ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN CHU VIỆT SƠN NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHÌ
TRONG SẢN XUẤT THUỐC GỢI NỔ CHÌ AZOTUA
BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ HẤP THỤ NGUYÊN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 2
1.1. Giới thiệu chung về thuốc gợi nổ (thuốc nổ sơ cấp) 2
1.1.1. Đặc điểm chung của thuốc gợi nổ 2
1.1.2. Phân loại thuốc gợi nổ 4
1.1.3. Công dụng của thuốc gợi nổ 5
1.2. Giới thiệu về chì azotua 6
1.2.1. Giới thiệu chung 6
1.2.2. Tính chất 6
1.2.3. Công dụng của chì azotua 9
1.2.4. Giới thiệu về Công ty Hóa chất 21 và công nghệ sản xuất chì
azotua tại Công ty 9
1.3. Các phƣơng pháp phân tích chì 11
1.3.1. Phƣơng pháp trọng lƣợng 11
1.3.2. Phƣơng pháp thể tích 11
1.3.3. Các phƣơng pháp phân tích điện hoá 13
1.3.4. Các phƣơng pháp phân tích quang học 14
CHƢƠNG 2: THỰC NGHIỆM 20
2.1. Đối tƣợng và nội dung nghiên cứu 20
2.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 20
2.2.2. Nội dung nghiên cứu 21
2.2. Hóa chất, thiết bị và dụng cụ 22
2.2.1. Hoá chất 22
2.2.2. Thiết bị và dụng cụ 22
2.3. Quy trình thực nghiệm phân tích chì azotua bằng phƣơng pháp chuẩn
Kí hiệu
viết tắt
Tên đầy đủ
1
Abs
Độ hấp thụ quang (Absorption)
2
Abs
tb
Độ hấp thụ quang trung bình
3
AAS
Phổ hấp thụ nguyên tử (atomic absorption spectrometry)
4
AES
Phổ phát xạ nguyên tử (atomic emision spectrometry)
5
EDTA
Etylen diamin tetraaxetic axit
6
F-AAS
Phương pháp phân tích Phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa
(Flame atomic absorption spectrometry)
7
GF-AAS
Phương pháp phân tích Phổ hấp thụ nguyên tử không
ngọn lửa (Graphite furnace atomic absorption
spectrometry)
8
V
EDTA
Thể tích dung dịch EDTA
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Chỉ tiêu một số loại thuốc gợi nổ chì azotua 20
Bảng 3.1.
Kết quả xác định hiệu xuất thu hồi bằng phương pháp thêm chuẩn
29
Bảng 3.2. Các mức thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các yêu tố 30
Bảng 3.3. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố đến hàm lượng chì xác
định theo phương pháp chuẩn độ thể tích 30
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát chọn vạch đo của chì 33
Bảng 3.5. Kết quả khảo sát cường độ dòng đèn 34
Bảng 3.6. Quan hệ giữa tín hiệu hấp thụ và độ rộng khe đo 35
Bảng 3.7. Quan hệ giữa tín hiệu hấp thụ và chiều cao Burner 36
Bảng 3.8. Kết quả khảo sát lưu lượng khí cháy 37
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của nồng độ axit HNO
3
đến tín hiệu hấp thụ 38
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của nồng độ axit HCl đến tín hiệu hấp thụ 38
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của nồng độ axit H
2
SO
4
đến tín hiệu hấp thụ 39
Hình 1.4. Sơ đồ tiến trình công nghệ sản xuất chì azotua 9
Hình 2.1. Sơ đồ hệ thống máy F-AAS 26
Hình 3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả đo hàm lượng chì 31
Hình 3.2. Ảnh máy đo AA-6800 sử dụng để xác định hàm lượng chì 32
Hình 3.3. Đồ thị sự phụ thuộc của tín hiệu AAS vào nồng độ chì 44
