nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích quang học để đánh giá khả năng hấp phụ một số ion kim loại nặng của vỏ trấu biến tính - Pdf 24

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

TRƢƠNG ĐẮC CHÍ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
QUANG HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HẤP PHỤ MỘT SỐ
ION KIM LOẠI NẶNG CỦA VỎ TRẤU BIẾN TÍNH

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
QUANG HỌC ĐỂ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HẤP PHỤ MỘT SỐ
ION KIM LOẠI NẶNG CỦA VỎ TRẤU BIẾN TÍNH
Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 60 44 29

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TRUNG
Hà Nội - 2012
3 MỤC LỤC

Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Xác định các đặc trƣng của vật liệu vỏ trấu biến tính 22
3.1.1. Khảo sát các thông số vật lí của vỏ trấu biến tính 22
3.2. Khảo sát các điều kiện đo phổ trên máy AAS-680 24
3.2.1. Khảo sát chọn vạch đo phổ 24
3.2.2. Khảo sát cường độ dòng đèn catot rỗng (HCL) 26
3.2.3 Khảo sát độ rộng khe đo 26
3.2.4. Khảo sát chiều cao của đèn nguyên tử hoá mẫu 27
3.2.5. Khảo sát tốc độ dẫn khí axetilen 28
3.2.6. Khảo sát ảnh hưởng của các loại axit và nồng độ axit 29
3.2.7. Khảo sát chất cải biến nền 30
3.3. Khảo sát khoảng tuyến tính và dựng đƣờng chuẩn xác định các kim
loại: kẽm; đồng; cadimi và chì 32
3.3.1. Khảo sát xác định khoảng tuyến tính của Zn; Cu; Cd và Pb 32
3.3.2. Xây dựng đường chuẩn, xác định giới hạn phát hiện(LOD)
và giới hạn định lượng( LOQ) của các kim loại 35
3.4. Khảo sát quá trình hấp phụ các ion kim loại (Zn
2+
; Cu
2+
; Cd
2+
; Pb
2+
)
trên vật liệu theo phƣơng pháp tĩnh 40
3.4.1. Khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ các ion kim loại (Zn
2+
;

3.5.4. Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ nạp mẫu theo phương pháp động 59
3.5.5: Khảo sát chọn dung dịch rửa giải các ion kim loại 60
3.5.6: Khảo sát tốc độ rửa giải: 61
3.5.7: Khảo sát thể tích rửa giải 62
3.5.8. Tiến hành giải cột chiết 63
3.6. Khảo sát khả năng tái sử dụng vật liệu (VL1) 66
3.7. Phân tích mẫu giả: 67
3.8. Thử nghiệm xử lí mẫu thật 68

Kết luận 70
Tài liệu tham khảo 72
6

DANH MỤC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 1.1. Quy đinh giá trị nồng các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp 7
Bảng 1.2. Chỉ tiêu các chất trong nước sinh hoạt 8
Bảng 1.3. Thành phần các oxit trong vỏ trấu 16
Bảng 3.1: Kết quả khảo sát chọn vạch đo phổ của các kim loại 25
Bảng 3.2: Kết quả khảo sát cường độ dòng đèn HCL 26
Bảng 3.3. Kết quả khảo sát khe đo 27
Bảng 3.4: Kết quả khảo sát chiều cao đèn khí 28
Bảng 3.5 Kết quả khảo sát tốc độ dẫn khí 29
Bảng 3.6. Khảo sát ảnh hưởng của nền axít 30
Bảng 3.7. Khảo sát ảnh hưởng chất cải biến nền 31
Bảng 3.8. Tổng kết các điều kiên đo phổ 32
Bảng 3.9. Kết quả khảo sát khoảng tuyến tính của Zn 33
Bảng 3.10. Kết quả khảo sát khoảng tuyến tính của Cu 34
Bảng 3.11. Kết quả khảo sát khoảngtuyến tính của Cd 34
Bảng 3.12. Kết quả khảo sát khoảng tuyến tính của Pb 35

