồm chi phí sản xuất, giá cả, chi phí cho
quá trình sử dụng.
Các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đã nêu không tồn tại độc lập tách rời
mà có liên quan chặt chẽ với nhau. Vai trò ý nghĩa của từng chỉ tiêu rất khác
nhau đối với các sản phẩm khác nhau. Mỗi loại sản phẩm sẽ có những chỉ tiêu
mang tính trội và quan trọng hơn những chỉ tiêu khác. Mỗi doanh nghiệp phải
căn cứ vào đặc điểm sử dụng của sản phẩm và nhiều yếu tố như tình hình sản
xuất, quan hệ cung cầu, điều kiện xã hội mà chọn những chỉ tiêu chủ yếu và
những chỉ tiêu bổ sung cho thích hợp. Hiện nay, một sản phẩm được coi là có
chất lượng cao ngoài chỉ tiêu an toàn đối với người sử dụng và xã hội, môi
trường ngày càng quan trọng, trở thành bắt buộc đối với các doanh nghiệp.
Tổng chi phí sản xuất sản phẩm
5.Các nhân tố tác động đến chất lượng sản phẩm.
5.1. Nhóm nhân tố bên ngoài.
a. Nhu cầu thị trường
Nhu cầu là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng tạo lực hút,
định lượng cải tiến và hoàn thiện chất lượng sản phẩm. Cơ cầu, tính chất, đặc
đỉêm và xu hướng vận động của nhu cầu tác động trực tiếp đến chất lượng sản
phẩm. Chất lượng sản phẩm có thể được đánh giá cao ở thị trường này nhưng
lại không được đánh gía cao ở thị trường khác. Điều đó đòi hỏi phải tiến hành
nghiêm túc, thận trọng công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích môi
trường kinh doanh, xác định chính xác nhận thức của khách hàng, thói quen,
13
truyền thống, phong tục, tập quán, văn hóa, lối sống, mục đích sử dụng sản
phẩm và khả năng thanh toán... nhằm đưa ra nhứng sản phẩm phù hợp với
từng loại thị trường.
Thông thường khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu
cầu của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm tới chất lượng sản
phẩm. Nhưng khi đời sống xã hội được cải thiện thì đòi hỏi về chất lượng sản
phẩm sẽ tăng cao, ngoài tính năng sử dụng còn có giấ trị thẩm mỹ. Người tiêu
dùng có thể chấp nhận giá cao để có được những sản phẩm ưng ý.
Chính vì vậy, các nhà sản xuất phải sản xuất những sản phẩm có chất
lượng đáp ứng được nhu cầu thị trường. Lúc đó, việc nâng cao chất lượng sản
phẩm mới đi đúng hướng.
b. Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ.
Trong thời đại ngày nay không có sự tiến bộ kinh tế, xã hội nào lại không
gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới. Bắt đầu từ cuộc cách
mạng khoa học công nghệ lần thứ nhất, chủng loại và chất lượng sản phẩm
không ngừng thay đổi với tốc độ tương đối nhanh. Tiến bộ khoa học công
nghệ có tác động như một lực đẩy tạo khả năng đưa chất lượng sản phẩm
- Sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ sức ỳ và tâm lý ỷ lại, không
ngừng phát huy sáng kiến cải tiến hoàn thiện chất lượng sản phẩm.
5.2. Nhóm nhân tố bên trong.
a. Lực lượng lao động trong doanh nghiệp
Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm. Cho dù
trình độ công nghệ có hiện đại đến đâu nhân tố con người vẫn được coi là
nhân tố căn bản nhất tắc động đến chất lượng các hoạt động sản xuất sản
phẩm và các hoạt động dịch vụ. Trình độ chuyên môn, tay nghề kinh nghiêm,
ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong
doanh nghiệp tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Sự thành công hay
thất bại của doanh nghiệp trước hết phụ thuộc vào chất lượng của tập thể
những người lao động mà đứng đầu là người lãnh đạo các doanh nghiệp.