Hình 3.4. Đường chuẩn xác định chì trên hệ F - AAS 45
Hình 3.5. Sơ đồ công nghệ xác định hàm lượng chì bằng phương pháp F-
AAS 51 1
MỞ ĐẦU
Ngày nay việc sử dụng các loại thuốc gợi nổ dùng trong công nghệ
Quân sự là nhiệm vụ quan trọng của nhiều Quốc gia. Phân tích chính xác các
thành phần trong các loại thuốc gợi nổ là yêu cầu không thể thiếu đối với tất
cả các lĩnh vực trong nền kinh tế nói chung và Quốc phòng nói riêng. Hầu hết
tất cả các loại hoả cụ phục vụ cho nền kinh tế và Quân sự đều có nguyên lý
chung là sử dụng các loại thuốc gợi nổ (thuốc nổ sơ cấp) để nhận xung lượng
ban đầu chuyển hoá thành phản ứng nổ để mồi nổ các loại thuốc nổ phá
(thuốc nổ thứ cấp). Trong các loại thuốc gợi nổ đó chì azotua hay còn gọi là
chì azit được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong các loại kíp nổ trên toàn thế
giới. Ưu điểm của loại thuốc này là có độ nhạy với ma sát, ngọn lửa vừa phải
đảm bảo an toàn trong sản xuất và sử dụng đồng thời nó có gia tốc biến đổi nổ
lớn gấp nhiều lần các loại thuốc gợi nổ khác nên dễ dàng kích nổ thuốc nổ thứ
Biến hóa cơ bản của TGN là nổ; trong trường hợp lượng TGN quá nhỏ
hoặc khi hỗn hợp TGN với một số chất khác thì chỉ có thể xảy ra biến hóa
cháy mà không nổ. Khi đốt trong không khí, TGN rất dễ bén lửa, tốc độ cháy
tăng nhanh, biến hóa cháy diễn ra không ổn định nhanh chóng chuyển thành
nổ. Đối với TNP (thuốc nổ thứ cấp) thì chỉ trong những điều kiện nhất định
cháy mới chuyển thành nổ (cháy một lượng lớn hoặc cháy trong thể tích kín).
Gia tốc biến đổi nổ của TGN lớn hơn nhiều so với thuốc nổ, khi nổ nhanh
chóng đạt trạng thái nổ ổn định. Nhưng tốc độ ổn định của TGN nhỏ hơn
nhiều so với thuốc nổ nên độ mạnh của TGN kém hơn thuốc nổ phá. Sự biến
thiên tốc độ nổ của TGN và TNP được biểu diễn trên đồ thị hình 1.1.
Hình 1.1: Đồ thị tốc độ nổ của chất nổ
TGN
t
1
t
2
D
1
D
Như vậy, có thể thấy rằng gia tốc biến đổi nổ càng lớn thì khả năng mồi
càng cao. Khả năng mồi của thuốc nổ phụ thuộc vào các yếu tố:
+ Dạng xung lượng kích thích ban đầu: Nếu dạng xung lượng kích
thích ban đầu phù hợp với độ nhạy cao nhất của TGN thì khả năng mồi theo
dạng xung lượng đó sẽ cao.
+ Cường độ của xung lượng kích thích ban đầu: Cường độ của xung
lượng kích thích ban đầu càng lớn thì khả năng mồi càng cao.
+ Mật độ của TGN: Mật độ của TGN càng lớn thì gia tốc biến đổi càng
lớn, tốc độ nổ ổn định cao, khả năng mồi càng mạnh.
+ Nhiệt độ ban đầu của liều TGN: Nhiệt độ ban đầu của liều TGN càng
cao thì độ nhạy của nó càng tăng nên khi nổ gia tốc biến đổi nổ lớn, khả năng
mồi càng cao.
+ Vỏ bọc: Nếu TGN có vỏ bọc thì khi nổ năng lượng nổ ít bị phân tán
4
ra xung quanh mà chủ yếu tập trung theo hướng đã định làm cho tốc độ lan
truyền nổ tăng, gia tốc biến đổi nổ lớn, khả năng mồi nổ cao.
1.1.2. Phân loại thuốc gợi nổ
Tùy theo công dụng, bản chất, cấu trúc, thành phần hóa học của TGN
mà có nhiều cách phân loại [5].
1.1.2.1. Phân loại theo công dụng
Chia 2 nhóm: TGN cháy - kích thích quá trình cháy,
TGN nổ - kích thích quá trình nổ.