Hình 3.4: Bề mặt vật liệu sau khi biến tính 24
Hình 3.5. Đồ thị xác định khoảng tuyến tính của Zn 33
Hình 3.6. Đồ thị xác định khoảng tuyến tính của Cu 34
Hình 3.7. Đồ thị xác định khoảng tuyến tính của Cd 34
Hình 3.8. Đồ thị xác định khoảng tuyến tính của Pb 35
Hình 3.9. Đồ thị đường chuẩn của Zn
2+
36
Hình 3.10. Đồ thị đường chuẩn của Cu
2+
37
Hình 3.11. Đồ thị đường chuẩn của Cd
2+
38
Hình 3.12. Đồ thị đường chuẩn của Pb
2+
39
Hình 3.13. Đồ thị ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ ion kim loại Zn 43
Hình 3.14. Đồ thị ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ ion kim loại Cu 43
Hình 3.15. Đồ thị ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ ion kim loại Cd 44
Hình 3.16. Đồ thị ảnh hưởng của pH đến khả năng hấp phụ ion kim loại Pb 44
Hình 3.17. Đồ thị ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ ion
kim loại Zn 47
Hình 3.18. Đồ thị ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ ion
kim loại Cu 47
Hình 3.19. Đồ thị ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ ion
kim loại Cd 48
Hình 3.20. Đồ thị ảnh hưởng của thời gian đến khả năng hấp phụ ion
kim loại Pb 48
Hình 3.21. Đồ thi về dung lượng hấp phụ của vật liệu VL1 50


Đã có nhiều phương pháp khác nhau được nghiên cứu và áp dụng để tách loại
các kim loại nặng ra khỏi môi trường nước. Một trong các phương pháp đang được
nhiều người quan tâm hiện nay là tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp
như vỏ trấu, bã mía, vỏ lạc…làm vật liệu hấp phụ các ion kim loại. Phương pháp
này có ưu điểm là sử dụng nguồn nguyên liệu rẻ tiền, sẵn có và không đưa thêm vào
môi trường các tác nhân độc hại khác. Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng các vật
liệu trên để hấp phụ chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Trong các phụ phẩm trên thì phụ phẩm nông nghiệp có khối lượng lớn ở nước ta
là vỏ trấu. Hàng năm có khoảng 100 triệu tấn trấu được thải ra như phế thải nông
nghiệp, theo phân tích thì vỏ trấu có chứa 20% khối lượng là silic, chính vì vậy
11

không quá ngạc nhiên khi đã có rất nhiều công trình tập trung vào việc nghiên cứu
tổng hợp vật liệu hấp phụ sử dụng nguyên liệu từ vỏ trấu để tách, loại các kim loại
nặng ra khỏi nguồn nước thải.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “ Nghiên cứu ứng dụng
phương pháp phân tích quang học để đánh giá khả năng hấp phụ một số ion kim
loại nặng của vỏ trấu biến tính”
12

Chƣơng 1: TỔNG QUAN

1.1. Sơ lƣợc về một số kim loại nặng
1.1.1. Giới thiệu chung.
Kim loại có mặt ở hầu hết các đối tượng trong tự nhiên, tùy thuộc vào bản
chất của mỗi kim loại mà sự phân bố cũng như các dạng tồn tại và tác động của
chúng cũng khác nhau. Các kim loại nói chung và kim loại nặng nói riêng đều có
vai trò nhất định trong cuộc sống .[20]

3
); anglesit
(PbSO
4
) và pyromophit (Pb
5
Cl(PO
4
)
3
).
Cadimi (Cd) là kim loại thuộc nhóm II
B
được tìm thấy vào năm 1817, là kim
loại màu trắng bạc, mềm, dễ dát mỏng và dễ mất ánh kim trong môi trường không
khí ẩm do tạo màng oxit. Trữ lượng của cadimi trong vỏ Trái đất là 7,6.10
-6
so với
tổng số nguyên tử. Khoáng vật chính của cadimi là grenokit (CdS), khoáng vật này
13

