nghiên cứu giải pháp phát triển kinh tế trang trại huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐẶNG NGỌC HUYỀN NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRANG TRẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐẶNG NGỌC HUYỀN
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRANG TRẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Minh Thọ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CÁM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã
nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể, cá nhân. Nhân dịp này tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn đến:
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả các thầy, cô giáo
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Phòng quản lý đào tạo sau Đại
học đã dạy bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo TS.Nguyễn Thị
Minh Thọ, người đã tận tình hướng dẫn dìu dắt tôi trong suốt quá trình nghiên
cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, nhân viên phòng Nông nghiệp và
PTNT, Chi cục Thống kê, UBND các xã và các hộ trang trại trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình nghiên cứu đề tài.
Tôi vô cùng biết ơn gia đình, đồng nghiệp và các bạn gần xa đã giúp đỡ
động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014

Tác giả
Đặng Ngọc Huyền


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
1.2.2.2. Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số
địa phương của Việt Nam. 28
1.2.2.3. Bài học kinh nghiệm cho phát triển kinh tế trang trại ở
huyện Đồng Hỷ 33
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1. Đối tượng nghiên cứu 35
2.2. Nội dung nghiên cứu 35
2.3. Phạm vi nghiên cứu 35
2.4. Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 35
2.4.1.1. Thu thập tài liệu và số liệu thứ cấp 35
2.4.1.2. Thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp 36
2.4.2. Chọn điểm nghiên cứu 36
2.4.3. Xử lý và tổng hợp số liệu 37
2.4.4. Các phương pháp phân tích 38
2.4.5. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 39
2.4.5.1. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất 39
2.4.5.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của trang trại 40
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1. Mô tả địa bàn nghiên cứu 41
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 41
3.1.1.1. Vị trí địa lý 41
3.1.1.2. Địa hình 41
3.1.1.3. Đất đai và thổ nhưỡng 43
3.1.1.4. Điều kiện khí hậu, thời tiết 47
3.1.1.5. Thuỷ văn 48
3.1.1.6. Tài nguyên rừng và khoáng sản 49


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
3.3. Giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại ở huyện Đồng Hỷ 85
3.3.1. Quan điểm phát triển kinh tế trang trại ở Đồng Hỷ 85
3.3.2. Định hướng chiếm lược phát triển 86
3.3.3. Mục tiêu phát triển kinh tế trang trại cho huyện Đồng Hỷ 89
3.3.4. Một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Đồng Hỷ 90
3.3.4.1. Phát triển thị trường 90
3.3.4.2. Mở rộng và tăng cường các hình thức liên kết, hợp tác 91
3.3.4.3. Gia tăng các yếu tố nguồn lực 91
3.3.4.4. Mở rộng công nghệ chế biến và bảo quản nông sản 94
3.3.4.5. Xây dựng thương hiệu trang trại 94
3.3.4.6. Giải pháp cụ thể cho từng loại hình trang trại 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
1. Kết luận 98
2. Đề nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
I. Tiếng Việt 101
II. Tiếng Anh 102
III. Website 102 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii

VAC
: Vườn ao chuồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang
Bảng 1.1. Các loại trang trại phân theo vùng, thời điểm 01/7/2013 27
Bảng 2.1. Số lượng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu 37
Bảng 3.1. Đặc điểm địa hình huyện Đồng Hỷ 42
Bảng 3.2. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đồng Hỷ năm 2011-2013 44
Bảng 3.3. Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Đồng Hỷ 51
Bảng 3.4. Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ
giai đoạn (2011 - 2013) 55
Bảng 3.5. Loại hình và cơ cấu trang trại của huyện trong
giai đoạn 2011-2013 58
Bảng 3.6. Các loại hình trang trại của huyện phân bố theo các đơn vị
hành chính 58
Bảng 3.7. Các loại hình trang trại của huyện Đồng Hỷ phân bố theo vùng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
x

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 1.1. Sơ đồ tính hệ thống của trang trại 7
Hình 3.1. Biểu đồ giá trị gia tăng của các ngành kinh tế huyện Đồng Hỷ 56
Hình 3.2. Biểu đồ cơ cấu loại hình trang trại theo vùng sinh thái 60 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của
nền sản xuất hàng hoá. Trong gần hai thế kỷ qua, nền nông nghiệp thế giới đã
có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau. Cho đến nay, một số nơi các
hình thức sản xuất theo mô hình tập thể, và quốc doanh, cũng như xí nghiệp
tư bản nông nghiệp tập trung quy mô lớn, không tỏ ra hiệu quả [2]. Trong khi
đó, hình thức tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại phù hợp với đặc
thù của nông nghiệp nên đạt hiệu quả cao, và ngày càng phát triển ở hầu hết
các nước trên thế giới. So với nền kinh tế hộ nông dân thì kinh tế trang trại là

dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng.
Huyện Đồng Hỷ là một khu vực quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của Thái Nguyên, nơi cung cấp lương thực, thực phẩm, sản phẩm hàng hóa
nông nghiệp. Nơi đây hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
trang trại như: nguồn gốc trang trại ở khu vực này đã có từ lâu, nhân dân cần
cù lao động, phát triển kinh tế trang trại đã được các cấp chính quyền quan
tâm, giao thông thuận lợi cho sự phát triển giao lưu hàng hóa, đất đai thuận
lợi cho phát triển cây công nghiệp dài ngày như chè, gỗ, cây ăn quả như vải,
na, hồng tạo việc làm cho hàng trăm lao động cho nông dân. Bên cạnh những
thuận lợi còn gặp không ít những khó khăn làm cản trở cho việc phát triển
kinh tế trang trại như: chủ trang trại còn thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật,
khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, thiếu vốn, lao động trang trại chưa qua đào
tạo. hầu hết các chủ trang trại có nguyện vọng được vay vốn ngân hàng với số
lượng lớn, thời gian dài, lãi suất ưu đãi để đầu tư vào các loại hình mới có
hiệu quả như cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản với mô hình lớn. Phát triển
kinh tế trang trại là hướng đi đúng đắn, cần được quan tâm giúp đỡ bằng các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
chính sách hợp lý, góp phần khai thác một cách có hiệu quả và bền vững tiềm
năng đất đai, lao động ở địa phương.
Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phát triển kinh tế trang
trại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đề xuất được các giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế trang trại
ở huyện trong những năm tới, góp phần thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại huyện Đồng Hỷ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học về phát triển kinh tế trang trại
1.1.1. Trang trại và kinh tế trang trại
Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình
nông dân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường
khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến
[4]. Một số tác giả khi nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kinh tế
trang trại trên thế giới cho rằng, các trang trại được hình thành từ cơ sở của
các hộ tiểu nông sau khi từ bỏ sản xuất tự cung tự cấp khép kín, vươn lên sản
xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường trong điều kiện cạnh tranh.
Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ: Ferme (tiếng Pháp),
Farm (tiếng Anh)…, được hiểu chung là nông dân- chủ trang trại gia đình.
Các thuật ngữ trên được hiểu chung là nông dân, chủ trang trại gia đình,
người nông dân gắn với ruộng đất, với đất đai nói chung. [3]
Theo Mác: trong sản xuất nông nghiệp, vai trò hết sức quan trọng của
trang trại là mang lại hiệu quả kinh tế cao “Ngay cả nước Anh với nền công
nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp
nông nghiệp quy mô lớn, mà là các trang trại gia đình sử dụng lao động làm
thuê” [6]
Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hóa phát triển
trên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cả

hợp hài hòa ba mặt này sẽ đảm bảo cho kinh tế trang trại phát triển bền vững
và bảo vệ tốt môi trường, sử dụng tối ưu các nguồn lực.
Trong các mặt kinh tế- xã hội và môi trường của trang trại thì mặt kinh
tế là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi của trang trại. Vì vậy trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
nhiều trường hợp khi nói đến kinh tế trang trại, tức là nói tới mặt kinh tế của
trang trại, người ta gọi tắt là trang trại [7], [5]
Theo quan điểm hệ thống có thể thấy trang trại như là một tổ chức kinh
tế mang tính hệ thống rõ rệt. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
trang trại có quan hệ chặt chẽ với môi trường bên ngoài và trải qua ba công
đoạn đó là đầu vào (inputs); quá trình (process) và đầu ra (outputs).

Hình 1.1. Sơ đồ tính hệ thống của trang trại
Có thể nói rằng trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp
hàng hóa dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệu sản xuất cơ bản của hộ gia
đình, hoàn toàn tự chủ, sản xuất kinh doanh bình đẳng với các tổ chức kinh tế

bị ngưng trệ
-Nghiên cứu kinh tế trang trại phải đồng thời xem xét trên cả ba
công đoạn của nó mới cho ta cái nhìn toàn diện và hệ thống về
trang trại và kinh tế trang trại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
1.1.2. Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại
Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13/04/2011 của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn về việc thay thế Thông tư liên tịch số
69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 13/06/2000 và Thông tư số 74/2003/TT-
BNN, ngày 04/07/2003. Qua đó đưa ra tiêu chí để xác định kinh tế trang trại
như sau:
1. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:
a. Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu 3,1 hécta.
b. Có giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên.
2. Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu
đồng/năm trở lên, đồng thời thỏa mãn các điều kiện về quy mô đàn như sau:
a. Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, …, chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường
xuyên từ 20 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên;
trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được
tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 2,5 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại.
b. Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, …; chăn nuôi sinh sản đối với lợn có thường
xuyên từ 30 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi thịt đối
với lợn có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê cừu thịt từ
300 con trở lên; trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống
kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 3 con thịt bằng 1 con sinh
sản và ngược lại.
c. Chăn nuôi gia cầm: Đối với gà, vịt, … thịt: có thường xuyên từ 5.000 con
trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi); đối với gà, vịt, … đẻ (trứng