Ví dụ: chì azotua có gia tốc biến đổi nổ lớn nên chỉ dùng để mồi nổ
trong các loại kíp nổ, không dùng để mồi cháy vì có thể chuyển quá trình
cháy thành quá trình nổ; trong khi đó thủy ngân phuminat có thể dùng để mồi
nổ trong các loại kíp nổ và mồi cháy trong các loại hạt lửa.
1.1.2.2. Phân loại theo thành phần
Theo thành phần, TGN được chia thành 2 loại:
a. TGN đơn: là loại TGN chỉ có một thành phần. Ví dụ: Thủy ngân
Bari nitrat - Ba(NO
3
)
2
: 20%
Antimon trisunphua - Sb
2
S
3
: 25%
Tetrazen- C
2
H
8
N
10
O : 5%
+ Hỗn hợp nhồi trong hạt lửa va đập có thành phần như sau:
Thủy ngân phuminat - Hg(ONC)
2
: 25%
Kali clorát - KClO
3
: 37,5%
Antimon sunphua - Sb
2
S
3
: 37,5%
ON
10
.
e. Hợp chất diazo, với đại diện quan trọng là diazo dinitro phenol (DDNP) -
C
6
H
2
(NO
2
)
2
N
2
O.
f. Một số hợp chất khác (CuC
2
).
Thực tế sử dụng nhiều 4 nhóm đầu, trong đó thủy ngân phuminat chủ yếu
dùng để mồi cháy; chì azotua được dùng để mồi nổ; chì stipnat chủ yếu để làm TGN
phụ trợ (nó tiếp nhận xung nhiệt rất nhạy, nhưng năng lượng mồi nổ nhỏ); tetrazene
cũng chủ yếu làm TGN phụ trợ (tăng nhạy cho các TGN hỗn hợp).
1.1.3. Công dụng của TGN
TGN có độ nhạy cao, khả năng mồi nổ tốt nhưng uy lực kém, bởi vậy
TGN được sử dụng ở dạng đơn hoặc hỗn hợp để nhồi vào các phương tiện
mồi cháy, kích nổ như: hạt lửa, nụ xùy, kíp nổ
Trên thực tế các TGN được sử dụng phổ biến là: thủy ngân phuminat,
chì azit, chì stipnat, tetrazen và một số hỗn hợp (hỗn hợp va đập, hỗn hợp đâm
chọc).
Hình 1.2. Hình dạng tinh thể
chì azotua PVA
Hình 1.3. Hình dạng tinh thể
chì azotua hồ tinh
1.2.2. Tính chất
1.2.2.1. Tính chất lý học
Chì azotua là chất kết tinh màu trắng, tồn tại ở 2 dạng thù hình: dạng
có dạng hình kim (mật độ đạt 4,68 g/cm
2
rất nhạy nên trong quá trình sản xuất
người ta mong muốn không tạo ra dạng ); dạng có dạng hình trụ ngắn (mật
độ 4,87 g/cm
2
). Tuỳ thuộc vào điều kiện kết tinh mà hạt thuốc có dạng hình
kim hoặc trụ ngắn. Ở dạng nguyên chất rất khó nén, nếu thuần hoá thì dễ dàng
nén đến mật độ 3,0 - 4,0 g/cm
3
. Chì azotua có tính độc nhẹ, ít hút ẩm, khi bị
ẩm tính chất nổ cháy vẫn không thay đổi [7] [24].
N N
N- Pb-N
N N
3
Pb(NO
3
)
2
+ 2HN
3
- Tác dụng với khí cácbonic trong không khí ẩm theo phản ứng:
Pb(N
3
)
2
+ CO
2
+ H
2
O PbCO
3
+ 2HN
3
Bởi vậy trong bảo quản chì azotua cần phải được bảo kín, trong môi
trường có độ ẩm thấp không cho tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
Đối với kim loại: Trong điều kiện khô, chì azotua không tác dụng với
kim loại nhưng trong môi trường ẩm nó tác dụng với một số kim loại, đặc biệt
là đồng hoặc hợp kim đồng (khi có ẩm và khí CO
2
làm xúc tác) tạo thành hợp
chất đồng azotua [CuN
+ Đối với tia lửa điện: Không nhạy với tia lửa thường nhưng nhạy với
tia lửa điện.
Khác với thuỷ ngân phuminát, độ nhạy của chì azotua hầu như không
phụ thuộc vào độ ẩm và áp suất nén. Khi hàm lượng ẩm đạt tới 30% thì độ
nhạy vẫn không thay đổi.