Quan tâm đầu tư phát triển và không ngừng nâng cao nguồn nhân lực là
nhiệm vụ quan trọng trọng qủan lý chất lượng của các doanh nghiệp. Đó cũng
là con đường quan trọng nhất nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng của
mỗi quốc gia.
b. Khả năng về công nghệ máy móc thiết bị của doanh nghiệp
Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ
bản có tác động mạnh mẽ đến chất lượng sản phẩm. Mức độ chất lượng sản
phẩm trong mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào trình độ hiện đại, cơ cấu
đồng bộ, tình hình bảo dưỡng duy trì khả năng làm việc theo thời gian của
15
máy móc thiết bị công nghệ, đặc biệt là những doanh nghiệp tự động hoá cao,
dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt. Trình độ công nghệ của các doanh
nghiệp không tách rời trình độ công nghệ trên thế giới. Muốn sản phẩm có
chất lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt là thị trường quốc
tế mỗi doanh nghiệp cần có chính sách công nghệ phù hợp cho phép sử dụng
những thành tựu khoa học trên thế giới đồng thời khai thác tối đa nguồn công
nghệ nhằm tạo ra sản phẩm với chất lượng cao chi phí hợp lý.
doanh, phương pháp quản lý công nghệ. Mỗi doanh nghiệp cần phải tổ chức
tốt bộ máy qủan trị kỹ thuật và kiểm tra chất lượng sản phẩm, chú trọng trang
bị các phương tiện kiểm tra kỹ thuật giám định chất lượng sản phẩm. Muốn
có chất lượng sản phẩm cao cần theo dõi kiểm tra toàn bộ quá trình sản xuất,
giám sát việc thực hiện các qui trình, qui phạm kỹ thuật để có biện pháp kịp
thời khi phát hiện ra các sai sót và xử lý ngay.
Chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu và cơ chế quản trị,
nhận thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ của các cán bộ quản trị, khả
năng xác định chính xác các mục tiêu, chính sách chất lượng và chỉ đạo tổ
chức thực hiện chương trình, kế hoạch chất lượng.
Chất lượng là một vấn đề hết sức quan trọng do đó không thể phó mặc
cho các nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp phải coi
chất lượng là vấn đề thuộc chất lượng của toàn bộ doanh nghiệp.
II. Vai trò của việc nâng cao chất lượng sản phẩm với việc tăng khả năng
cạnh tranh.
1. Khái niệm và đặc điểm của cạnh tranh.
Trong hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp sự trao đổi đã được thoả
thuận, nhu cầu được xác định qua kinh nghiệm tiêu thụ của cả hai bên mua và
bán. hàng hoá sản xuất ra gần như phù hợp với nhu cầu của mỗi bên. Vì vậy
chưa phát sinh tính cạnh tranh.
Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Theo Mác “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất và tiêu thụ để thu lợi nhuận siêu ngạch”.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một điều kiện yếu tố
kích thích kinh doanh, động lực phát triển sản xuất. Đối với doanh nghiệp,
cạnh tranh có nghĩa là đảm bảo duy trì và phát triển vị trí trên thị trường trong
nước và thế giới. Một doanh nghịêp được coi là có sức cạnh tranh là đánh giá
nó có thể dứng vững cùng với các nhà sản xuất khác,với mức giá thấp hơn
cho sản phẩm cùng loại, bằng cách cung cấp các sản phẩm tương tự với các
2.1.Cạnh tranh bằng sản phẩm
Đây là một trong những hình thức cạnh tranh quan trọng nhất, chữ tín của
doanh nghiệp tạo ra lợi thế có tính quyết định trong cạnh tranh. Xuất phát từ
tầm quan trọng của việc nắm bắt nhu cầu thị trường với các doanh nghiệp
hiện nay, chất lượng của sản phẩm, tính thích dụng của sản phẩm được coi là
những khía cạnh quan trọng trong cạnh tranh bằng sản phẩm. Tuỳ theo sản
phẩm khác nhau các doanh nghiệp phải lưạ chọn những nhóm chỉ tiêu có tính
18
chất quyết định trình độ sản phẩm. Doanh nghiệp sẽ thắng trong cạnh tranh
nếu như lựa chọn trình độ sản phẩm có ưu thế và phù hợp với nhu cầu thị
trường. Doanh nghiệp cũng có thể cạnh tranh thông qua việc xác định và đưa
ra thị trường những sản phẩm có chất lượng cao hơn. Những sản phẩm này có
ưu thế rât lớn trên thương trường, tuy nhiên cần phải chú ý giải quyết mối
quan hệ giữa nâng cao chất lượng và giá bán để đảm bảo lợi thế của sản phẩm
có chất lượng cao. Ngoài ra cạnh tranh bằng sản phẩm còn thông qua phương
diện bao bì, mẫu mã, nhãn mác, biểu tượng, đặc thù của từng loại sản phẩm.
Sự điển hình về thiết kế hoặc danh tiếng sản phẩm, đặc tính của các sản
phẩm tạo uy tín cho doanh nghiệp, nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp.
