Ý NGHĨA ĐẠO ĐỨC VÀ LÒNG TỪ CỦA PHẬT GIÁO
TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Thích Nhuận Đức
A. DẪN NHẬP
Người đi qua cuộc đời với muôn ngàn lẽ sống, mỗi phương diện của cuộc đời
người thể hiện bằng những hành động, cách sống và suy nghĩ khác nhau. Mỗi quốc
độ, mỗi lãnh thổ, người hòa mình vào dòng trôi của lịch sử thế nhân, lần trôi trong
luân chuyển của kiếp người. Cuộc sống luôn đầy đủ cả hạnh phúc và khổ đau. Trước
đó là tiếng cười nhưng sau lại là những giọt nước mắt đã ẩn dưới làn mi xanh. Người
mơ ước lắm, mong mỏi lắm cái vĩnh hằng của hạnh phúc, những chốn bình ổn và
người với người chung nhau trong tiếng cười đểụ cuộc sống như một khúc hoan ca.
Người ta đến với cuộc đời, tuy mong mỏi như vậy nhưng nếu không có một sự nỗ lực
trau dồi đạo đức và tạo lập tình thương mà dừng lại ở chỗ đó thì phi thựỉc tế và khổ
đau còn đầy trong tâm khảm. Đêm qua, giây phút giao thoa của vũ trụ rền lên tiếng nổ
của những cuộc bạo động gây nên thảm khốc bi thương. Tội nghiệp thay những ánh
mắt trẻ thơ vô tư phủ mờ màn lệ bởi những người thân lìa trần. Ôi! Họ nào có tội tình
chi và nỗi đau của cuộc đời cứ thế nhân lên và kéo dài đến vô tận và khát vọng chỉ
vẫn còn ấp ủ của một kiếp người.
Trong thuở hồng hoang của nhân loại, Đạo Phật đã ra đời mang lại tiếng nói
yêu thương và một chủ trương giáo lý diệt khổ. Với chủ trương ấy, hai mươi lăm thế
kỷ tồn tại, Phật giáo mang đến cho nhân loại những sự thật của nhân bản. Đạo đức,
lòng thương bao la và tiếng nói tĩnh thức nhân tâm mà con người thường lãng quên
trong lợi danh của kiếp người. Có thể nói Phật giáo là một trường phái Triết Học, một
Tôn Giáo Học, một Nghệ Thuật Học, một môn Nhân Bản Học… Vẫn không thiếu
không thừa, Phật giáo đến với cuộc đời đầy đủ trong mọi phương diện phục vụ cho
mọi đối tượng và đặc biệt là đưa con người vượt thoát khổ đau, tự mình hoàn thiện
đạo đức cá nhân mà vẫn không tách rời khỏi cuộc sống hiện tại. Người viết cũng như
mọi người cũng cộng sinh trong môi trường và sống chung cùng thời đại, dĩ nhiên
những gì tiền nhân mong mỏi, đời hiện tại trông mong thì điều đó cũng tồn tại trong
nhìn nhận xác thực hơn, sâu xa hơn về chính mình và mọi người để cùng nhau quay
về với giải thoát cao đẹp.
Đạo đức Phật giáo là một nếp sống an lạc, không đi đôi với khổ. Với ý nghĩa
ấy, tập luận văn này sẽ khảo cứu nhằm làm rõ Đạo Đức của Phật giáo trong cuộc sống
tu tập giải thoát. Bên cạnh đó triển khai những chức năng của đạo đức là “Xây dựng
một nếp sống hài hòa với thiên nhiên và làm cho môi trường sống vừa lành vừa đẹp”.
[2,19]
2. Phạm Vi Và Đối Tượng Nghiên Cứu:
2.1. Phạm vi nghiên cứu:
Đây chỉ là mộỉt Luận Văn Cấp Cử Nhân Phật Học, số lượng trang có giới hạn
nên đối với một Đề Tài rộng lớn như Đạo Đức và Lòng Từ Bi của Phật giáo thì không
thể khai triển hết được. Trong điều kiện cho phép, Luận Văn này chỉ trình bày khái
quát ý nghĩa và nêu ra một số tính chất, ứng dụng cơ bản của Đạo Đức và Lòng từ
trong đời sống nhân sinh, giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội rộng
lớn, giữa con người và vạn loại cỏ cây (môi sinh). Tuy người viết có nỗ lực trình bày
với các chương mục như dàn bài đã nêu chắc cũng chỉ là những nét chấm phá nhỏ
giữa bức tranh toàn cảnh to lớn của Tôn Giáo và Tam Tạng Thánh Điển của Phật giáo.