Độ nhạy của chì azotua chủ yếu phụ thuộc vào chất thuần hoá. Khi
thuần hoá độ nhạy của nó giảm rõ rệt. Ví dụ: độ nhạy của chì azotua thuần
hoá giảm rõ rệt khi áp suất nén trên 700 kG/cm
2
, trong khi đó nén chì azotua
nguyên chất đến áp suất 2000 kG/cm
2
mà độ nhạy vẫn không thay đổi. Vì vậy
căn cứ vào nhu cầu sử dụng người ta thường độn hoá vào chì azotua chất phụ
gia như: hồ tinh hoặc keo polyvinylancol (PVA) nhằm tạo ra kết tinh dạng
hình trụ ngắn để đảm bảo an toàn, tăng độ tơi khi đong, tăng khả năng chịu
nén ép vào sản phẩm và giảm độ nhậy đảm bảo an toàn trong quá trình sản
xuất, bảo quản và sử dụng.
- Các đặc trưng năng lượng nổ của chì azotua khi mật độ nén bằng 4,0
g/cm
2
như sau [5], [7]:
+ Tốc độ nổ (D) : 5.100m/s
+ Nhiệt lượng nổ (Q) : 390 kcal/kg.
+ Thể tích sản phẩm khí (W
0
) : 308 l/kg
9
+ Nhiệt độ nổ (T) : 4500
Công ty Hoá chất 21 ( Còn gọi là Nhà máy Z121) thuộc Tổng cục Công
nghiệp Quốc phòng - Bộ Quốc phòng được thành lập từ năm 1966 đóng quân
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, với nhiệm vụ sản xuất các loại Hoả cụ cung cấp
cho Quân đội và nền kinh tế Quốc dân. Trong những năm qua Công ty đã sản
xuất hàng trăm triệu hoả cụ các loại: kíp nổ, hạt lửa, bộ lửa, nụ xuỳ cung cấp
cho các Nhà máy Quốc phòng và trực tiếp cho chiến trường phục vụ cho cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc và nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu
bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời kì đổi mới, ngoài việc sản xuất các sản phẩm phục vụ cho
nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của bộ đội, Công ty còn sản xuất
hoả cụ phục vụ cho nền kinh tế quốc dân như: kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm,
nổ
10
pháo hoa Những năm vừa qua, Công ty đã mạnh dạn đổi mới công nghệ sản
xuất, ứng dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật cao áp dụng vào sản xuất. Vì vậy sản
phẩm ngày càng phát triển đa dạng, chất lượng được nâng cao, hai lần Công
ty vinh dự được Đảng và Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân và Anh hùng lao động trong thì kỳ đổi mới.
1.2.4.2. Công nghệ sản xuất chì azotua
Chì azotua nói chung được sản xuất theo sơ đồ tiến trình công nghệ như
hình 1.4 [4]:
Dd phụ gia
Nhập kho
dd Pb(NO
3
)
2
Pha dd NaN
3
Lọc dd Pb(NO
3
)
2
Lọc dd NaN
3Định lượng Pb(NO
3
)
2
Định lượng NaN
3Hoá hợp
Hút lọc- rửa
, PbS,
PbCl
2
Những kết quả xác định theo phương pháp này sẽ kém chính xác nếu
kết tủa hấp phụ các tạp chất thời gian xác định lâu.
1.3.2. Phương pháp thể tích
1.3.2.1. Phương pháp chuẩn độ ôxy hoá khử [19]
- Tách Pb
2+
dưới dạng PbSO
4
ít tan bằng H
2
SO
4
:
Pb
2+
+ SO
4
2-
PbSO
4
- Hoà tan PbSO
4
bằng dung dịch đệm CH
3
COONH
4
O
7
:
2Pb(CH
3
COO)
4
(NH
4
)
2
+ K
2
Cr
2
O
7
+ H
2
O 2PbCrO
4
+ 2KCH
3
COO +
4NH
4
CH
3
COO+2 CH
3
2
O + 3 I
212
- Chuẩn độ lượng I
2
thoát ra bằng Na
2
S
2
O
3
với chỉ thị hồ tinh bột:
I
2
+ 2Na
2
S
2
O
3
2NaI + Na
2
S
4
O
6
+ 2 NaI
PbY
2-
+ 2H
+
Cách 2: Chuẩn độ ngược Pb
2+
bằng Zn
2+
Cho Pb
2+
tác dụng với một lượng dư chính xác EDTA biết trước nồng độ
ở pH=10. Sau đó chuẩn độ lượng EDTA dư bằng Zn
2+
, chỉ thị E_TOO.