ít tồn tại một mình mà thường tồn tại cùng các khoáng vật của kẽm và của thủy
ngân là xinaba hay thần sa (HgS) [43].
Cadimi và hợp chất của nó được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như: công
nghiệp mạ, công nghiệp chất dẻo hay gốm sứ… cadimi phốt phát dùng làm trong vô
tuyến, đèn huỳnh quang, màn chắn tia X và ống phát tia catôt…
Kẽm là một nguyên tố kim loại lưỡng tính, được kí hiệu là Zn và số nguyên
tử là 30. Kẽm là nguyên tố phổ biến thứ 24 trong lớp vỏ Trái Đất và có 5 đồng vị
bền. Quặng kẽm được khai thác nhiều nhất là sphalerit , và sunfua kẽm.
Kẽm là một chất khoáng thiết yếu cho sinh vật. Thiếu kẽm ảnh hưởng đến

1,0mg/ngày có thể dẫn đến tử vong.[1;43]
Chì đặc biệt độc hại đối với não, thận, hệ thống sinh sản và hệ thông tim
mạch. Nhiễm độc chì sẽ dẫn tới những ảnh hưởng có hại tới chức năng của trí óc,
gây vô sinh, xẩy thai và tăng huyết áp. Khi hàm lượng chì trong máu khoảng
0,3ppm thì sẽ ngăn cản quá trình sử dụng oxi, còn từ 0,5-0,8ppm sẽ gây ra sự rối
loạn chức năng của thận và ảnh hưởng đến não.[34]
Với vai trò làm chất chống kháng nổ, trước đây hợp chất Ankyl –chì đã được
cho vào xăng nhưng do độc tính cao của chì mà ngay nay người ta không dùng xăng
pha chì.

1.1.2.3. Tính chất độc hại của cadimi.

Cadimi là nguyên tố rất độc, năm 1972 Ủy ban Hỗn hợp FAO- OMS đã ấn
định liều lượng hàng tuần được chấp nhận tạm thời đối với người lớn là: 400-
15

500µg. Khả năng tích lũy cadimi trong cơ thể rất lớn, điều này chứng tỏ cadimi gây
độc từ từ và đến khi đủ giới hạn thì phát bệnh.[16]
Những thí nghiệm nghiên cứu trên động vật cho thấy tính độc hại của cadimi
ngay ở hàm lượng rất nhỏ. Khi trẻ bị nhiễm cadimi sẽ chậm phát triển, ngoài ra
nhiễm độc cadimi cũng làm giảm sức đề kháng của hệ miễn dịch và giảm trí thông
minh của trẻ. Với liều lượng cao cadimi sẽ gây bệnh thận và huyết áp. Đặc biệt khi
đã vào cơ thể cadimi lại có tính tích lũy cao và bị đào thải chậm.Nhiễm độc cadimi
gây nên chứng bệnh giòn xương, ở nồng độ cao cadimi gây đau thận, thiếu máu và
phá hủy xương, gây ung thư.[31;32]
Cadimi có thể xâm nhập vào cơ thể bằng nhiều cách khác nhau, chẳng hạn
như tiếp xúc với bụi cadimi, ăn thức ăn và nước uống cadimi… Với liều lượng
30mg cadimi cũng đủ dẫn đến tử vong đối với người.

1.1.2.4. Tính chất độc hại của kẽm.

C
1
Chì
mg/l
0.1
0.5
1.0
2
Cadimi
mg/l
0.005
0.010
0.500
3
Đồng
mg/l
2.0
2.0
5.0
4
Kẽm
mg/l
3.0
3.0
5.0

Nước thải công nghiệp có giá trị các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm
bằng hoặc nhỏ hơn giá trị qui định trong cột A có thể đổ vào các vực nước thường
được dùng làm nguồn nước cho mục đích sinh hoạt. Nước thải công nghiệp có giá
trị các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm lớn hơn giá trị qui định trong cột A