Tuy nhiên, nhân nơi đây người viết cố gắng tìm kiếm những cái mới mẻ, bổ ích trong
khi trình bày, nhân đó làm cơ sở để phát triển hướng nghiên cứu sau này.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Tôn giáo có mặt để phục vụ cho lợi ích của con người. Bất kỳ tôn giáo hay trào
lưu tư tưởng nào cũng lấy con người làm đối tượng truyền giáo. Đức Phật cũng đã
khẳng định mục đích ra đời độ sanh của Ngài trong Kinh Pháp Hoa “Ta ra đời vì
muốn khai ngộ cho chúng sanh cái thấy biết của chư Phật”. Tiền nhân đã vậy, người
viết cũng học hỏi và làm theo.
Đối tượng nghiên cứu ở đây chính là Đạo Đức và Lòng Thương của con người
đang sống trong xã hội ngày nay. Ở hai lĩnh vực Tôn Giáo và Xã Hội, điểm chính là
tìm ra những ý nghĩa cần thiết nhằm giúp cho những đối tượng được đề cập tìm thấy
sự quan trọng để phát huy hơn nữa cái cao quý vốn có của Đạo Đức và Lòng Từ Bi
Phật giáo. Sự tương quan cuộc sống của con người có Đạo Đức với những người xung
đầy đủ, họ quay về với triết lý nhân sinh quan… Sự khai sinh ra xã hội học và các
khoa học khác làm phong phú thêm đời sống nhân văn. Đạo đức Tây Phương quan
niệm như một môn học và cũng có đối tượng nghiên cứu. Từ điển Gran Hill Book
định nghĩa: “Đạo đức là môn học đánh giá các hành vi thiện ác của con người, biểu
hiện qua phần lời và ý và được thực hiện bởi ý chí, tình cảm và lý trí”.[25,145]
Đó là định nghĩa tiêu biểu mà ta thường thấy những học giả Tây Phương lấy
làm chuẩn mực. Cơ sở lập luận chính ở đây chính là con người và những biểu hiện
của con người trong cuộc sống cá nhân và đối với người xung quanh. Tuy có khác
nhau về nền văn hóa, tập tục, mỗi một Tôn Giáo hay trường phái Triết Học có cách
giải thích riêng. Thường những giải thích ấy phù hợp với thời đại họ đang sống và
cũng lấy con người làm chuẩn mực để đánh giá và giải thích. Aristore là một tiêu biểu
: “Mục đích trực tiếp của con người không phải là cái hay cái đẹp mà chính là hạnh
phúc. Hạnh phúc là sự phát triển các đức tính thật tốt của một con người… Hạnh phúc
ấy đồng nghĩa với đạo đức”[25,137]. Aristore là một triết gia nổi tiếng của Phương
Tây. Quan điểm về đạo đức của ông được biểu hiện quá rõ ràng qua lời phát biểu đã
nêu. Ở đó ta tìm thấy được giá trị đích thực và mục đích của cuộc sống. Con người
phải hoàn thiện những đức tính tốt mới có được hạnh phúc. Hạnh phúc ấy là đạo đức.
Lúc đó họ cảm thấy mình hạnh phúc hơn và yêu cuộc sống này hơn. Socrates cũng
cho ta thấy đạo đức là một trật tự ổn định của xã hội, không có màu sắc phân biệt, đố
kỵ tín ngưỡng. Ông nhận định “Một nền đạo đức không thể căn cứ vào một giáo lý
mơ hồ. Chúng ta phải tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc thần học
hoàn toàn phù hợp với người có tôn giáo cũng như không có tôn giáo thì xã hội mới
ổn định”.[25,193]
Như vậy theo Socrates, một quy luật chung cho toàn xã hội và đạo đức đóng
vai trò lành mạnh hóa xã hội. Liên hệ đến hiện tại, nếu ý kiến này của Soccrate được
ứng dụng thì không có các cuộc chiến tranh sắc tộc và kỳ thị Tôn Giáo gây bao nỗi
kinh hoàng cho nhân loại. Tính cao quý của đạo đức đã được Soccrate đánh giá đúng
bởi chỉ có nó con người mới có thể tiến đến xa hơn và không đè bẹp nhau bằng súng
ống quân sự.
1.3.2. Quan điểm đạo đức về triết học Phương Đông:
Trung Quốc. Cách quan niệm về đạo đức rõ ràng hai đức tính tân quý và quan trọng.
Trong phần giải thích tổng quát này có sự đóng góp của Lão Tử, một triết gia lớn của
Trung Hoa. Lão Tử nhấn mạnh sức sống của đạo đức trong đời thường và hiểu rộng là
sự cấu sinh vạn vật. Bao quát và hơi trừu tượng song hành với triết lý của Lão Tử.