Pb
2+
+ H
2
Y
2-
PbY
2-
+ 2H
+
và MgY
2-
có logarit hằng số bền lần lượt là 18;
8,7 nên trong môi trường đệm amoni Pb
2+
dễ dàng đẩy Mg
2+
ra khỏi phức
MgY
2-
một cách định lượng. Ta xác định Pb
2+
bằng cách chuẩn độ Mg
2+
bằng
EDTA, chỉ thị E_TOO.
Pb
2+
+ MgY
2-
PbY
2-
+ Mg
2+
MgInd
trong đó người ta phân cực điện cực giọt Hg bằng một điện áp một chiều biến
thiên đều theo thời gian để nghiên cứu các quá trình khử cực của chất phân
tích trên điện cực làm việc đó và thông qua chiều cao của đường sóng cực phổ
14
hiện đại như cực phổ sóng vuông (SQWP), cực phổ xung (NP) và cực phổ
xung vi phân (DPP) loại trừ được ảnh hưởng đó và tăng độ nhạy lên đến 10
-9
M.
1.3.3.2. Phương pháp Vôn - Ampe hoà tan
Phương pháp Vôn - Ampe hoà tan là phương pháp có độ nhạy cao có
thể đạt từ 10
-8
M đến 10
-9
M. Về bản chất phương pháp này dựa trên việc đo
dòng điện cực hoạt động là hàm số của giá trị thế áp vào điện cực, dòng điện
này tỷ lệ với nồng độ chất phân tích trong dung dịch. Quá trình phân tích gồm
3 giai đoạn :
- Giai đoạn 1: Làm giàu chất phân tích lên bề mặt điện cực hoạt động
dưới dạng kim loại hoặc hợp chất khó tan. Khi điện phân làm giàu người ta
chọn thế thích hợp và giữ không đổi trong suốt quá trình điện phân.
- Giai đoạn 2: Dung dịch được để yên (dừng khuấy) để phân bố đều
chất tan trên bề mặt điện cực thời gian ngừng khoảng từ (5 15)s.
- Giai đoạn 3: Hoà tan chất phân tích trên bề mặt điện cực bằng cách
quét thế theo một chiều xác định, đo và ghi dòng hoà tan tuỳ theo chiều phân
cực mà ta có phương pháp vôn - ampe hoà tan catốt hay phương pháp vôn -
ampe hoà tan anot [16].
Các phương pháp này có độ nhạy, độ chính xác cao nhưng đòi hỏi
mgPb/lít. Đặng Thị An và cộng sự đã dùng phương pháp tạo phức với
dithizon để xác định sơ bộ hàm lượng chì trong các mẫu thực vật tại mỏ chì
kẽm ở Tân Long- Đồng Hỉ- Thái Nguyên, kết quả cho thấy đã xác định được
hàm lượng chì của họ ngô lúa (poaceae) trong khoảng (6002000)ppm [10].
1.3.4.2. Phương pháp cảm ứng cao tần Plasma phổ khối ICP - MS
ICP - MS là sự kết hợp giữa nguồn năng lượng cao tần và khối phổ.
Nguyên tắc của phương pháp là hoá hơi hoàn toàn dung dịch mẫu tạo ra môi
trường phát xạ. Sau đó nguyên tử hoá đám hơi của mẫu tạo ra hơi của các
nguyên tử tự do của các nguyên tố phân tích. Cung cấp năng lượng để kích
thích các nguyên tố phân tích trong đám hơi phát ra phổ phát xạ. Thu toàn bộ
chùm phát xạ của mẫu, phân ly thành phổ và ghi phổ [15].