2.2.Cạnh tranh bằng giá
Các doanh nghiệp đưa sản phẩm của mình vào thị trường đối thủ cạnh
tranh, sử dụng giá thấp hoặc giá ưu đãi để bán hàng. Như vậy doanh nghiệp sẽ
thu hút được người tiêu dùng và hơn nữa thu hút được cả lực lượng bán hàng
của đối thủ cạnh tranh chuyển sang bán sản phẩm của doanh nghiệp vì họ sẽ
thu được nhiều lợi nhuận hơn tuy nhiên, nếu định giá so vơi đối thủ cạnh
tranh thì doanh nghiệp phải khảo sát giá của đối thủ, tìm hiểu các lợi thế của
đối thu để xem lợi thế của doanh nghiệp mình có mạnh hơn không.
Doanh nghiệp có thể cạnh tranh thông qua việc hạ giá. Biện pháp này thực
chất là chú trọng đến việc quản lý chặt chẽ, tiết kiệm chi phí và do đó đòi hỏi
mà chỉ chú trọng vào việc sản xuất ra càng nhiều sản phẩm theo chỉ định của
Nhà nước và việc cung cấp sản phẩm tới đâu là do Nhà nước. Nhưng khi
bước sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp phải tự lo vấn đề tiêu thụ. Sản
phẩm sản xuất ra tiêu thụ được càng nhiều thì quá trình sản xuất của doanh
nghiệp càng có hiệu quả. Và để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu thụ,
các doanh nghiệp này đã xây dựng những hệ thống phân phối cho riêng
mình. Đó có thể là các đại lý hoặc cửa hàng và những người trung gian bán
hàng cho doanh nghiệp tạo thành kênh tiêu thụ. Doanh nghiệp có biện pháp
để kết dính các thành viên trong kênh lại với nhau, có các biện pháp để quản
lý chặt chẽ và điều khiển những người bán hàng. Và như vậy hệ thống kênh
tiêu thụ trở thành một thế mạnh trong cạnh tranh của doanh nghiệp.
2.4.Cạnh tranh bằng các dịch vụ bán và dịch vụ sau khi bán.
Có thể thấy đây là hình thức cạnh tranh mà các doanh nghiệp thường
xuyên sử dụng. Thông qua hình thức này doanh nghiệp đánh trực tiếp vào tâm
lý người tiêu dùng bằng các biện pháp như tạo điêù kiện thuận lợi nhất trong
việc thanh toán cho cả hai bên, có biện pháp tiếp nhận thông tin phản hồi của
khách hàng một cách nhanh nhất. Các dịch vụ bán hàng có thể là đưa hàng
đến tận nơi khách hàng yêu cầu, hướng dẫn cách sử dụng hoặc lắp đặt cho
khách hàng.. Doanh nghiệp cũng đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng một
20
cách tốt nhất, công bằng nhất, thường xuyên cung cấp những dịch vụ sau khi
bán hàng cho người sử dụng, đặc biệt là với những sản phẩm có bảo hành.
Khuyến mãi cũng là một biện pháp trong hình thức cạnh tranh này. Với biện
pháp này, doanh nghiệp tạo ra lợi ích vật chất cho mỗi khách hàng tuy không
lớn nhưng lại có tác dụng kích cầu rất mạnh.
2.5. Cạnh tranh bằng thời cơ thị trường.
Doanh nghiệp nào dự báo được thời cơ thị trường và nắm được thời cơ thị
trường thì sẽ chiến thắng trong kinh doanh. Thời cơ thị trường thường xuất
hiện do sự thay đổi của các yếu tố môi trường, xu thế và trào lưu tiêu dùng,
tồn tại và phát triển phải tìm được thế mạnh cạnh tranh của mình. Chất lượng
sản phẩm là một trong những chiến lược cạnh tranh cơ bản của rất nhiều
doanh nghiệp trên thế giới. Nhờ chất lượng sản phẩm dịch vụ cao làm tăng
danh tiếng, uy tín của doanh nghiệp, giữ được khách hàng cũ, thu hút thêm
khách hàng mới, mở rộng thị trường, tạo cơ sở cho sự phát triển lâu dài và
bền vững của doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ,
nhu cầu của người dân không ngừng được nâng cao, ngày càng trở lên đa
dạng và phong phú. Trong nền kinh tế bao cấp khi cung nhỏ hơn cầu, người
tiêu dùng không có quyền lựa chọn, họ phải mua các mặt hàng thiết yếu bất
kể chất lượng tốt xấu. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng
có quyền lựa chọn những sản phẩm phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng
thanh toán của họ. Với điều kiện giá cả không còn là mối quan tâm duy nhất
của người tiêu dùng thì chất lượng là công cụ cạnh tranh hữu hiệu nhất của
người sản xuất. Chất lượng sản phẩm là tiêu chuẩn tạo nên sức cạnh tranh của
sản phẩm, làm cho sản phẩm chiếm được sự mến mộ của khách hàng, tạo nên
tài sản vô hình cho doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng đồng nghĩa với nâng
cao tính hữu ích của sản phẩm, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng đồng
thời giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm nhờ hoàn thiện quá trình, đổi mới,
cải tiến các hoạt động, giảm những lãng phí phế phẩm hoặc công việc phải
sửa chữa lại. Kết quả là một chuỗi các phản ứng: giảm chi phí, tăng mức thoả
mãn nhu cầu, thu hút thêm khách hàng, mở rộng và chiếm lĩnh thêm thị
trường, tăng vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo nhiều việc làm, thoả mãn
nhu cầu của người lao động.