Triết học Khổng Phi Tử hay còn gọi là Đạo Khổng cũng góp phần vào nền triết học Á
Đông. Ở đây ta chỉ chú trọng tìm hiểu ở khía cạnh đạo đức để tìm ra sự phong phú
của nó. Một học giả Việt Nam nhận xét về quan niệm đạo đức của Khổng Tử:
“Triết học nhân sinh của Khổng Tử còn một điểm cuối cùng nữa là không
những chú trọng về động cơ mà còn chú trọng vào sự dưỡng thành phẩm hạnh đạo
đức hơn. Khổng Tử luận về hành vi phân ra ba tầng, một là động cơ, hai là phương
pháp, ba là phẩm hạnh. Động cơ với phẩm hạnh thuộc về nội dung của hành vi. Khi
chúng ta luận về đạo đức thì đại khái có hai phương diện là nội dung và ngoại biểu.
Chúng ta làm một việc gì hoặc sợ hình phạt hay ham lợi ích mà làm, đấy là đạo đức
của ngoại biểu, nếu vì lương tâm của chúng ta thúc đẩy chúng ta làm thì đấy thuộc về
nội dung của đạo đức”.[21, 248]
Nội dung của đạo đức lại chia ra làm hai dạng. Một trọng về động cơ về thiên
lý, hay là mệnh lệnh của đạo đức, có một thế lực về hạnh phúc đẩy ta làm điều thiện,
tránh điều ác. Một hạng lại chú trọng vào phẩm hạnh tập quán của đạo đức. Tập quán
trở nên phẩm hạnh, có người vì tập quán đạo đức thấy điều thiện thì tự nhiên làm,
thấy điều ác thì tự nhiên bỏ.
Triết học nhân sinh quan của Khổng Tư ũchú trọng về đạo đức tập quán, cho
nên mới chủ trương “tính tương cận dã, tập tương viễn dã”, “tính người ta vốn gần vì
tập quán mà xa mãi nhau”. Khổng Tử đã lợi dụng tập quán để gây nên phẩm hạnh đạo
đức đến chỗ “Tòng tâm, sở dục bất dũ củ”. Theo cái gì mà lòng muốn của mình không
vươn ra ngoài quy củ của trời đất. Đây là chỗ tuyệt điểm trong môn giáo hóa nhân
cách của Khổng Tử vậy. [21, 249]
Qua sự nhận định về đạo đức, các triết gia tiêu biểu Đông Tây cho ta thấy được
điểm tương đồng và dị biệt của hai nền văn hóa có chiều hướng phát triển khác nhau.
1.4. Quan điểm đạo đức của người Việt Nam:
Dân tộc Việt nam có một truyền thống đạo đức được xây dựng từ thời lập quốc
Một đường đạo đức gắng noi gương
Đường ấy từ bi với thiện lương
Bác ái tha nhân không biệt chủng
Thế gian đổi lại cõi thiên đường.
1.5. Quan điểm đạo đức của Phật Giáo:
Phật giáo là một Tôn Giáo xuất hiện sớm trong lịch sử của nhân loại. Một Tôn
Giáo khai sáng bằng Tu Chứng và Trí Tuệ, có tôn chỉ mới mẻ với thời bây giờ, oằn
mình trong nỗi đau phân biệt đẳng cấp, kì thị của con người phong kiến, họ giẫm lên
nhau trong từng hoàn cảnh sống nên thế gian này đã khổ còn khổ hơn. Vì vậy khi tìm
ra con đường giải thoát Đức Phật nói lên tiếng nói của giải thoát khổ đau. Trước hết
“Chúng ta có thể nói những lời dạy của Đức Phật đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ
đến vấn đề đạo đức và chúng ta cần phải định nghĩa đạo đức Phật giáo như thế nào?
trước hết cho phù hợp với dụng ý thuyết pháp độ sinh của Ngài, sau đó ứng dụng nền
đạo đức ấy vào thế giới loài người của chúng ta, đặc biệt là con người hiện đại của
chúng ta”.[2,24] Toàn bộ hệ thống giáo lý mà Đức Phật giảng thuyết suốt 49 năm đều
chung vào một mục đích nói khổ và con đường diệt khổ. Nhưng giáo lý ấy nếu ta cứ
mãi nhìn bằng nhãn quan phán xét hay bình phẩm thì nó chỉ dừng lại ở góc độ bàng
quan, nếu muốn hiểu và cảm nhận hết không gì hơn phải sống và hòa đồng trong giáo
lý, thực thi giáo lý. Phật dạy: “Abtention from all evil, doing of good parification of
one’s thought. This is the doctrine of Buddhas”. [23, 36]
Dịch: Không làm các điều ác
Thành tựu các hạnh lành
Giữ tâm lý trong sạch
Chính lời chư Phật dạy. PC: 183
Điểm nổi bật của Đạo Đức Phật giáo là có một trong các lãnh vực của cuộc
sống. Một nghĩa khác của đạo đức Phật giáo là lối sống trong sạch tránh xa những trú
xứ phương hại đến bản thân.