Phương pháp này dựa trên nguyên tắc là độ tan của kim loại trong dung dịch
phụ thuộc vào pH. Ở một giá trị pH nhất định của dung dịch nồng độ ion kim loại
vượt quá nồng độ bão hòa thì sẽ xảy ra hiện tượng kết tủa.
Trong công nghiệp hiện nay, để xử lý các kim loại nặng phương pháp chủ
yếu vẫn là phương pháp kết tủa đặc biệt là các nhà máy mạ điện, thuộc da … các
chất thường được dùng làm chất kết tủa là NaOH, CaO. Trong đó vôi vẫn thường
được dùng nhiều hơn cả vì nguyên liệu này rẻ tiền và rất dễ thu hồi bằng cách lọc
hoặc sa lắng.[7;12]
Hiện nay, để xử lý nước thải bằng phương pháp kết tủa một cách có hiệu quả
kinh tế nhất người ta thường dùng CaO (hay vôi sữa)

1.2.2. Phương pháp keo tụ.

Phương pháp keo tụ dựa trên sự trung hòa điện tích các hạt keo. Các hạt keo
khi kết tủa, nó kéo theo những hạt bông lơ lửng và các kim loại nặng trong nước kết
tủa theo. Bằng phương pháp này ngoài việc tách bỏ kim loại nặng người ta còn loại
bỏ được những hạt keo không thể loại bỏ được bằng những phương pháp thông
thường. Người ta đã nghiên cứu, sử dụng phèn nhôm, muối sắt, các chất đông tụ
PAC [15] nhằm loại bỏ một số ion kim loại nặng như Pb
2+
, Cd
2+
, Zn
2+
, Ni
2+
, Co
2+
,
Cu

= 2Al(OH)
3
+ 3 CaSO
4

Al
2
(SO
4
)
3
+ 3Na
2
CO
3
+ 2H
2
O = 2Al(OH)
3
+ 3Na
2
SO
4
+ CO
2

Các ion kim loại sẽ đông tụ tốt nhất ở pH = 4 đến 6
1.2.3. Phương pháp trao đổi ion.
Khi cho dung dịch chứa ion kim loại nặng tiếp xúc với chất hấp phụ trao đổi
ion sẽ xảy ra quá trình trao đổi ion. Một số nhựa dùng cho phương pháp trao đổi ion

hút các chất khí hay chất tan trong pha lỏng lên bề mặt. Khả năng hấp phụ của mỗi
chất tùy thuộc vào bản chất, điện tích, bề mặt riêng của chất hấp phụ, nhiệt độ, pH
và bản chất của chất tan. Quá trình tích lũy vật chất lên bề mặt chất hấp phụ gọi là
quá trình chất bị hấp phụ, ngược với quá trình hấp phụ là quá trình giải hấp (đó là
quá trình giải phóng chất bị hấp phụ khỏi lớp bề mặt chất hấp phụ)[42]
19

Tùy theo bản chất của lực tương tác giữa chất hấp phụ và chất bị hấp phụ mà
ta chia thành hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học.[8]
+ Hấp phụ vật lý được gây ra bởi lực tương tác Van Der Walls giữa các phân
tử chất hấp phụ và các phân tử chất bị hấp phụ. Liên kết trong hấp phụ vật lý
thường rất yếu và dễ bị phá vỡ.
+ Hấp phụ hóa học được tạo nên do ái lực (liên kết) hóa học giữa chất hấp
phụ và chất bị hấp phụ. Liên kết trong hấp phụ hóa học bền, khó bị phá vỡ hơn hấp
phụ vật lý.
Hấp phụ hóa học được coi là trung gian giữa hấp phụ vật lý và phản ứng hóa
học. Để phân biệt hấp phụ vật lý và hấp phụ hóa học người ta đưa ra một số tiêu
chuẩn sau:
+ Nhiệt hấp phụ: Đối với hấp phụ vật lý, lượng nhiệt tỏa ra là từ 2 -6
kcal/mol; còn đối với hấp phụ hóa học, lượng nhiệt thường lớn hơn 22kcal/mol.
Nên hấp phụ vật lý thường xảy ra ở nhiệt độ thấp còn hấp phụ hóa học có thể xảy ra
ở nhiệt độ cao hơn.
+ Tốc độ hấp phụ: Hấp phụ vật lý không đòi hỏi sự hoạt hóa phân tử do đó
xảy ra nhanh, ngược lại hấp phụ hóa học xảy ra chậm hơn.
+ Tính đặc thù: Hấp phụ vật lý ít phụ thuộc vào bản chất hóa học, còn hấp
phụ hóa học đòi hỏi phải có ái lực hóa học do đó hấp phụ hóa học mang tính đặc
thù rõ rệt.
Quá trình hấp phụ các chất tan trong dung dịch lên bề mặt chất hấp phụ bị
ảnh hưởng bởi các yếu tố sau.
+ Ảnh hưởng của dung môi: Hấp phụ trong dung dịch là hấp phụ cạnh tranh,