Tăng khả năng cạnh tranh là tạo ra càng nhiều hơn các ưu thế về tất cả các
mặt: giá cả, giá trị sử dụng của sản phẩm tiêu thụ được nhiều hơn, thúc đẩy
sản xuất phát triển, mở rộng cơ cấu sản phẩm, tăng thị phần, chiếm lĩnh thị
trường mới, tăng sức cạnh mạnh kinh tế, nâng cao thu nhập của người lao
động, tăng khả năng tái đầu tư phát triển tài sản và quá trình. Điều đó lại tạo
điều kiện cho năng suất, chất lượng tăng lên và nó lại tiếp tục làm tăng khả
năng cạnh tranh.
Có thể thấy khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào hai yếu tố là giảm chi phí
và tăng mức thoả mãn nhu cầu. Nó phải được tạo ra từ chất lượng cao hơn
trong quản lý, sử dụng tối ưu các nguồn lực thông qua tăng năng suất và hiệu
quả của nguồn tài sản và các quá trình. Khi tài sản và các quá trình được quản
lý một cách có hiệu quả thì sẽ đạt được chất lượng cao, chi phí đơn vị sản
phẩm giảm nhưng vẫn thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và xã hội. Chất
lượng cao là con đường cạnh tranh cơ bản giải quyết mẫu thuẫn giữa đáp ứng
nhu cầu ngày càng cao với giảm chi phí sản xuất. Kết quả cuối cùng của nâng
24
C nh tranh cao h nạ ơ
-Sức mạnh cạnh tranh
được duy trì.
-Thị phần cao hơn
áp ng nhu c uĐ ứ ầ
khách h ngà
-Chất lượng sản phẩm
cao.
T i s nà ả
Cơ sở hạ tầng- Tài chính-
Công nghệ- Con người
Quá trình c nh ạ
tranh
chất lượng sản phẩm cao đồng thời phải rằng buộc trách nhiệm đối với người
sản xuất ra sản phẩm không đạt yêu cầu về chất lượng bằng cách giảm tiền
lương tiền thưởng của họ.
Đối với doanh nghiệp bố trí theo dây chuyền, từng bước công việc, từng
công đoạn có thể áp dụng đến những biện pháp khoán sản phẩm cuối cùng có
như vậy mới đảm bảo sản xuất sản phẩm ra với chất lượng cao. Mặt khác, để
nâng cao chất lượng sản phẩm ta phải xây dựng đơn giá tiền lương cho từng
công đoạn của sản xuất một cách hợp lý, tính đúng, tính đủ mọi chi phí sản
xuất vận động mọi người tiết kiệm ở mọi khâu. Cần phải công khai, dân chủ
công bằng nhằm khích thích người lao động sản xuất ra những sản phẩm có
chất lượng cao.
2. Giải pháp tổ chức quản lý.
Các giải pháp tổ chức quản lý rất quan trọng đối với việc sản xuất kinh
doanh nói chung và về chất lượng sản phẩm nói riêng. Vì vậy, khi xây dựng
hệ thống quản lý phải hướng vào việc cải tiến và nâng cao chất lượng, phải
tiến hành các biện pháp tổ chức quản lý cho phù hợp với từng khâu: từ khâu
đưa nguyên liệu vào sản xuất đến khâu xuất xưởng sản phẩm.
Những giải pháp tổ chức quan lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm chủ
yếu được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp:
25