“It is not right to serve friends. Who are evil, men who are base, but let a men
serve friends who are right out, let him keep company with the best of
men”[23,76].
Thắng trận sinh thù oán
Bại trận vẫn khổ đau
Ai không thấy kẻ bại
Tịch tịnh hưởng an lạc. [5,I,102]
Đạo đức Phật giáo là từ tâm xả bỏ vô biên, phải tiếp xúc với tất cả mọi người
mình mới hiểu được đa dạng của cuộc sống. Tấm lòng mình rộng mở đón nhận tất cả
vạn loài không oán thù, không ganh tỵ, hiềm khích thì mới thấy an lạc thật sự. Đây là
một điểm đặc biệt của Phật giáo áp dụng được cho mọi thời đại. Nếu con người
thương yêu nhau, xóa bỏ cho nhau những hiềm khích, đố kỵ, những tranh chấp không
đáng có. Những tánh tham lam ích kỷ thì thế giới tiếng súng sẽ im và mọi người nhận
ra nhau bằng tình thương chân thật. Phật dạy:
Với hận diệt hận thù
Đời này không có được
Không hận diệt hận thù
Là định luật thiên thu. PC: 5
Hay: “Vị ấy an trú biến mãn một phương với lòng từ…lòng bi… lòng hỉ…lòng
xã cũng vậy, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ
tư. Như vậy cũng khắp thế giới trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ cùng khắp
vô biên giới, vị ấy an trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không
hận, không sân”.[4, I, 38]
Hoặc:
Bằng thắng hay thua ta
Như vậy đấu tranh khởi
Cả ba không dao động
Bằng thắng không khởi lên. [5, I, 15]
Đạo đức Phật giáo tức là tuân thủ những nguyên tắc sống (giới luật). Bằng
những giới luật Phật chế, hành giả dù tại gia hay xuất gia đều được yên ổn trong đời
sống hiện tại. Đạo đức bắt đầu từ sự chấm dứt các tà hạnh trong các dục mà “Giới”
chính là năng lực tiêu biểu cho sự chấm dứt ấy. Khi tâm hành giả có thể chưa ở yên
nhưng nhờ thân có giữ giới luật, tạm thời hành giả không vi phạm những nguyên tắc
Tâm từ hay lòng từ nghĩa là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm trạng của một
người bạn tốt, là lòng mong ước thành thật cho tất cả đều được sống an lành vui vẻ.
[12, 595]
Tiếng Anh gọi là Boundless love (immeasurable, unlimitted, endless love)
nghĩa là tình thương vô hạn lượng, từ tâm vô hạn lượng. [28, 46]
Thương yêu chúng sanh, mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ,
đồng cảm nỗi khổ và làm cho chúng sanh bớt khổ là Bi. Vậy Từ Bi là tình thương rất
chân thật không có hạn lượng, không phân biệt”. [12, 563]
2.2. GIẢI THÍCH Ý NGHĨA LÒNG TỪ:
Từ bi là tình thương vượt ra ngoài những diễn tả của ngôn ngữ, sức sống tiềm
tàn mãnh liệt trong mỗi con người. Lòng từ có nghĩa như tình thương cha mẹ dành
cho con cái, Phật dành cho chúng sanh. Ta không thể nào kể hết công ơn của cha mẹ,
có chăng chỉ thể hiện bằng những giọt nước mắt ngậm ngùi khi chia ly. Phải giải bỏ
hết những quan niệm thân sơ, đối đãi phân biệt ta mới có thể hiểu được phần nào đó ý
nghĩa của lòng từ, nếu không như vậy ta chỉ dừng lại ở mức độ cảm thông, lắm khi
còn toan tính vụ lợi.
Phật giáo có một chữ Từ Bi tuyệt vời. Lòng từ Phật giáo bao trùm cả vạn hữu.