điểm so với các chất hấp thụ khác và các phương pháp khác như:
- Giá thành rẻ tiền, dễ kiếm như: than tro bay, than nâu, than hoạt tính, đất sét,
mùn cưa, vỏ tôm, cua, bã mía, xơ dừa, vỏ trấu, vỏ lạc…
21

- Khả năng hấp phụ các kim loại nặng cao, có khả năng tái sử dụng, không để
lại sản phẩm phụ có hại cho môi trường.
- Có thể ứng dụng vào thực tiễn. Bởi vì trong công nghệ tính đơn giản, ổn định,
giá thành và hiệu quả là quan trọng hơn cả.
Nhìn chung, các vật liệu trên ít khi được sử dụng trực tiếp làm vật liệu hấp
phụ mà thường phải qua một quá trình biến đổi hóa lý nào đó, nhằm tạo bề mặt có
khả năng hấp phụ tốt. Các tác nhân dùng để biến tính các vật liệu đó thường là các
axit như: HNO
3
; H
2
SO
4
[9]; các chất oxi hóa như: H
2
O
2
, H
2
S
2
O
8
hoặc các axit hữu
cơ[13; 37].

hoạt tính chế tạo từ xơ dừa để hấp phụ Hg
2+
với dung lượng hấp phụ khá cao tới
15mgHg/1g vật liệu.
Tác giả Nguyễn Thy Phương đã sử dụng axit nitric làm tác nhân oxi hóa than
sọ dừa Việt Nam để hấp phụ các ion kim loại Ni
2+
; Cu
2+
; Zn
2+
; Cr
3+
[9].
Còn vật liệu chế tạo từ tro của vỏ trấu đã được tác giả Qingge Feng và cộng
sự sử dụng để hấp phụ các ion kim loại Hg
2+
; Pb
2+
[41] với dung lượng lần lượt là
3,05mg/g và 9,86mg/g. Tác giả Moreno Castilla [37] đã sử dụng K
2
S
2
O
8
làm tác
22

nhận oxi hóa than hoạt tính để hấp phụ các kim loại nặng tốt hơn hẳn vật liệu ban

Với đặc điểm về địa lý kinh tế, khí hậu ở nước ta phù hợp cho phát triển ngành
công nghiệp nuôi trồng, chế biến thuỷ sản. Trữ lượng chitin vô cùng phong phú và
đa dạng. Từ đó có thể điều chế tổng hợp một lượng lớn Chitosan để sử dụng vào xử
lý môi trường.
23

Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã sử dụng Chitosan cho quá trình xử lý
nước thải của nghành công nghiệp dệt nhuộm, mạ điện, thuộc da vv
Ruey-Shin juang, Ruey-Chang Shiau [44] đã sử dụng chitosan dạng màng để
loại bỏ các ion kim loại Cr, Cu, Co, Ni ra khỏi dung dịch. Kết quả cho thấy khả
năng loại Cu đạt hiệu quả cao hơn so với các kim loại khác. Tuy nhiên việc loại các
kim loại khác trong môi trường axit (pH < 6) cũng có thể đạt hiệu quả cao nếu ta
đưa thêm vào dung dịch một lượng chitosan gấp 6 đến 10 lần lượng ban đầu.
Tác giả Nguyễn Xuân Trung và cộng sự [18] cũng đã nghiên cứu khả năng
hấp phụ một số ion kim loại nặng độc hại trên chitosan biến tính và dùng vật liệu
này để xử lí kim loại nặng trong một số nguồn nước.
Nhược điểm lớn nhất khi sử dụng Chitosan làm chất hấp phụ là tính dễ tan
trong dung dịch axit loãng, đặc biệt là axit hữu cơ như axit axetic. Do đó, trong
nhiều trường hợp người ta đã biến đổi nó để làm tăng độ bền trong các môi trường
khác nhau, hoặc bằng cách biến tính Chitosan tạo ra loại vật liệu hỗn hợp nhằm tạo
khả năng hấp phụ các kim loại nặng cao để ứng dụng trong vịêc xử lý môi trường.
1.3.1.4. Bã mía.
Bã mía được coi là một nguồn nguyên liệu dồi dào, rẻ tiền đối với quá trình
xử lý kim loại nặng có trong nước. Bên cạnh khả năng tách loại kim loại nặng, bã
mía còn thể hiện khả năng hấp phụ tốt đối với dầu.
Bã mía sau khi xử lý bằng axit xitric được tác giả Lê Hữu Thiềng, Phạm Thị
Sang [14] ứng dụng làm vật liệu hấp phụ để tách loại Pb
2+
từ dung dịch nước. Kết
quả cho thấy, khả năng hấp phụ tốt ở pH = 6, thời gian đạt cân bằng hấp phụ 90

1.3.1.7. Khoáng tự nhiên Zeolite
Zeolite là những tinh thể aluminosilicat của kim loại kiềm và kiềm thổ, có
cấu trúc tứ diện và được nối với nhau bởi các nguyên tử oxi ở các đỉnh tứ diện [13].
Trong tự nhiên có khoảng 40 loại zeolite khác nhau, loại khoáng vật này đã được
nghiên cứu từ những năm 70 của thế kỷ trước, hiện nay các nhà khoa học đã tổng
hợp các zeolite nhân tạo để sử dụng trong hấp phụ, lọc và xúc tác. Dung lượng hấp
phụ của zeolite thường không cao nhưng giá thành rẻ nên vẫn được sử dụng nhiều.
1.3.2. Giới thiệu về vật liệu vỏ trấu.
Trấu là lớp vỏ ngoài cùng của hạt lúa và được tách ra trong quá trình xay xát
[24]. Ở Việt Nam, vỏ trấu có rất nhiều tại Đồng bằng Sông Cửu Long và Đồng bằng
Sông Hồng, 2 vùng trồng lúa lớn nhất cả nước. Chúng thường không được sử dụng
hết nên phải đem đốt hoặc đổ xuống sông suối để tiêu hủy. Theo khảo sát, lượng vỏ
25

trấu thải ra tại Đồng bằng Sông Cửu Long khoảng hơn 3 triệu tấn/năm, nhưng chỉ
khoảng 10% trong số đó được sử dụng.
Trong vỏ trấu chứa khoảng 75% chất hữu cơ dễ bay hơi sẽ cháy trong quá
trình đốt và khoảng 25% còn lại chuyển thành tro. Chất hữu cơ chứa chủ yếu
cellulose, lignin và Hemi - cellulose (chiếm 90%), ngoài ra còn có thêm thành phần
khác như hợp chất nitơ và vô cơ (chiếm 10%). Thành phần các oxit chủ yếu trong
tro vỏ trấu như sau [26]
Bảng 1.3. Thành phần các oxit trong tro vỏ trấu
Hợp chất
SiO
2
Fe
2
O
3
CaO

Ngoài ra vỏ trấu còn có nhiều ứng dụng khác như: Ứng dụng vỏ trấu để sản
xuất gas sinh học (khí hóa trấu). Vỏ trấu còn có thể làm nguyên liệu xây dựng sạch
.Tập đoàn Torftech của Anh cho biết, sau khi đốt mỗi tấn vỏ trấu sẽ tạo ra 180 kg
tro, có giá trị là 100USD, có thể sử dụng làm phụ gia cho xi măng và có thể thay thế
trực tiếp SiO
2
trong xi măng, vỏ trấu còn có thể dùng làm thiết bị cách nhiệt, làm

Trích đoạn Thử nghiệm xử lớ mẫu thật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status