Ưu điểm của phương pháp này là có thể phân tích đồng thời nhiều kim
loại trong các mẫu khác nhau như: mẫu đất, nước, không khí trong nhiều
ngành như: y học, thực phẩm, dược phẩm,… nó cũng được dùng để kiểm tra
chất lượng công nghiệp hoá học, hoá dầu. Ngày nay, phương pháp này được
ứng dụng phục vụ rất nhiều cho công việc nghiên cứu, sản xuất vật liệu như:
vật liệu từ, vật liệu bán dẫn, vật liệu công nghiệp điện tử cao cấp. Tuy nhiên
nó có nhược điểm là tiêu tốn khí đốt điện năng lớn. Môi trường đặt thiết bị
ICP - MS phải tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ tiêu kỹ thuật như: phải sạch, có
máy hút ẩm, điều hoà không khí, có máy lọc khí, buồng khử trùng.
16
Theo nghiên cứu của Lương Thị Loan về việc xác định đồng thời đồng,
chì, cadimi trong huyết thanh bằng phương pháp ICP-MS kết quả cho thấy
với điều kiện tối ưu cho quá trình xác định các nguyên tố đồng, chì, cadimi
trên thiết bị ICP-MS là tốc độ khí cho bộ sol hoá mẫu 0,5 l/phút, công suất
máy phát cao tần 1000 W, thời gian lấy tín hiệu là 40 giây, thời gian rửa sạch
mẫu là 45 giây, tốc độ khí mang Ar 15-20 l/phút, tốc độ bơm mẫu 2- 3
ml/phút, thế điều khiển thấu kính điện tử - ion 7,2V thì khoảng tuyến tính của
chì từ 0 - 8ppb. Từ đó xác định được hàm lượng chì trong máu của 29 người
Để kích thích phổ nguyên tử tự do người ta thường dùng một số nguồn
năng lượng như: ngọn lửa đèn khí, tia lửa điện, hồ quang điện, plasma cao tần
cảm ứng (ICP), tia X, tia laze. Trong đó tia laze và ICP mới được sử dụng hơn
chục năm lại đây nhưng đã trở thành nguồn năng lượng được sử dụng phổ
biến, rộng rãi.
Phương pháp AES đạt độ nhạy cao, có thể phân tích đồng thời nhiều
nguyên tố trong cùng một mẫu và tốn ít mẫu nên nó được sử dụng để kiểm tra
đánh giá hoá chất, nguyên liệu tinh khiết, phân tích lượng vết ion kim loại độc
trong nước, lương thực, thực phẩm. Tuy nhiên phương pháp này chỉ cho biết
thành phần nguyên tố trong mẫu mà không chỉ ra được trạng thái liên kết của
nó trong mẫu và độ chính xác của phép phân tích phụ thuộc rất nhiều vào
nồng độ chính xác của dãy mẫu chuẩn nên gây sai số lớn [15].
Nguyễn Nhật Quang đã sử dụng phương pháp ICP-AES để xác hàm
lượng kim loại nặng trong nước và nước thải, bằng phương pháp này cho giới
hạn phát hiện là 40 g/lít, kết quả nghiên cứu mẫu nước thải ở Sông Tô Lịch
khu vực Cầu Giấy - Hà Nội cho thấy hàm lượng chì ở khu vực này là
0,65mg/lít cao gấp 13 lần giới hạn cho phép của TCVN 5945:1995 do lượng
chì thải ra từ các nhà máy cơ khí, sản xuất pin của các khu công nghiệp hoặc
18
trên sông Lừ mặc dù mức độ ô nhiễm cũng út nghiêm trọng sông Tô Lịch
nhưng nồng độ chì cũng nằm trong khoảng 2,253,2 mg/lít gấp từ 5 – 6 lần
nồng độ cho phép [17].
1.3.4.4. Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS
Trong điều kiện bình thường, nguyên tử không thu và phát ra năng
lượng dưới dạng bức xạ, nó ở trạng thái cơ bản và bền vững. Nhưng khi
nguyên tử ở trạng thái hơi tự do nếu ta chiếu một chùm sáng có bước sóng
xác định vào đám hơi nguyên tử đó thì các nguyên tử này sẽ hấp thu các bức
xạ có bước sóng nhất định ứng đúng với các tia bức xạ mà nó có thể phát ra
trong quá trình phát xạ. Quá trình đó gọi là quá trình hấp thụ năng lượng của