Không phải là sự luyến ái riêng tư giữa con người với con người, giữa con người với
xã hội, với con vật cưng, càng không phải là tình đồng chí đồng hương hay đồng đạo
mà vượt thoát tất cả. Lòng từ Phật giáo bắt nguồn từ sự cảm thông chân thật, tha thiết
trước nỗi khổ của mọi người, ban phát đến tất cả vạn loài. Hay nói một cách khác,
không những không làm hại mà còn nâng niu từng sự sống, chăm sóc từng nỗi đau,
rộng rãi và bao la như ánh trăng tươi mát soi tận cùng những nẻo tối tăm đem lại cho
nhân loại những điều ích lợi. Nếu muốn thấu hiểu lòng từ, cảm nhận lòng từ thì ta hãy
bỏ qua chủng tộc, tính cách, lãnh thổ giai cấp mà chỉ có một tình thương duy nhất ban
phát không mệt mỏi. Khi nào xóa sạch được nỗi đau, lòng từ không bác bỏ, chà đạp
lên mà làm sống lại những tâm hồn vẩn đục, những bước chân lầm lỗi trở về với thực
tại sự sống. Lòng từ không cho riêng bất kỳ ai mà cho cả thảy.
Kinh dạy:
Loài được thấy không thấy
sanh và thành tựu viên mãn.
2.3.2. Lòng Từ Là Sự Có Mặt Của Trí Tuệ:
Lòng từ, tình thương rộng rãi bao dung, những tình thương ấy phải do trí tuệ
rọi sáng và dưỡng nuôi mới thành tựu. Nếu tình thương còn trong vòng lẩn quẩn của
ái dục và chấp thủ, thiếu hiểu biết thì chẳng khác nào ta đem thêm vật cho kẻ đã gánh
nặng quằn vai. Nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ đó thì ta chưa thấm nhuần triết lý của
lòng từ Phật giáo, cội rễ của thiện pháp. Nên các Thánh giả bước lên Thánh vị khi
lòng từ thành tựu.
Phật dạy:
Ai dùng các hạnh lành
Làm xóa mờ nghiệp ác
Chói sáng rực đời này
Như trăng thoát mây che. PC: 173
Hạnh lành là từ bi, dùng tâm từ để chuyển đổi nghiệp thì chính tâm từ là trí tuệ.
Chỉ có trí tuệ chiếu sáng mới thoát khỏi những sự u tối của vô minh. Người đời
thường ăn thua đủ kiểu “Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại” để xử sự. Ởũ đây, tâm từ
được thành tựu bởi trí tuệ chuyển đổi vô minh thoát ra khỏi ba cõi. Phật
dạy:
Vi thiện xảo mục đích
Cần phải làm như sau
Con đường an tịnh ấy
Có khả năng thực tánh
Thực sự khéo chân thực
Để nói và nhu hòa
Không có gì cao mạn. [5, I, 264]
Con đường an tịnh là con đường của từ bi và trí tuệ vốn dĩ đã có sớm trong mỗi
chúng sanh nhưng phải trưởng dưỡng mới thành tựu. Sử dụng tâm từ biến thành một
phương tiện nhu nhuyến thiện xảo. Thông suốt một vấn đề duy chỉ có trí tuệ mà thôi.
Ta thường nhìn vạn pháp bằng đôi mắt thiếu khách quan và cũng chủ quan đưa ra kết
luận. Cái này phải như thế này, cái kia phải như thế kia. Bó buộc như vậy nên một khi
2.4. TU TẬP LÒNG TỪ:
2.4.1. Nếp Sống Lòng Từ Đối Với Người Xuất Gia:
Thời Đức Phật còn tại thế. Ngài đã thân hành giáo hóa chúng sanh suốt 49
năm. Đến đâu Ngài cũng đem giáo lý Từ Bi Bình Đẳng ban bố cho chúng sanh. Bước
chân của Ngài đã cùng khắp Ấn Độ. Từ những thôn xóm hẻo lánh đến đô thị sầm uất.