Ở nước ta, kinh tế trang trại (mà chủ yếu là trang trại gia đình) mặc dù
mới phát triển trong những năm gần đây, song vai trò tích cực và quan trọng
của kinh tế trang trại đã thể hiện rõ nét cả về kinh tế cũng như về mặt xã hội
và môi trường.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
* Về mặt kinh tế: Mô hình kinh tế trang trại đã tạo bước chuyển biến cơ
bản về giá trị sản phẩm hàng hóa, và thu nhập của trang trại vượt trội hẳn so
với kinh tế hộ. Hiện nay, tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ của trang trại ước tính
hơn 19.826 tỷ đồng, bình quân một trang trại đã tạo ra giá trị sản xuất gần
324.9 triệu đồng gấp 8 lần so với bình quân giá trị sản xuất của một hộ nông
nghiệp. Tại vùng Tây Nguyên, giá trị sản phẩm hàng hóa của trang trại đạt
bình quân gần 148.6 triệu đồng/trang trại/năm. Kinh tế trang trại đã thu hút,
tạo việc làm cả nước cho hơn 395.878 lao động, góp phần giảm bớt áp lực
thiếu việc làm ở nông thôn, đồng thời giúp cho thu nhập của người lao động
được đảm bảo ổn định ở mức từ 400.000đ-600.000đ/tháng (với lao động thời
vụ), tiền công cũng phổ biến ở mức 20.000đ/ngày. Riêng các doanh nghiệp
nông thôn đã giải quyết cho trên một triệu lao động có việc làm trong các xí
nghiệp, nhà máy với thu nhập bình quân từ 700.000-1.000.000đ/tháng [14]
Mô hình này đã có những kết quả vượt trội so với kinh tế hộ, hình
thành nên những vùng sản xuất hàng hóa lớn tập trung, thúc đẩy quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tiến tới xây dựng nên
những vùng, miền nông thôn mới văn minh hiện đại. Thách thức vẫn còn ở
phía trước, tuy nhiên, kinh tế trang trại thật sự “cất cánh” vẫn còn nhiều việc
phải làm. Cách đây 4 năm, con số 55% trang trại chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất mà Nguyên Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn Lê Huy Ngọ đưa ra đã khiến nhiều người bất ngờ. Cũng là đầu tư
phát triển, nhiều doanh nghiệp đến từ nơi xa được “trải chiếu hoa, trải thảm
đỏ” thì người nông dân lại “toát mồ hôi” khi thuê đất [18].

thống đa dạng sinh thái ngày càng được cải thiện trở lại với cái vốn có của nó.
- Những đóng góp của trang trại đối với Nhà nước: Kinh tế trang trại
phát triển nó góp phần tăng thu nhập đối với nền kinh tế quốc dân, cũng như
tăng nguồn thu ngân sách đối với Nhà nước.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
* Về xã hội
Thu hút lao động, hạn chế bớt làn sóng di cư ra thành phố, làm giảm áp
lực đối với xã hội, đảm bảo an ninh trật tự nơi đô thị, hạn chế tai tệ nạn cho xã
hội. Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu
trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động, với tổng
số thu hút lao động trên toàn quốc tính đến 2006 là 395.878 người. Điều này
rất có ý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề lao động và việc làm. Mặt khác,
trong xu hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế, đã
tác động lớn đến khoảng cách chênh lệch thu nhập của đại bộ phận dân cư,
thu nhập của người dân đô thị là cao hơn so với khu vực nông thôn. Chính vì
vậy, sự kỳ vọng về mức thu nhập cao đã thôi thúc nhiều nông dân đi tìm công
ăn việc làm ở đô thị. Như vậy, sự phát triển trang trại cũng là một nguyên
nhân tác động đến người nông dân gắn bó với công việc khu vực nông thôn,
hạn chế sự di cư đến đô thị. Mặt khác, nông dân có việc làm là cách cải thiện
đáng kể tệ nạn xã hội do thất nghiệp gây nên, một trong những vấn đề bức
xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay. Đồng thời phát triển kinh tế
trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng, trong nông thôn
nước ta.
- Có đóng góp với nền an ninh lương thực như: Đáp ứng được nhu cầu
của cư dân một vùng, hay cả quốc gia một cách ổn định và bền vững. Cho dù
sự đóng góp của ngành nông nghiệp trong cơ cấu của nền kinh tế giảm một
cách tương đối, lực lượng lao động có sự chuyển dịch sang các ngành khác,
diện tích canh tác bị thu hẹp… mà lương thực vẫn đảm bảo và bền vững, thì

Trong điều kiện kinh tế thị trường, trang trại là một đơn vị kinh tế tự
chủ với những đặc trưng sau:
Thứ nhất: Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản
phẩm hàng hóa theo nhu cầu thị trường.

Trích đoạn Đặc trưng của kinh tế trang trại Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam qua các thời kỳ Gia tăng các yếu tố nguồn lực Giải pháp cụ thể cho từng loại hình trang trại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status