Ngài nói lên tiếng nói yêu thương, khuyến hóa chúng sanh. Phật dạy: “Chánh pháp
của ta là chánh pháp tự lợi và lợi tha. Ai có khả năng tiếp nhận sự hóa độ thì ta cũng
tạo yếu tố hóa độ cho họ”[5,III,273]. Nên Ngài không quên khuyếân hóa thánh
chúng. Hãy vì tình thương chúng sanh mà du hành hóa độ. Đem ánh sáng từ bi, trí tuệ
ban bố cho chúng sanh. “Hãy ra đi, các Tỳ Kheo đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người,
đem lại hạnh phúc cho nhiều người. Hãy đem lại sự tốt đẹp lợi ích vì hạnh phúc cho
chư thiên và loài người. Mỗi người hãy đi một ngã. Này hỡi các Tỳ Kheo. Hãy hoằng
dương chánh pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, toàn
hảo cả hai tinh thần và văn tự. Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng vừa toàn
thiện vừa trong sạch. Có những chúng sanh vướng ít nhiều cát bụi trong mắt nếu
không nghe giáo pháp sẽ sa đọa. Cũng có những người am hiểu giáo pháp. Chính Như
Lai cũng ra đi. Như Lai sẽ đi về hướng Uruvela ở Sananigama để hoằng dương chánh
pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc thiện trí, hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu. Hãy
mang lại sự tốt đẹp cho người khác. Được như vậy các con đã hoàn tất nhiệm vụ”[6, I,
126]. Lợi lạc chúng sanh ở quốc độ kham nhẫn này không gì hơn từ bi. Khổ đau đã có
mặt khi chúng sanh tái sinh ở cõi ác nên bản tính thường can cường và ít cảm thông
cho nhau. Vì thế, truyền bá giáo lý từ bi là sứ mạng của người xuất gia. Để thực hiện
nhiệm vụ ấy Đức Thế Tôn dạy cho các Tỳ Kheo hộ trì và tu tập ngay bản thân mình,
tìm một đường sống tốt đẹp, không gây đau khổ cho thế nhân. Phật dạy: “Này các Tỳ
Kheo, người nói Pháp không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với ta. Này các
Tỳ Kheo, người nói Pháp không tranh chấp với một ai ở đời”[5,III,165]. Hoàn cảnh
sống không tranh chấp ấy, tâm hành giả sẽ được an tịnh, từ đó mới không phân biệt
giáo hóa chúng sanh. Đời sống luôn là yếu tố chi phối rất nhiều đến con đường tu tập
của hành giả. Đức Phật chỉ bày rất rõ ràng. Trong kinh thường đề cập đến trú xứ và
thân cận xứ. Để thực tập tốt hơn tâm hạnh từ bi hành giả phải chọn một lối sống thích
Không hạn lượng rộng lớn
Khi đi hay khi đứng
Khi ngồi hay khi nằm
Lâu cho đến khi nào
Khi đang còn tỉnh thức
Hãy an trú niệm này
Nếp sống này như vậy
Được đời đề cập đến
Là nếp sống tối thượng. [4,II,213]
Và khi hành giả thực hành lòng từ và tu tập lòng từ thành thục đạt đến cảnh
giới tối cao. Không chỉ làm phương tiện cứu giúp cho đời cho sự nghiệp hoằng pháp
mà có giải thoát tối hậu.
Đi tu tập từ tâm
Vô lượng thường ức niệm
Các kiết sử yếu dần
Thấy được sanh y diệt
Với tâm không ác độc
Từ mẫn gọi chúng sanh
Do vậy vị ấy thành
Bậc thuần nhất chí thiện
Với tâm ý từ mẫn
Đối với mọi chúng sanh
Bậc thánh khéo thực hiện
Nhiều công đức tốt lành. [8, I, 143]
Như vậy tâm từ đối với người xuất gia vừa là phương tiện lãnh đạo. Sự bảo vệ
thâm tâm, con đường chính đạo và rốt ráo công đức. Phật khẳng định: “Với tâm từ
giải thoát, này các Tỳ Kheo được sử dụng, được tu tập, được làm sung mãn, được làm
như cổ xe, được làm như căn cứ địa, được thường trú, được tích tập, được khéo tác
thành, sự chờ đợi là 8 lợi ích”. Thế nào là 8 lợi ích?
1. Người tu tập lòng từ ngủ trong an lạc, thức trong an lạc.
spike not slay”. [23, 37]
Mọi người sợ hình phạt
Mọi người sợ tử vong
Lấy mình làm thí dụ
Không giết, không bảo giết. PC: 129
Đặt mình trong nỗi khổ mới thấu hiểu nỗi khổ, từ đó thương tất cả mới tránh
những nỗi khổ cho họ. Mình tham sống, tất cả chúng sanh cũng vậy.
Tâm ta đi khắp cùng
Tất cả mọi phương trời
Cũng không tìm thấy được
Ai thân hơn tự ngã
Tự ngã đối mọi người
Quá thân ái như vậy
Vậy ai yêu tự ngã
Chớ hại tự ngã người. [5, I, 174-175]
Hiểu được như vậy người luôn tôn trọng nhau trên mọi bình diện của cuộc
sống. Đó là cách duy nhất người ta đến với nhau mà không làm tổn thương nhau.
Nhưng hiển nhiên trong cuộc sống ta thấy ít có ai làm, bởi sự ích kỷ người ta quên đi
người bên cạnh.
2.4.2.3. Luôn Hoan Hỷ Và Tha Thứ:
Tâm chúng sinh luôn tranh đua và ganh tỵ thắng được thì vui mừng, thua thì
thù oán. Đó là lý do mà người ta có thể thành thù oán bất hòa. Đôi khi dù đó là người
thân của mình. Để tránh những thảm cảnh như vậy ta nên tha thứ và hoan hỉ theo lòng
từ. Trước mắt chúng ta còn lắm những câu nói khó nghe và những hành động ngang
trái nhưng phải lấy lòng từ mà cư xử. Đặt dịu dàng trên bao nhiêu hờn ghét, tất cả đi
vào an lạc tươi vui. Phật dạy: “Let a man guard himself the horshness of the mind let
him be well. Controlled in mind (and) having renounced the evils of the mind, let him
the dwell inpurity there in”[23,75]
Lấy không giận thắng giận
Lấy thiện thắng không thiện
hạng người thân thể không được vẹn toàn như thế. Lúc các vị quốc vương đó v.v…
muốn bố thí, nếu có thể đủ tâm từ bi lớn, lại có lòng vui vẻ tự hạ mình, tự tay mình
đem của ra bố thí cho tất cả những kẻ đó, hoặc bảo người khác đem cho, lại dùng lời
dịu dàng an ủi. Các vị Quốc vương, Đại thần đó v.v… đặng phước lợi bằng phước lợi
công đức cúng dường cho một trăm hằng hà sa chư Phật vậy”[18,136-137]. Công đức
bố thí lớn như vậy, hay nói rõ hơn là diệu dụng của phát khởi tâm từ được khai mở và
trở thành phương tiện, điều cần làm và rất nên làm. Ta thật sự hạnh phúc khi sống
trong cộng đồng mà ông cha ta ngày xưa đã truyền lại những bài học về lòng từ thể
hiện qua các câu ca dao, dân ca mộc mạc, ví dụ như: “Thương người như thể thương
thân”. Phải chăng sức sống của lòng từ Phật giáo từ khi du nhập đã cộng hưởng với tư
tưởng thương yêu vốn có của con nguời Việt Nam, làm thành những mỹ tục rất nhân
bản trong:
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Tình thân không phân biệỉt trong cách đối xử với nhau. Mỗi người mỗi hoàn
cảnh, mỗi người mỗi tính cách nhưng gắn kết trong tương thân, tương ái. Với tư tưởng
này ta thấy tính từ bi của Phật giáo và tình thương yêu lẫn nhau của dân tộc Việt Nam
càng thêm gắn bó keo sơn.
Không thể dùng một ý tưởng, một lời văn mà diễn tả hết được nền văn hóa của
một dân tộc, đặc biệt dân tộc ấy văn hóa đã đượm chất từ bi. Vì thế Từ bi vẫn là
nguồn sống cho mọi người dù ở hiện tại hay trong tương lai xa hơn.
CHƯƠNG 3 : TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
3.1. Đôi Nét Khái Quát Về Xã Hội Hiện Đại:
Sau cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu thế kỷ 19 đã đưa nhân loại tiến xa
hơn một bậc về phương tiện vật chất cũng như kỹ thuật công nghệ. Ngày nay thế giới
đã trở nên gần gũi với chúng ta, chỉ cần cái gõ lên bàn phím và cái nhấp chuột, thế
giới sẽ hiện ra trước mắt. Người thời nay đã qua rồi những run sợ trước các thế lực
thiên nhiên, mà họ đã trở lại chiếm hữu và ngự trị trái đất. Nói chung con người đã
chinh phục thế giới bằng những phát minh khoa học và đi sâu quan sát thế giới cũng
tử, nói chung bom vẫn nổ, đạn vẫn bay trong lúc thế giới đang kêu gọi hòa bình. Ta
vẫn chứng kiến những người vô tội bị ảnh hưởng bởi các cuộc đấu tranh vì quyền lợi
phe phái, lãnh thổ, tôn giáo,… mặc cho các tổ chức hòa bình của Liên Hiệp Quốc và
tiếng kêu gọi yên ổn của toàn nhân loại luôn vang lên.
3.1.2. Vấn Đề Môi Sinh:
Chúng ta đang hủy hoại chính mình, có hay không khi hàng ngày chúng ta góp
phần làm cho trái đất nóng lên và nguyên nhân này kích hoạt cho các trận động đất,
núi lửa… Thảm họa động đất sóng thần ở các nước Nam Á và Đông Nam Á ngày 26-
12-2004 là tiếng chuông cảnh báo cho toàn nhân loại biết rằng trái đất đã quá tải do sự
tác động của con người. Trong nỗi đau cùng cực đó con người đành thúc thủ chịu thua
mặc dù các thiết bị tối tân hiện đại không thiếu. Tầng Ozone ngày càng bị thủng to
hơn, nên nhiệt độ trái đất tăng dần lên, những tản băng ở Bắc cực tan nhanh gây ra
những trận lũ lụt thật đáng sợ, điều nguy hiểm là những tia cực tím tác động trực tiếp
lên trái đất đã gây nên bệnh ung thư da ở con người, và vì nhiệt độ trái đất quá nóng
nên xãy ra những trận cháy rừng không kiểm soát được, loài vật cũng không chịu nổi
sự nóng bức nên có những loài đã bị biến mất, tuyết rơi dầy đặc hay những trận bão
tuyết cũng thường xãy ra làm thiệt hại về người và vật chất rất nhiều, hiệu ứng nhà
kính sinh ra những trận bão tử kinh hoàng, và thời tiết diễn biến rất phức tạp gây ra
những thiên tai mà con người không lường trước được.
3.1.3. Những Tệ Nạn Thời Đại:
Khoa học đem lại một đời sống vật chất sung túc nhưng mặt trái của nó bị các
phần tử xấu lợi dụng làm nên nỗi kinh hoàng cho nhân loại. Chúng ta đang phải đối
diện với những khó khăn rất lớn, các tệ nạn xã hội như một thứ đại dịch đang lây lan
làm băng hoại cuộc sống tốt đẹp của bao người. Ngày nay không riêng gì Việt Nam
mà các nước trên thế giới đều lên tiếng báo động về tệ nạn bạo hành ở trẻ em, nghiện
hút Heroin, chích Ma túy, Mại dâm, làm băng hoại nhiều thế hệ nhất là giới trẻ ngày
nay nhiễm phải căn bệnh thế kỷ (HIV). Đó chính là hậu quả của một sự hưởng thụ
thiếu giáo dục và buông mình theo những sự vui thích thiếu lành mạnh. Đôi khi để
thỏa mãn những nhu cầu ấy con người trở nên hung hăng bạo tàn, mất hết nhân tính
và chính họ trở thành những ung nhọt của xã hội. “ Ở trong hoàn cảnh tranh đua kinh
đều phải có sự tương tác mới thành được. Năng lực ấy chính là khát ái và nghiệp lực.
Phật dạy: “Ta là kết quả của nghiệp, ta là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng,
nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là nền tảng, bất cứ nghiệp nào ta làm, thiện hay ác ta sẽ
là kẻ nhận chịu kết quả. Điều này các Thiện nam Tín nữ, các gia chủ cần phải suy
ngẫm”. [4, III, 474]
3.2.1.3. Năng Lực Con Người:
Phật giáo không chấp nhận con người ở trong một trạng thái thụ động, bị sai sử
trong mọi vấn đề mà khẳng định rằng con người có một vị trí vô cùng quan trọng và
làm chủ được mình. Biết rõ tính chất và nguyên nhân cấu thành của một vật chắc chắn
là người có tầm nhìn chính xác. Phật giáo khẳng định vị trí có thể quyết định mọi chi
phối cho đời sống vật chất và tinh thần trong cuộc sống chính mình mà không phải lệ
thuộc bởi bất kì một thế lực nào. Phật khẳng định: “Self is the Lord of self. What
higher lord could there be? When a man subdues well his self, he would have found a
Lord very difficult to find” [23,75]
Tự mình làm chủ tể của mình, không ai khác có thể làm chủ tể? Với sự tự điều
phục, con người tìm thấy đấng chủ tể khó có. PC: 160
Không lệ thuộc, không bị bắt buộc, vị trí con người được khẳng định. Nhờ vậy
con người có đầy đủ những năng lực, chịu trách nhiệm về hành vi của mình cũng như
tự mình làm chủ được mình, giải thoát hay khổ đau tự mình quyết định, không ai
quyết định thế mình được.
3.3. Đạo Đức Phật Giáo Với Giáo Dục Cá Nhân:
3.3.1. Hoàn Thiện Tự Thân:
Con người có vị trí tối thắng trong tất cả các loài hữu tình chúng sanh. Đạo
Phật đánh giá rất cao vị trí con người trong vấn đề đảm nhận và thực hành giáo lý.
Xây dựng một con người có nhân cách hoàn hảo, biết sống vì mọi người, trở thành
một thành viên tốt cho gia đình và xã hội là một điều hết sức cần thiết.
3.3.2. Xây Dựng Một Nhân Cách Trong Sáng:
Con người là thừa tự của nghiệp, khi sanh ra đời đã có sẳn mầm mống của
nghiệp trong tâm thức. Hiểu như vậy, ta luôn ở thế chủ động để phòng bị các phát tác
ảnh hưởng đến quá trình hoàn thiện nhân cách. Con người hiện đại cần yếu tố này hơn